Một số giải pháp giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ 4-5 tuổi trong trường mầm non Trung Sơn

docx54 trang | Chia sẻ: Thảo Hoa | Ngày: 03/02/2026 | Lượt xem: 24 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang mẫu tài liệu Một số giải pháp giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ 4-5 tuổi trong trường mầm non Trung Sơn, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
SKKN: Một số giải pháp giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ 4 - 5 tuổi trong trường mầm non Trung Sơn PHẦN I: MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Như chúng ta đã biết, trong những năm gần đây ý thức bảo vệ môi trường của con người xuống cấp, con người huỷ hoại môi trường (chặt phá rừng bừa bãi, rác thải lớn mà chưa có sự quản lý giám sát chặt chẽ, nhà máy công nghiệp nhiều, ) khiến cho môi trường bị ô nhiễm, thời tiết khắc nghiệt, thiên tai đe doạ thường xuyên ảnh hưởng lớn đến cuộc sống, sinh hoạt, sức khoẻ của con người, loài người đang đứng trước những thách thức vô cùng to lớn của tự nhiên, như: lạm phát tài nguyên, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường không khí, môi trường nước, ô nhiễm môi trường đất . Tất cả những vấn nạn này là do đâu? Có lẽ câu trả lời tất cả chúng ta đều biết: Nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng này là do sự thiếu hiểu biết, thiếu ý thức của con người. Vậy chúng ta cần làm gì để cứu chính môi trường sống của chúng ta? Theo tôi, bảo vệ môi trường là nhiệm vụ cấp bách, mà trách nhiệm không chỉ của riêng ai! Ngày nay, giáo dục bảo vệ môi trường đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng trong việc đào tạo thế hệ trẻ ở các trường học và được quan tâm ngay từ bậc học đầu tiên: Giáo dục mầm non. Trước tình hình thực tế chung của toàn xã hội, của trường, của lớp và của trẻ mầm non, trẻ có hành vi, thái độ tham gia bảo vệ môi trường còn ít, không thường xuyên. Ví dụ: Trẻ ăn bim bim, kẹo bánh sẵn sàng cầm ngay vỏ vứt xuống sân trường hay một nơi nào đó mà không vứt vào thùng rác; Trước và sau khi ăn trẻ chưa có ý thức rửa tay; sử dụng nước chưa biết tiết kiệm . Từ ví dụ trên ta thấy trẻ chưa có ý thức bảo vệ môi trường xung quanh do trẻ chưa được giáo dục thường xuyên và đúng phương pháp, trẻ chưa hiểu được hành vi vứt rác bừa bãi ra sân trường là mất vệ sinh ảnh hưởng đến sức khoẻ của trẻ và người khác, đặc biệt là ảnh hưởng đến môi trường sống của cả khu vực nói riêng và nhân loại nói chung. Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non là quá trình giáo dục có mục đích nhằm phát triển ở trẻ những hiểu biết sơ đẳng về môi trường, có sự quan tâm đến vấn đề môi trường phù hợp với lứa tuổi được thể hiện qua kiến thức, thái độ, hành vi của trẻ đối với môi trường xung quanh, đồng thời cung cấp cho trẻ những kiến thức sơ đẳng về môi trường phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ, từ đó tạo ra thái độ, hành vi đúng đắn với môi trường xung quanh. Do đó việc giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ là rất cần thiết và rất quan trọng, giúp trẻ nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh cá nhân sạch sẽ ngay từ lứa tuổi mầm non. Bản thân là giáo viên mầm non, tôi rất băn khoăn, trăn trở bởi tôi thấy rằng việc giáo viên đưa nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào các hoạt động của trẻ còn gò bó chưa linh hoạt, chưa sáng tạo và đạt hiệu quả cao. Giáo viên còn chưa chú trọng tới việc lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Đối với trẻ thì còn nhiều trẻ chưa có ý thức trong việc bảo vệ môi trường như vứt rác chưa đúng quy định, hái hoa bẻ cành, chưa có thói quen bảo vệ môi trường ... ; Tôi luôn đặt câu hỏi làm thế nào để đưa nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào công tác giáo dục trẻ mầm non - thế hệ tương lai của đất nước? Để từ đó nâng cao chất lượng giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non nói chung, đặc biệt là giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo nhỡ nói riêng. Chính vì lý do đó tôi đã quyết định chọn và thực hiện đề tài: “Một số giải pháp giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ 4 - 5 tuổi trong trường mầm non”. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI Bản thân tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích làm rõ vấn đề thực trạng hành vi bảo vệ môi trường của trẻ 4 - 5 tuổi trong trường mầm non, từ đó đề xuất một số biện pháp giáo dục trẻ nâng cao ý thức và thay đổi hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ 4 - 5 tuổi trong trường mầm non, giúp trẻ được sống trong một môi trường xanh - sạch - đẹp, phát triển toàn diện về thể lực, ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm xã hội và tư duy. Đồng thời, sáng kiến này cũng là một biện pháp tuyên truyền tới cha mẹ học sinh và cộng đồng nhận thức đúng về vai trò, nhiệm vụ và tầm quan trọng của bảo vệ môi trường trong gia đình, trong trường mầm non nói riêng và toàn xã hội nói chung. Từ đó góp phần nâng cao các nội dung, hình thức, hành vi bảo vệ môi trường, lồng ghép vào các hoạt động học thực hành bảo vệ môi trường cho trẻ ở trường mầm non cũng như trong cuộc sống. III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng nghiên cứu: Một số giải pháp giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ 4 - 5 tuổi trong trường mầm non. 2. Phạm vi nghiên cứu: Trẻ lớp mẫu giáo 4 - 5 tuổi B1 Trường mầm non Trung Sơn, thời gian nghiên cứu từ tháng 9 năm 2019 - tháng 5 năm 2020 IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Việc nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn việc giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ 4 - 5 tuổi trong trường mầm non, đề xuất một số biện pháp giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ 4 - 5 tuổi trong trường mầm non để đưa vào thực nghiệm, nhằm đảm bảo các yêu cầu sau: Tạo cơ hội cho trẻ tiếp cận với môi trường, với các thành phần cơ bản của nó thông qua các phương tiện giáo dục ở trường mầm non . Giúp trẻ khám phá môi trường xung quanh, dựa trên khả năng kinh nghiệm của trẻ và đặc điểm riêng của mỗi trẻ . Tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm trong môi trường thông qua các hoạt động đa dạng ở trường mầm non. Tạo cơ hội cho trẻ được chia sẻ hiểu biết, suy nghĩ, xúc cảm, tình cảm với bạn và những người xung quanh về các vấn đề môi trường và việc bảo vệ môi trường. Sử dụng các hoạt động đa dạng ở trường mầm non để rèn luyện kĩ năng, hành vi thói quen bảo vệ môi trường cho trẻ. V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU a. Phương pháp nghiên cứu: Phân tích, tổng hợp tài liệu Internet, tập san, sách báo có liên quan đến đề tài. b. Phương pháp điều tra giáo dục. c. Phương pháp quan sát sư phạm. d. Phương pháp thực hành, thực nghiệm sư phạm. e. Phương pháp điều tra, khảo sát học sinh. VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI Giúp cho giáo viên có kiến thức về môi trường, ô nhiễm môi trường. Có ý thức làm gương trước trẻ, kiên trì rèn những nề nếp, thói quen tốt cho trẻ trong việc bảo vệ môi trường, giáo dục cho trẻ biết yêu quí, gần gũi với môi trường, mỗi giáo viên còn phải là một tuyên truyền viên về giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường, các bậc phụ huynh và cộng đồng. Hình thành cho trẻ kỹ năng thói quen tốt như; Sắp xếp đồ dùng đồ chơi ngăn nắp gọn gàng, biết bỏ rác đúng nơi qui định, biết chăm sóc bảo vệ cây cối, vật nuôi Giúp cho trẻ yêu thích, gần gũi với