Một số biện pháp nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non Quang Châu

pdf18 trang | Chia sẻ: Thảo Hoa | Ngày: 03/02/2026 | Lượt xem: 9 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số biện pháp nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non Quang Châu, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1. Phần mở đầu: 1.1. Lý do viết sáng kiến : Vệ sinh an toàn thực phẩm giữ một vai trò rất quan trọng đối với sức khỏe con người, vừa kế thừa các tập quán tốt của từng dân tộc, vừa tiếp thu nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng lao động và phòng chống bệnh tật. Mặc dù cho đến nay đã có khá nhiều khoa học kỹ thuật trong công tác bảo vệ về an toàn thực phẩm, nhưng bệnh do chất lượng vệ sinh thực phẩm và thức ăn kém chất lượng vẫn chiếm tỷ lệ cao ở nước ta. Các bệnh do thực phẩm gây nên không chỉ là các bệnh cấp tính do ngộ độc thức ăn mà còn là các bệnh mãn tính do nhiễm tích lũy chất độc hại từ môi trường bên ngoài, do tác động của thiên nhiên vào thực phẩm, gây rối loạn chuyển hóa các chất trong cơ thể dễ gây đến bệnh tim mạch, ung thư, tiêu chảy Theo thống kê của Bộ y tế ở nước ta, trong mười nguyên nhân chủ yếu gây tử vong là bệnh đường ruột. Do chất lượng vệ sinh thực phẩm trong những năm gần đây không ổn định, số mẫu thực phẩm không đạt yêu cầu vệ sinh chiếm tỷ lệ cao. Sự ô nhiễm thực phẩm do các chất độc hại từ môi trường, tác hại từ hóa chất như thuốc trừ sâu, diệt cỏ, phân bón trong nông nghiệp, thuốc tăng trọng trong chăn nuôi động vật, các chất phụ gia đều dẫn đến ngộ độc. Từ những nét đặc trưng trên, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm tra chất lượng đề phòng ngộ độc thực phẩm có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường sống của các nước đang phát triển. Mục tiêu đầu tiên của vệ sinh an toàn thực phẩm là đảm bảo cho mọi người tránh bị ngộ độc thức ăn do ăn phải thực phẩm bị ô nhiễm hoặc có chất độc. Vậy ngộ độc thức ăn thường xảy ra đột ngột, một hoặc nhiều người bị mắc, ngộ độc do thiếu sót trong công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, sơ xuất trong sơ chế, chế biến và kiểm tra thành phần trước khi ăn. Hiện nay, vấn đề dinh dưỡng, vệ sinh, an toàn thực phẩm đang là mối quan tâm lớn nhất của toàn xã hội, chất lượng vệ sinh, an toàn thực phẩm liên quan đến cả quá trình từ khâu sản xuất đến khâu tiêu dùng, công việc này đòi hỏi tính liên ngành cao và có sự quan tâm của toàn xã hội. Đối với ngành giáo dục nói chung và bậc học mầm non riêng công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ tại trường mầm non đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình trưởng thành và phát triển. Vì vậy, vấn đề vệ sinh an toàn thưc phẩm giữ vị trí quan trọng đối với sức khỏe trẻ thơ, nó giúp phần nâng cao sức khỏe cho trẻ giúp trẻ phát triển thể lực tốt. Chính vì vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non Quang Châu”. Đây là một thông điệp giúp cho toàn thể cộng đồng cùng quan 1 tâm đến sức khỏe cho trẻ, đặc biệt vệ sinh an toàn thực phẩm tại trường mầm non Quang Châu hiện nay. 1.2. Mục đích nghiên cứu: Sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non Quang Châu” nhằm góp phần đảm