thiên nhiên, có ý thức bảo vệ môi trường, có phản ứng đối với các hành vi ảnh hưởng xấu đến môi trường như vứt rác, dẫm đạp lên cỏ cây, hái hoa, khạc nhổ bừa bãi nơi công cộng Giúp cho các bậc cha mẹ và cộng đồng có hiểu biết cơ bản về môi trường, về bảo vệ môi trường, tích cực tham gia các hoạt động xây dựng môi trường “Xanh- sạch- đẹp, an toàn” cho trẻ ở mọi nơi, làm gương cho trẻ, cùng với giáo viên rèn nề nếp tốt cho trẻ, giáo dục trẻ bảo vệ môi trường. PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA GIÁO DỤC HÀNH VI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO TRẺ 4 – 5 TUỔI TRONG TRƯỜNG MẦM NON 1. Cơ sở lý luận : Môi trường là nhân tố quan trọng và có tác động trực tiếp đến đời sống xã hội. “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” (Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường, 2005). Môi trường có vai trò quan trọng đối với sự sống và chất lượng cuộc sống của con người, cũng như đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Vì vậy, trong suốt quá trình phát triển, con người không chỉ khai thác, chế ngự tự nhiên, mà còn phải giữ gìn và bảo vệ môi trường tự nhiên, tạo lập môi trường nhân tạo phù hợp nhằm xậy dựng một cuộc sống tốt đẹp cho thế hệ hôm nay và ngày mai. Trong việc bảo vệ được nhận thức đúng đắn về việc khai thác, sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên và có ý thức trong bảo vệ môi trường. Bảo vệ môi trường là một hoạt động xuất phát từ ý thức của mỗi con người, mỗi thế hệ. Tuy nhiên để việc bảo vệ môi trường ăn sâu vào từng hành động, vào cuộc sống của mỗi con người là cả một quá trình giáo dục, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay. Chính vì vậy giáo dục bảo vệ môi trường phải được bắt nguồn từ giáo dục đạo đức và ý thức cho mỗi con người ngay từ độ tuổi mầm non. Giáo dục hành vi bảo vệ môi trường được coi là biện pháp có hiệu quả cao vì nó giúp con người có ý thức và thay đổi hành vi bảo vệ mội trường sống. Việc giáo dục hành vi và ý thức đối với môi trường sống là một yêu cầu bức thiết, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của con người và toàn bộ hệ động thực vật trên trái đất. Vai trò vô cùng quan trọng của vấn đề môi trường không chỉ dừng ở một con người, một khu vực, một đất nước, mà là vấn đề của toàn thế giới. Từ đầu thế kỷ XIX, vấn đề môi trường đã được toàn thể giới đưa lên hàng đầu với những đạo luật, quy định về môi trường như: Luật cấm gây ô nhiễm nước sông ở Anh năm 1876, Luật khoáng nghiệp, Luật khói than ở Mỹ năm 1896 . Năm 1972, trong tuyên bố của Hội nghị Liên Hiệp Quốc về “Môi trường và con người” họp tại Stockholm đã nêu “Việc giáo dục môi trường cho thế hệ trẻ cũng như người lớn làm sao để học có được đạo đức, trách nhiệm trong việc bảo vệ và cải thiện môi trường”. Cùng chung tay trên con đường bảo vệ môi trường của toàn thế giới, Bộ chính trị của Việt Nam cũng đưa ra các chỉ thị về bảo vệ môi trường như: “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” nhằm đưa ra thông điệp “Thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và phong trào quần chúng bảo vệ môi trường” và “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào chương trình giáo dục của tất cả các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân”. Từ đó vấn đề môi trường được đưa vào Luật bảo vệ môi trường ngày 29/11/2005 và Luật có hiệu lực ngày 01/7/2006 của Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho tới nay. 2. Cơ sở thực tiễn: * Bước vào thế kỷ XXI, loài người đang đứng trước những thách thức vô cùng to lớn của tự nhiên như: Lạm phát tài nguyên, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường không khí, môi trường đất, nước, . Ô nhiễm đất: do sinh chất thải sinh hoạt (xả rác bừa bãi, sử dụng túi nilong không thể phân hủy); do chất thải công nghiệp (khai thác mỏ, xây dựng, giao thông); do các hoạt động nông nghiệp (sản xuất chăn nuôi không hợp vệ sinh, dùng phân tươi bón cây, sử dụng hóa chất, thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu quá mức cho phép); Ô nhiễm môi trường nước: có nguồn gốc tự nhiên (do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt ); có nguồn gốc nhân tạo (do quá trình thải các chất độc hại chưa qua xử lí đúng mức vào môi trường, như: các chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, nông nghiệp, giao thông); Ngoài ra còn ô nhiễm ánh sáng, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm thực phẩm.... Nguyên nhân ô nhiễm môi trường sống cũng chính là do con người gây ra. * Ý thức của con người đối với môi trường. Môi trường sống đang là sự quan tâm mang tính toàn cầu. Ô nhiễm môi trường và những tác hại của nó đối với cuộc sống ngày càng nặng nề, bảo vệ môi trường xanh - sạch - đẹp là nhiệm vụ của tất cả mọi người. Trước hết phải giữ gìn môi trường sống xung quanh sạch sẽ, không vứt rác ra đường, ra nói công cộng. Điều này nhỏ nhưng không phải dễ đối với tất cả mọi người, phải luyện thành ý thức tự giác thường xuyên. Có thể nói, nguyên nhân chính của tình trạng mất vệ sinh môi trường là ý thức của người dân. Chính vì ý thức kém nên việc tùy tiện vứt rác thải ra đường phố, các khu vực công cộng còn rất phổ biến. Nhiều nơi có thùng rác nhưng lại không vứt rác vào thùng, mà vứt xung quanh thùng rác . Vứt rác bừa bãi ngay trên đường Vứt rác xung quanh thùng rác Rác thải trên bãi biển Ngồi trên ô tô xả rác xuống đường. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT HÀNH VI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ GIÁO DỤC HÀNH VI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG TRƯỜNG MẦM NON. Thực trạng hành vi bảo vệ môi trường của trẻ: Trẻ chưa có ý thức với những hành vi cá nhân, chưa thực sự hiểu sâu sắc những hành vi chưa tốt, chưa văn minh và có ảnh hưởng tới môi trường sống. Ví dụ: Trẻ ăn bim bim rồi vứt luôn túi rác xuống đất, ăn bánh kẹo vứt vỏ lung tung, không đúng nơi quy định, .; Trẻ chỉ thực hiện các hành vi bảo vệ môi trường một cách thụ động, do bị bắt buộc chứ không có tính tự nguyện, thực hiện khi được nhắc nhở chứ không bắt nguồn từ ý thức; Trẻ thực hiện hành vi bắt chước chứ chưa thực sự hiểu bản chất, ý nghĩa của hành vi mình đang thực hiện. Thực trạng giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ trong trường mầm non: Giáo dục các hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ chưa thực sự có kế hoạch, có mục tiêu, giáo dục còn hời hợt, hình thức, chưa có lôgic, chưa có phân đoạn cụ thể, hợp lý. Các hoạt động giáo dục hành vi bảo vệ môi trường nhỏ lẻ, dời dạc nên tác dụng giáo dục chưa cao, chưa đi sâu vào ý thức của trẻ. Các nội dung giáo dục hành vi bảo vệ môi trường đưa vào giáo dục trẻ từng độ tuổi còn chưa phù hợp. Hình thức giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ còn chưa phong phú, chưa mang tính kích thích, thúc đẩy các hành vi tốt của trẻ tới môi trường xung quanh một cách tự nguyện. Có thể thấy “Giáo dục hành vi bảo vệ môi trường ” là một quá trình phát triển ở người học sự hiểu biết và quan tâm đến những vấn đề môi trường bao gồm kiến thức, thái độ, hành vi, trách nhiệm để tự mình và cùng tập thể đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề môi trường trước mắt cũng như lâu dài. Để các hành vi bảo vệ môi trường ăn sâu và ý thức, thể hiện từ những hành vi nhỏ của con người thì việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường sống cần được làm từ rất sớm, ngay khi con người bắt đầu hình thành nhân cách, đó chính là lứa tuổi mầm non. Từ cơ sở trên, bản