bảo sức khỏe tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng thấp còi xuống mức thấp nhất. Giúp cho cán bộ, giáo viên, nhân viên hiểu rõ hơn về đảm bảo VSATTP, công tác chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ tại trường mầm non Quang Châu đạt kết quả cao. Thông qua góc tuyên truyền ở các nhóm lớp, pa lô, áp phích về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong dịp tết nguyên đán hàng năm. Được lồng ghép tích hợp vào các môn học để giáo dục trẻ hiểu biết về dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm. Công tác tuyên truyền với phụ huynh để phụ huynh hiểu rõ hơn về giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm một cách tốt nhất. Sáng kiến này được áp dụng tại trường mầm non Quang Châu- Thị xã Việt Yên- Tỉnh Bắc Giang. 1.3. Đối tượng , phạm vi nghiên cứu. 1.3.1. Đối tượng nghiên cứu. Giáo viên, nhân viên trường mầm non Quang Châu. 1.3.2. Phạm vi nghiên cứu . Nghiên cứu “Một số biện pháp nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non Quang Châu”. Tại trường mầm non Quang Châu năm học 2024- 2025 1.4. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài: Một số biện pháp nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non Quang Châu. Thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài từ 5/9/2024 đến ngày 8/5/2025 1.5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu tài liệu, lý luận. Qua chuyên san tạp chí giáo dục mầm non. Tài liệu chuyên đề BDTX. Phương pháp quan sát, thực hiện nhiệm vụ của giáo viên, nhân viên cấp nuôi dưỡng. Phương pháp phân tích, vận dụng các tài liệu chuyên đề, các văn bản vào thực tế. 2 Phương pháp thực hiện tốt chế độ vệ sinh dinh dưỡng và an toàn thực phẩm trong trường mầm non Phương pháp tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm đối với cán bộ giáo viên, nhân viên trong nhà trường. 1.6. Những đóng góp mới của sáng kiến. Cơ thể trẻ em, đặc biệt là trẻ ở lứa tuổi mầm non rất dễ bị tổn thương bởi các yếu tố có hại của ngoại cảnh. Sức khỏe của trẻ chịu ảnh hưởng bởi kiến thức và hành vi của con người chăm sóc. Ngộ độc thực phẩm là một trong những yếu tố nguy cơ cao ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ. Mặt khác, nhà trẻ, trường mẫu giáo là nơi tập trung đông trẻ, khi xảy ra ngộ độc thực phẩm nguy cơ rất lớn và có nhiều trẻ bị mắc. Chính vì vậy, đòi hỏi những người chăm sóc trẻ cần có một số kiến thức trong sơ chế, chế biến bảo quản thực phẩm trong các trường mầm non. Chúng ta không thể coi nhẹ bất kỳ một khâu nào trong mắt xích ấy, như vậy mới góp phần phòng tránh các nguy cơ ngộ độc thực phẩm cho trẻ. Xác định được mục đích nên tôi mạnh dạn đưa ra “Một số biện pháp nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non Quang Châu”. Đề tài này có đóng góp nhỏ về mặt xã hội giúp cho trường mầm non có tổ chức ăn bán trú học tập được những kinh nghiệm, giải pháp hữu ích để nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong nhà trường. 