thân tôi càng quyết tâm thực hiện tìm tòi, nghiên cứu các biện pháp giáo dục trẻ mẫu giáo 4- 5 tuổi có ý thức và hành vi đúng bảo vệ môi trường trong trường học, trong gia đình cũng như môi trường sống xung quanh trẻ. 1. Thuận lợi. Nhận được sự quan tâm, hướng dẫn và chỉ đạo sát sao về chuyên môn của Phòng Giáo dục và đào tạoViệt Yên và sự quan tâm tạo điều kiện của Ban giám hiệu nhà trường, sự động viên và phối hợp nhiệt tình của đồng nghiệp và phụ huynh. Cơ sở vật chất của nhà trường, lớp học và các dụng cụ phục vụ các hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường được đầu tư đầy đủ. Trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi của trường ngoan ngoãn, có ý thức trong các hành vi bảo vệ môi trường, mạnh dạn, tự tin và tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường do lớp, trường tổ chức. Bản thân là một giáo viên với 12 năm kinh nghiệm, yêu nghề, mến trẻ, hết lòng vì sự nghiệp giáo dục, luôn nghiên cứu, tìm tòi các biện pháp chăm sóc, giáo dục trẻ, mong muốn trẻ được phát triển một cách toàn diện về đức - trí - thể - mĩ, đặc biệt là luôn khỏe mạnh và được sống trong một môi trường xanh - sạch - đẹp, môi trường tốt nhất cho sức khỏe của trẻ. 2. Khó khăn. Nhận thức của một số bộ phận nhỏ phụ huynh còn chưa đồng đều về kiến thức, ý thức và sự phối hợp trong công tác giáo dục trẻ tiếp xúc và có những hành vi đúng với môi trường. Trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi tuy rất nhanh nhẹn, thông minh, tuy nhiên lứa tuổi này trẻ chưa thực sự ý thức được ý nghĩa hành động của mình như: hay quên vặn nhỏ vòi nước khi rửa tay, đồ dùng chưa cất gọn gàng sau khi sử dụng, chưa để gọn gàng quần áo vào đúng ngăn ba lô như quy định, . do khả năng ghi nhớ có chủ định còn chưa thành phản xạ. * Số lượng điều tra trước khi trước khi thực hiện đề tài: Ý thức bảo vệ môi trường của trẻ: Số lượng học sinh của lớp: 35 trẻ + Tốt đạt: 10/35 = 28,5% + Khá đạt: 17/35 = 48,5% + TB đạt: 8/35 = 23% Chính từ những thuận lợi và khó khăn như trên, tôi càng quyết tâm tìm tòi, nghiên cứu các biện pháp “Giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ 4 - 5 tuổi trong trường mầm non”. CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO TRẺ 4 - 5 TUỔI TRONG TRƯỜNG MẦM NON. Từ những nghiên cứu các phương pháp giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ trong trường mầm non thông qua hoạt động tìm hiểu về môi trường xung quanh lứa tuổi 4 - 5 tuổi, tôi đã áp dụng và tổ chức các hoạt động tìm hiểu, khám phá, lồng ghép, tích hợp giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ một cách nhẹ nhàng, linh hoạt, phù hợp giúp trẻ lĩnh hội kiến thức một cách tự nhiên. Từ đó hình thành và nâng cao ý thức đối với các hành vi bảo vệ môi trường. Với mỗi hoạt động khám phá, giúp trẻ tìm hiểu sâu sắc về kiến thức cũng như những hành vi đúng đắn với môi trường, tôi thực hiện theo các bước sau: * Bước 1. Phân tích hoạt động trong kế hoạch giáo dục. * Bước 2. Xác định nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong hoạt động cụ thể * Bước 3. Cụ thể hóa nội dung giáo dục bảo vệ môi trường qua các hoạt động của trẻ trong trường mầm non. * Bước 4. Thực hành: Tùy thuộc vào nội dung thực hiện tiết học một cách phù hợp mà giáo viên áp dụng theo từng giai đoạn cho hợp lí từ khảo sát đến hình thành khái niệm và đưa vào ứng dụng. Việc giáo dục môi trường cho trẻ ở trường mầm non không nên tiến hành một cách độc lập mà được lồng ghép trong toàn bộ quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ, trong các hoạt động học tập, vui chơi, hoạt động ngoài trời, hoạt động tham quan, trong sinh hoạt hàng ngày, hoạt động lễ hội .. Việc giáo dục không phải chỉ trong một thời điểm, mà phải được giáo dục, trải nghiệm mọi lúc, mọi nơi một cách phù hợp. Giải pháp 1. Tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ. Trong chương trình giáo dục mầm non, nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ lứa tuổi mầm non được tích hợp trong từng chủ đề, từng hoạt động nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ. Căn cứ vào nội dung từng chủ đề giáo viên có thể lựa chọn nội dung giáo dục bảo vệ môi trường và sử dụng phương pháp thích hợp: Trò chuyện, quan sát, hoạt động thực tiễn, xử lý tình huống, để tổ chức cho trẻ thực hiện. * Một số hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường. Nội dung Tích hợp trong các hoạt động - Con người và môi trường sống: + Môi trường xung quanh: Trò chuyện với trẻ về trường mầm non, về môi trường gia đình; Phân biệt môi trường sạch, môi trường bị ô nhiễm; Nguyên nhân làm ô nhiễm môi trường, . + Bài hát: “Bé quét nhà”, “Giữ gìn bàn ghế”, + Tạo hình: Vẽ tranh, cảnh đẹp xung quanh bé - Con người với động vật và thực vật. + Khám phá khoa học: Tìm hiểu về các loài động vật, thực vật; Những con vật nguy cơ tuyệt chủng; các loài động vật trong cuộc sống,, cây xanh và Cung cấp môi trường sống, . cho trẻ kiến thức + Bài hát: “Em yêu cây xanh”, “Lí cây xanh”, “Đố bạn”, “Những người bạn về môi ngộ nghĩnh”, “Chú voi con ở bản Đôn”, trường. + Thơ, truyện: “Bác bầu, bác bí”, “Giàn gấc”, ... + Tạo hình: Vẽ vườn cây xanh, vườn hoa, vẽ các con vật bé yêu + Thực hành: gieo hạt, trồng cây, lau lá, tưới cây, nhổ cỏ, - Con người với một số hiện tượng thiên nhiên: + Tìm hiểu về các hiện tượng tự nhiên: Mặt trời, mặt trăng và các vì sao; Các mùa trong năm, Hành tinh trong mắt bé, các nguồn nước,... + Bài hát: “Sau mưa”, “Cháu vẽ ông mặt trời”, “Đếm sao”, “Cho tôi đi làm mưa với”, “Gọi gió”, . + Thơ, truyện: “Nàng tiên mưa”, “Giọt nước tí xíu”, . + Tạo hình: Vẽ bức tranh cầu vồng sau mưa, vẽ trời mưa, vẽ cảnh bầu trời, xé dán bức tranh bầu trời đêm, - Con người và tài nguyên (đất, nước, rừng và danh lam thắng cảnh) + Hoạt động Khám phá khoa học: Đồ dùng sử dụng điện trong gia đình, tìm hiểu về đại dương, các nguồn nước, tính chất của nước, sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên, giữ gìn vẻ đẹp của quê hương,... + Bài hát: “Em yêu Thủ đô”, “Vườn cây của ba”, + Thơ, truyện: “Tiết kiệm nước”, “Bí mật của rừng xanh”, + Tạo hình: Vẽ về biển, vẽ cảnh đẹp quê hương, đất nước, - Tìm hiểu về những biến đổi không tốt, có hại của môi trường: các hiện tượng bão, lũ lụt, hạn hán, núi lửa, cháy rừng, sạt lở đất, khí thải ra môi trường từ phương tiện giao thông và các khu công nghiệp, mưa đá, Những sự biến đổi - Một số biện pháp tránh tác hại của ô nhiễm môi trường của môi trường - Làm thí nghiệm: Lốc xoáy, núi lửa, biển chết, môi trường sạch – bẩn, ô hiện nay nhiễm nguồn nước, . - Thơ, truyện: “Ghét bão”, “Thương cây”, “Che mưa cho bạn”, “Tiếng kêu cứu của rừng xanh”, . Giáo dục - Tham gia các hoạt động tham quan, dã ngoại ngoài thiên nhiên trẻ tình - Trồng, chăm sóc cây xanh, cây cảnh góc thiên nhiên yêu thiên nhiên, yêu - Yêu quý, chăm sóc và bảo vệ các loài động vật môi trường - Tận dụng các nguồn nguyên liệu từ thiên nhiên làm một số đồ chơi: Con xung trâu, chong chóng, đồng hồ, . quanh - Thơ, truyện: “Hạt đỗ sót”, “Hạt giống và cậu bé”, “Cây táo”, - Bài hát: “Em yêu cây xanh”, “vườn trường mùa thu”, “quê hương”, “Bảy sắc cầu vồng”, .... - Không xả rác bừa bãi, vứt rác đúng nơi quy định; Dọn dẹp nhà cửa, lớp học gọn gàng, sạch sẽ, ngăn nắp, - Có ý thức giữ gìn sức khỏe cho bản thân và mọi người; Giáo dục trẻ ý thức - Giải quyết các tình huống tác động tới môi trường bảo vệ môi - Tổ chức các buổi tìm hiểu, hưởng ứng về môi trường; Các hội thi vẽ tranh trường. về bảo vệ môi trường, . - Thơ, truyện: “Bác