2. Phần nội dung 2.1. Cơ sở viết sáng kiến 2.1.1.Cơ sở lý luận . Dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm chiếm một vị trí rất quan trọng đối với con người, đặc biệt là đối với trẻ em đang phát triển và hoàn thiện nên cần có nhu cầu cao về dinh dưỡng, trong khi bộ máy tiêu hóa của trẻ chưa hoàn chỉnh. Do đó, bất cứ một sai lầm nhỏ về dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm cũng gây rối loạn về dinh dưỡng gây nguy hiểm cho trẻ. Ở nước ta, tỷ lệ trẻ em bị mắc các bệnh do dinh dưỡng không hợp lý, thực phẩm không đảm bảo vệ sinh còn cao so với các nước trong khu vực. Nguyên nhân chủ ý không phải thiếu lương thực, thực phẩm mà do cha mẹ trẻ thiếu kiến thức về dinh dưỡng “Nuôi dạy trẻ”. Vì vậy, biện pháp hữu hiệu nhất để giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng và các bệnh do chưa có sự hiểu biết về dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm cho mọi người và cộng đồng xã hội. Đặc biệt cô giáo mầm non là người mẹ thứ hai của trẻ người trực tiếp nuôi dạy trẻ trong thời gian ở trường phải là người tuyên truyền giáo dục dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm tốt nhất cho các bậc cha mẹ và cộng đồng được biết đến. 3 Chính vì vậy, công tác phòng chống suy dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ là trách nhiệm của mỗi người, mỗi gia đình, nhà trường, địa phương và toàn xã hội “Hãy dành cho trẻ em những gì mình sẵn có”, phấn đấu hạ thấp tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, mắc các bệnh về đường ruột xuống mức thấp nhất. 2.1.2.Cơ sở thực tiễn . Trường mầm non Quang Châu nằm trên đường quốc lộ 295B, Phường có tổng số 3197 hộ dân, với 12.354 nhân khẩu, có 8 Tổ dân phố. Nghề nghiệp của nhân dân trong Phường khá đa dạng với nhiều loại hình: nông dân, kinh doanh buôn bán, dịch vụ vừa và nhỏ, một phần nhỏ là cán bộ công nhân viên chức, chủ yếu làm công nhân ở các khu công nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh. Qua nhiều năm phát triển và trưởng thành, đến năm học 2024 - 2025 nhà trường có 20 nhóm lớp, huy động được 558 trẻ. Tổng số cán bộ giáo viên, nhân viên là 42 người. Trong đó: Ban giám hiệu: 03; Giáo viên đứng lớp: 37; Nhân viên: 02; Về trình độ đào tạo: Đại học: 29; Cao đẳng: 10; Trung cấp: 3; Nhà trường liên đạt danh hiệu “Tập thể lao động tiên tiến” nhiều năm. Trường có đầy đủ cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động chung của trường. Trường Mầm Non Quang Châu là một trong những trường tham gia các phong trào của Thị xã và là trường đạt chuẩn Quốc Gia mức độ 2. Trường có 20/20 lớp thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới, các trang thiết bị phục vụ chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục hiện đại, giúp cho tôi cập nhật kịp thời quan điểm chỉ đạo của ngành. 2.2. Thực trạng của sáng kiến 2.2.1. Thuận lợi . Được sự quan tâm của lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương đã xác định đúng đắn vị trí, vai trò, nhiệm vụ công tác chăm sóc giáo dục trẻ nên đã chỉ đạo và tạo cơ hội pháp lý cho nhà trường giúp nhà trường duy trì tốt hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ. Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường có phẩm chất đạo đức tốt, có chuyên môn vững vàng, nhiệt tình có trách nhiệm cao trong giảng dạy cũng như trong công tác chăm sóc trẻ. Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên, các phong trào thi đua, chất lượng mũi nhọn như: Giáo viên dạy giỏi các cấp như cấp trường, cấp Thị xã, cấp Tỉnh được nâng lên rõ rệt, qua kết quả được các cấp có thẩm quyền đánh giá cao nên tạo được lòng tin trong các cấp lãnh đạo, cha mẹ trẻ và nhân dân địa phương. Đây là yếu tố kích thích các lực lượng, cộng đồng xã hội nhiệt tình đóng góp nguồn lực xây dựng nhà trường. Lãnh đạo địa phương - Nhà trường - Hội cha mẹ trẻ là những chủ thể trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ, thường xuyên phối kết hợp chặt chẽ tạo sự thống nhất trong chỉ đạo, thực hiện. 4 Cơ sở vật chất nhà trường được quan tâm xây dựng, cải tạo, trường đã đạt chuẩn quốc gia mức độ II, được công nhận lại trong năm học 2024 - 2025. Về nhận thức giáo dục dinh dưỡng - sức khỏe của trẻ, các bậc cha mẹ trẻ, cộng đồng đã có sự quan tâm đến chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. 2.2.2. Khó khăn . Cha mẹ trẻ là công nhân không có nhiều thời gian quan tâm đến trẻ phó thác việc chăm sóc trẻ cho ông bà do vậy đời sống còn gặp nhiều khó khăn. Về kinh tế xã, các nguồn thu khác hạn hẹp do vậy kinh phí đầu tư mua sắm trang thiết bị cho nhà trường còn hạn chế. Về đội ngũ nhân viên nuôi dưỡng luôn có sự biến động, thay đổi: 100% nhân viên đã có chứng chỉ sơ cấp nấu ăn, xong nắm bắt về kiến thức dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm còn hạn chế, còn lúng túng trong việc cải tiến chất lượng khẩu phần ăn cho trẻ. Đối với giáo viên việc nắm bắt nội dung giáo dục dinh dưỡng - sức khỏe lồng ghép vào các chủ đề, các hoạt động cho trẻ chưa nhiều. Về nhận thức giáo dục dinh dưỡng - sức khỏe của trẻ, các bậc cha mẹ trẻ và cộng đồng chưa thực sự quan tâm. 2.3. Các giải pháp thực hiện 2.3.1. Một số quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm trong nhà trường. Để làm tốt công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ, nhà trường triển khai một số quy định sau: Mỗi cán bộ giáo viên, nhân viên trong trường nghiêm túc thực hiện các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, tham gia tuyên truyền về vệ sịnh an toàn thực phẩm. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ, cho cán bộ, giáo viên, nhân viên trong trường. Nhân viên nuôi dưỡng khi vào làm việc trong nhà trường phải được khám sức khỏe, không mắc các bệnh truyền nhiễm, đồng thời phải có kiến thức nuôi dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Kiểm tra chặt chẽ nguồn thực phẩm cung cấp cho nhà trường phải có nguồn gốc, địa chỉ rõ ràng. Có kế hoạch kiểm tra đột xuất, định kỳ để nắm được quá trình chế biến của từng nhân viên. Phối hợp với trung tâm y tế tập huấn kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm cho cán bộ, giáo viên, nhân viên và cha mẹ trẻ trong nhà trường. 2.3.2. Triển khai một số nội dung trọng tâm về vệ sinh an toàn thực phẩm. 5 * Đối với nhà trường: Ngay từ đầu năm học dưới sự chỉ đạo của Phòng giáo dục tôi đã xây dựng kế hoạch chăm sóc nuôi dưỡng và nội dung vệ sinh an toàn thực phẩm phù hợp với đặc điểm tình hình thực tế của nhà trường. Thực đơn của trẻ được xây dựng theo tuần. theo mùa. Triển khai họp cha mẹ trẻ, ban giám hiệu, các đoàn thể để thống nhất chế độ, thực đơn ăn của trẻ. Sau khi thống nhất xong nhà trường mời các cơ sở, chủ cửa hàng cung cấp thực phẩm có uy tín, địa chỉ rõ ràng vào trường họp và đưa ra các tiêu chí, nếu đủ điều kiện thì mới ký hợp đồng từng loại thực phẩm: Thịt, rau, củ, quả cua, cá, sữa, gạo các cơ sở, chủ cửa hàng cung cấp thực phẩm nếu vi phạm hợp đồng, chất lượng không đảm bảo sạch sẽ, không an toàn, giá cả không hợp lý, không ổn định và khi kiểm tra đột xuất cơ sở trang thiết bị không đảm bảo đủ điều kiện về về sinh an toàn thực phẩm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về bồi thường mọi phí tổn, nhà trường sẽ chấm dứt hợp đồng. * Về sơ sở vật chất và trang thiết bị nhà bếp: Bếp được cải tạo, sửa sang theo quy trình bếp một chiều, có phân theo từng khu riêng biệt. Nơi chế biến thực phẩm đi theo một chiều có quy định theo đường chỉ dẫn: Nhận thực phẩm Sơ chế chế biến chia ăn chuyển thức ăn lên các nhóm, lớp. Khu giao nhận thực phẩm, sơ chế , chế biến và chia ăn. 6 Nhà bếp được trang bị đầy đủ đồ dùng hiện đại phục vụ cho công tác bán trú như: Bàn chế biến, tủ cơm, tủ sấy bát, giá úp xoong, nồi, các dụng cụ đựng, chia thức ăn đều bằng inox. 7 Tủ sấy bát; Nồi hầm cháo; Tủ nấu cơm Bếp nấu ăn đảm bảo sạch sẽ, thoáng mát, đủ ánh sáng, trong và ngoài bếp được trang trí tranh ảnh với các món ăn hấp dẫn, khoa học, đẹp mắt phù hợp với bếp ăn của trường mầm non. Có đầy đủ các loại bảng biểu theo quy định. 8 Bảng thực đơn và công khai Bảng chia ăn 9 * Đối với nhân viên nuôi dưỡng, kế toán, Phó Hiệu trưởng phụ trách bán trú: - Đối với nhân viên nuôi dưỡng: Trước khi chế biến thực phẩm sống, chín phải rửa dụng cụ sạch sẽ tránh để nhiễm khuẩn, rêu mốc trên dao, thớt Phải thực hiện nghiêm túc quy trình bếp một chiều từ khâu sơ chế đến chế biến, chia các món ăn đủ với số trẻ của các nhóm lớp, không để thực phẩm sống tiếp xúc, gần với thực phẩm chín Hàng ngày có sự phân công trách nhiệm công việc cho từng người, để mỗi người phải có trách nhiệm, ý thức được với công việc của mình, nếu sai phạm bị xử phạt tùy theo mức độ. Để đảm bảo an toàn vệ sinh trước khi bếp hoạt động, nhân viên nhà bếp bố trí phân công thay phiên nhau đến sớm làm nhiệm vụ: Mở cửa phòng cho không khí lưu thông, lau dọn sàn nhà, kệ bếp, kiểm tra hệ thống điện, tủ cơm, tủ sấy bát trước khi hoạt động. Nếu có biểu hiện không an toàn báo ngay với Ban giám hiệu nhà trường biết để kịp thời xử lý. Trước khi chia ăn các dụng cụ: Xoong, nồi, thìa, bát, phải được sấy khô mới được chia lên các nhóm lớp. Lưu mẫu thức ăn hàng ngày phải theo quy định của Cục vệ sinh ATTP - Đối với nhân viên kế toán: Làm hồ sơ chứng từ khẩu phần ăn Có trách nhiệm kiểm tra, nhận thực phẩm tay ba, cân đối thực phẩm và ghi tài chính công khai hàng ngày. - Đối với phó hiệu trưởng phụ trách nuôi dưỡng: Thực hiện xây dựng thực đơn trong chương trình phần mềm Nutriall và thường xuyên thay đổi thực đơn để đảm bảo thành phần các chất. Có trách nhiệm giám sát, kiểm tra thực phẩm, đánh giá, ghi sổ kiểm thực theo 3 bước. Phân công nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng cho từng thành viên: Ghi sổ kiểm thực theo 3 bước. Khi giao nhận thực phẩm phải đảm bảo tay 3 (Kế toán, Giáo viên, nhân viên nuôi dưỡng), có sự giám sát, kiểm tra của nhân viên ý tế đánh giá chất lượng, số lượng thực phẩm xong