quét rác”, “Tập quét nhà”, “Bé giữ vệ sinh môi trường; ”Đóng kịch: “Một ngày mặt trời không chiếu”, . - Xây dựng mô hình trường học thân thiện, học sinh tích cực; Xây dựng mô hình không gian sáng tạo, không gian xanh trong trường, trong lớp, trong Giáo dục các góc chơi. trẻ những hành vi cụ - Giáo viên làm gương, gương mẫu trong các hành vi với môi trường. thể bảo vệ - Đưa ra các quy định với trẻ về các hành vi bảo vệ môi trường trong lớp môi trường học, trong gia đình và ở những nơi công cộng bằng các kí hiệu hoặc hình phù hợp ảnh dễ hiểu với trẻ. với lứa tuổi - Vứt rác đúng nơi quy định, phân loại rác thải phù hợp + Trang trí thùng rác để khuyến khích trẻ bỏ rác vào thùng + Để thùng rác ở nhiều vị trí khác nhau, thuận lợi cho trẻ bỏ rác - Lập kế hoạch cụ thể cho trẻ thực hành các hành vi bảo vệ môi trường phù hợp với khả năng của trẻ: hoạt động lao động, nhặt rác, lau dọn lớp học, gia đình sạch sẽ, gọn gàng, . - Sử dụng điện, nước tiết kiệm, hiệu quả: Vặn nước đủ dùng; Hạn chế sử dụng các thiết bị điện, tắt khi không sử dụng, .... - Tiết kiệm lương thực, thực phẩm, ăn hết xuất, giữ vệ sinh bàn ăn trong các bữa ăn và các bữa tiệc. - Hoạt động tham quan, dã ngoại: Trồng, chăm sóc cây xanh, cây cảnh và các con vật nuôi phù hợp; Không ngắt lá bẻ cành, không dẫm lên cỏ, . - Làm các bài tập lựa chọn hành vi đúng, sai với môi trường với các tình huống bảo vệ môi trường, các ngồn Internet, giáo viên tự thiết kế, . - Một số bài thơ: “Nghe lời cô giáo”, “Bảo vệ hoa cỏ”, “Đi vệ sinh”, “Không kén ăn”, “Nơi công cộng”, “Tắm và gội” . Việc tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong quá trình chăm sóc - giáo dục trẻ cần đảm bảo các nguyên tắc sau: Nguyên tắc 1. Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường được tích hợp trong tất cả các lĩnh vực giáo dục: Phát triển thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm – xã hội và thẩm mỹ. Nguyên tắc 2. Nội dung giáo dục trẻ bảo vệ môi trường đưa vào các hoạt động từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi trẻ, không trùng lặp, không gây quá tải. Nguyên tắc 3. Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường được tích hợp trong các hoạt động phải gần gũi, không xa lạ với trẻ, gắn với thực tế điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường và lớp học. Nguyên tắc 4. Nội dung giáo dục trẻ mẫu giáo bảo vệ môi trường có thể được tích hợp trong toàn bộ hoạt động, trong một phần của hoạt động hoặc chỉ phần liên hệ thực tế. Ví dụ: Giáo dục bảo vệ môi trường cho bé và gia đình. * Nội dung 1. Nhận biết môi trường gia đình: Môi trường gia đình bao gồm: Các phòng ở, nhà vệ sinh, sân vườn, nguồn nước, các đồ dùng và sự sắp đặt các đồ dùng trong gia đình. Các hoạt động có thể tổ chức cho trẻ: Trò chuyện với trẻ (thông qua các hoạt động trong ngày, trong giờ học, trò chuyện đầu giờ); Sử dụng tranh cho trẻ nhận biết và đánh dấu vào những gì thuộc về môi trường gia đình, môi trường lớp học; Kể chuyện về gia đình bé. * Nội dung 2. Hiểu biết về môi trường. Phân biệt môi trường bẩn, sạch: Môi trường sạch thể hiện nhà cửa luôn sạch sẽ, gọn gàng, nhà vệ sinh phải sạch sẽ, không mùi hôi, vv; Môi trường bẩn thể hiện nhà cửa, lớp học không được quét dọn, đồ dùng đồ chơi không được lau chùi và để lung tung, nhiều bụi bẩn . Các hoạt động có thể tổ chức cho trẻ: Quan sát thực tế; Vẽ tranh, tô màu; Đưa ra các tình huống cần giải quyết. Một số nguyên nhân làm cho môi trường bẩn: Do tự nhiên và do con người gây ra. Một số nguyên nhân gây ô nhiễm đất, nước và không khí cũng chính là nguyên nhân khiến cho môi trường bẩn. Các hoạt động có thể tổ chức cho trẻ: Làm thí nghiệm để tìm hiểu về nguyên nhân gây ra ô nhiễm nước; Xem tranh và đàm thoại về một số nguyên nhân làm cho môi trường không khí bị ô nhiễm; Cắt, vẽ, xé, dán những hành động gây ô nhiễm môi trường; Nhận biết hành vi làm cho môi trường bẩn, môi trường sạch qua sách vở bài tập “Vở bé thực hành các tình huống bảo vệ môi trường”. Một số cách tránh tác hại của ô nhiễm môi trường: Hướng dẫn trẻ sử dụng những vật dụng giúp bảo vệ hệ hô hấp khi di chuyển trong môi trường không khí bị ô nhiễm; Hướng dẫn trẻ sử dụng các đồ dùng khi đi dưới trời mưa, trời nắng, hay khi có sấm chớp. Các hoạt động có thể tổ chức cho trẻ: Trò chơi nhận biết đồ dùng khi đi ra ngoài trời nắng, trời mưa; Trò chuyện về tác hại của môi trường ô nhiễm với sức khỏe của con người; Vẽ, tô màu các đồ dùng khi trời nắng, trời mưa; Sử dụng sách “Bé bảo vệ môi trường”. * Nội dung 3. Quan tâm bảo vệ môi trường. Tiết kiệm nước trong sinh hoạt: Tiết kiệm nước, điện, đồ chơi, đồ dùng, làm đồ chơi từ nguyên liệu phế thải; Giữ gìn vệ sinh cơ thể sạch sẽ; Tham gia lao động: vệ sinh lớp, chăm sóc cây cối trong vườn trường. Các hoạt động có thể tổ chức cho trẻ: Làm đồ chơi từ nguyên vật liệu phế thải do trẻ mang đến; Xây dựng lịch vệ sinh lớp; Tổ chức các buổi lao động cuối tuần (quét lớp, lau giá góc, thu dọn sắp xếp giá đồ chơi ). Sau khi tổ chức các hoạt động cho trẻ thực hiện, giáo viên quan sát quá trình trẻ chơi, thu dọn đồ chơi sau khi chơi, nhận xét, nêu gương tốt, góp ý những trẻ làm chưa tốt. Sau đó cho trẻ nhận xét mình, nhận xét bạn. Có thể thấy việc tích hợp các nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cần người giáo viên phải hết sức linh hoạt, không tùy tiện đưa các nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào các hoạt động giáo dục, mà cần căn cứ vào mục đích, yêu cầu và nội dung của hoạt động để lựa chọn nội dung giáo dục bảo vệ môi trường được tích hợp một cách hợp lý. Giải pháp 2. Tích hợp nội dung giáo dục trẻ bảo vệ môi trường các hoạt động giáo dục. Nội dung hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ có thể được tích hợp vào các hoạt động giáo dục sau đây: * Hoạt động vui chơi: Hoạt động chơi mang tính tích hợp cao trong giáo dục trẻ và được tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu của trẻ, đồng thời tích hợp nội dung giáo dục, trong đó có nội dung giáo dục bảo vệ môi trường. Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ có thể thông qua các trò chơi. Trò chơi phân vai: Trẻ đóng vai và thể hiện các công việc của người làm công tác bảo vệ môi trường, như: trồng cây, chăm sóc cây, thu gom rác, xử lý các chất thải. Trong các trò chơi “Bé tập làm nội trợ” chú ý dạy trẻ có ý thức tiết kiệm nước và các nguyên liệu chế biến món ăn, vệ sinh sạch sẽ và thu gom đồ dùng gọn gàng sau khi làm xong. Trò chơi học tập: Trẻ tìm hiểu về các hiện tượng trong môi trường, trẻ học cách so sánh, phân loại các hành vi tốt, hành vi xấu đối với môi trường; Phân biệt môi trường sạch, môi trường bẩn và tìm ra nguyên nhân của chúng; Trẻ giải câu đố, kể lại các câu truyện về môi trường, trẻ tập diễn đạt lại các yếu tố làm cho môi trường sạch, môi trường bẩn. Trò chơi vận động: Trẻ mô tả các hành vi bảo vệ môi trường hoặc làm hại tới môi trường: Động tác cuốc đất, trồng cây, tưới cây, bắt sâu, nhổ cỏ, ; Chặt cây, giẫm lên cỏ, đốt rừng, săn bắt thú, . Trò chơi đóng kịch: Trẻ thể hiện nội dung các câu chuyện bảo vệ môi trường, thể hiện các hành vi có lợi và có hại cho môi trường. Trò chơi khám phá: Trẻ nhận biết môi trường bẩn, sạch, Tìm hiểu nguyên nhân và cách làm cho môi trường sạch. Ví dụ: Hoạt động chơi góc khám phá: Chăm sóc cây cảnh, tưới cây góc thiên nhiên - Giáo dục trẻ hành vi chăm sóc hoa, cây cảnh, bảo vệ môi trường.

File đính kèm:

  • docxmot_so_giai_phap_giao_duc_hanh_vi_bao_ve_moi_truong_cho_tre.docx
Giáo án liên quan