ghi sổ và ký nhận để chế biến. Nếu thực phẩm không đảm bảo chất lượng không sử dụng. Đối với thực phẩm sau khi nấu chín phải được đồng chí Phó hiệu trưởng - phụ trách nuôi dưỡng kiểm tra đánh giá cảm quan các món ăn ghi sổ. 10 Các món ăn sau khi được chia lên các nhóm, lớp theo quy định lưu mẫu theo định lượng bằng 01 xuất ăn của trẻ, mẫu được đựng vào cốc inox có nắp đậy, trên mỗi nắp cốc đều có ghi số lượng thức ăn theo quy định để hộp nhựa to niêm phong ghi rõ thời gian: Giờ, ngày, tháng, năm người lưu mẫu, niêm phong để trong tủ lạnh qua 24 giờ. Hộp lưu mẫu thức ăn chín và thực phẩm sống Các thông tin được ghi chép lưu vào sổ hàng ngày để theo dõi. 2.3.3. Vệ sinh nguồn nước và xử lý rác thải. * Vệ sinh nguồn nước. Nước là một loại nguyên liệu không thể thiếu được, nó được sử dụng nhiều công đoạn chế biến thực phẩm và vệ sinh trong sinh hoạt hàng ngày đối với trẻ. Nước nhiễm bẩn tạo nguy cơ không tốt đến sức khỏe của trẻ. Nguồn nước an toàn trong chế biến thực phẩm là nước sạch lấy từ nhà máy nước sạch, và là nước được kiểm định thường xuyên. Trong quá trình sử dụng nếu thấy nước khác thường nhân viên nhà bếp phải báo ngay cho nhà trường để xử lý kịp thời nếu nước nhiễm bẩn sẽ gây ra ngộ độc thức ăn trong ăn uống, gây các chứng bệnh ngoài da của trẻ. Nước cho trẻ uống là nước đóng bình và mùa đông thì được đun sôi, được thay nước hàng ngày, bình đựng nước được rửa thường xuyên. * Xử lý chất thải: Đối với trường bán trú có rất nhiều loại chất thải khác nhau: Nước thải, khí thải, rác thải Nước thải từ nhà bếp, khu vệ sinh tự hoại, rác thải từ rau củ, rác từ thiên nhiên lá cây, các loại ni lông, giấy lộn, đồ sinh hoạt thừa, vỏ hộp sữa Nếu không có biện pháp xử lý tốt sẽ làm ô nhiễm môi trường. Các loại rác thải là nơi tập trung và phát triển của côn trùng ruồi, muỗi chúng bay đến đậu nơi thức ăn cũng sẽ gây nên các mầm bệnh, ngộ độc thức ăn trong trường học rất nguy 11 hiểm. Chính vì vậy, nhà trường quy định các chất thải phải cho vào thùng rác có nắp đậy. Rác thải đó được nhà trường ký hợp đồng với nhân viên vệ sinh môi trường một thành viên thu gom, xử lý hàng ngày, vì vậy trong khuôn viên trường không để rác thải tồn đọng gây mùi hôi thối. Trường có hệ thống cống thoát nước ngầm, luôn được khơi thông, đảm bảo sạch sẽ, khu vệ sinh của trẻ, của nhân viên được cọ rửa thường xuyên khô thoáng, sạch sẽ. Ngay từ đầu năm học nhà trường đã chỉ đạo cán bộ, giáo viên, nhân viên luôn thực hiện tốt “Cải tạo cảnh quan môi trường sư phạm trong trường học” phát động đến cán bộ, giáo viên, nhân viên các bậc cha mẹ trẻ các cháu học sinh cùng nhau xây dựng, giữ gìn môi trường sư phạm luôn xanh - sạch - đẹp. 2.3.4. Công tác vệ sinh nhà bếp và vệ sinh môi trường - Vệ sinh nhân viên nhà bếp: Nhân viên nhà bếp là người trực tiếp tiếp xúc với thực phẩm của trẻ nên dễ truyền bệnh cho trẻ. Vì vậy, nhân viên đảm bảo sạch sẽ, đầu tóc gọn gàng, không đeo đồ trang sức: Đồng hồ, nhẫn, móng tay phải cắt ngắn, trước khi chế biến phải mặc trang phục, đeo tạp dề, đội mũ, đeo khẩu trang và rửa tay bằng xà phòng diệt khuẩn. Nhân viên nhà bếp được kiểm tra, khám sức khỏe, xét nghiệm định kỳ 2 lần/năm, nếu có biểu hiện khác thường thì phải chuyển sang làm công tác khác. *Vệ sinh môi trường: Hàng ngày nhân viên nhà bếp phải cọ rửa vệ sinh đồ dùng, dụng cụ sau khi chế biến thực phẩm sạch sẽ úp nơi khô ráo. Thùng đựng rác, nước gạo, cọ rửa thường xuyên để đúng nơi quy định, các loại rác thải được chuyển ra ngoài kịp thời. Bên cạnh đó đồ dùng, dụng cụ, vệ sinh trong và ngoài nhà bếp cần được quan tâm: Khu sơ chế thực phẩm sống - chế biến thực phẩm - chia cơm - chia thức ăn chín đảm bảo sạch sẽ, nền nhà luôn khô. Cấm những người không phận sự không được vào bếp. 2.3.5. Đưa nội dung tuyên truyền giáo dục vệ sịnh an toàn thực phẩm trong cán bộ giáo viên và các hoạt động giáo dục trẻ * Đối với cán bộ giáo viên: Ban giám hiệu nhà trường chỉ đạo chặt chẽ và phối hợp có hiệu quả với các đoàn thể trong và ngoài nhà trường về nội dung kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệt là đội ngũ nhân viên nấu ăn, tăng cường tuyên truyền vệ sinh an toàn thực phẩm đến các bậc cha mẹ trẻ và nhân dân địa phương. Chỉ đạo cán bộ nhân viên cấp dưỡng thực hiện nghiêm túc các văn bản, pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm. 12 Giáo dục kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm cho nhân viên, giáo viên, trẻ em về cách xử lý thực phẩm từ khâu chọn thực phẩm đến chế biến, bảo quản thực phẩm vệ sinh an toàn thực phẩm là trách nhiệm của nhà trường, các bậc cha mẹ trẻ và toàn dân. Tổ chức tuyên truyền bằng các hình thức: Xây dựng góc tuyên truyền của trường, góc phối hợp với cha mẹ trẻ ở các nhóm lớp, qua các giờ đón trả trẻ để cùng phối hợp chăm sóc giáo dục trẻ tốt hơn. Phối hợp với trạm y tế xã thường xuyên kiểm tra hỗ trợ công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Nhà trường xây dựng kế hoạch phun thuốc diệt côn trùng để cảnh quan môi trường luôn sạch, đẹp đảm bảo vệ sinh chung. Tuyên truyền 10 nguyên tắc vàng về vệ sinh an toàn thực phẩm, 10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý cho nhân viên nhà bếp, cha mẹ trẻ biết để cùng thực hiện. Hằng năm nhà trường phối hợp với Trung tâm y tế cử 100% nhân viên nuôi dưỡng và đồng chí Phó hiệu trưởng phụ trách nuôi dưỡng tham gia các lớp tập huấn về vệ sinh an toàn thực phẩm của Phường, Thị xã. Giáo dục kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm cho cán bộ, giáo viên, nhân viên từ khâu chọn thực phẩm, đến chế biến, bảo quản thực phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm là trách nhiệm của nhà trường, các bậc cha mẹ trẻ và toàn xã hội. * Đối với trẻ: Đưa nội dung giáo dục môi trường, giáo dục dinh dưỡng - vệ sinh an toàn thực phẩm vào các hoạt động học có chủ định, hoạt động chơi ở các góc, hoạt động ngoài trời nhằm giúp trẻ tích cực tham gia giữ vệ sinh môi trường, biết nhận, biết phân loại một số thực phẩm không đảm bảo cho sức khỏe. Giáo viên hướng dẫn trẻ biết làm một số công việc lao động tự phục vụ, giữ vệ sinh môi trường, rèn thói quen vệ sinh cá nhân và các hành vi văn minh nơi công cộng, tạo môi trường an toàn thân thiện trong trường, lớp. Bên cạnh đó nhà trường tổ chức “Hoạt động trải nghiệm” có tiết mục thi sáng tác thơ ca, hò, vè, câu đố, bài hát về giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm, được cán bộ, giáo viên, nhân viên, cha mẹ trẻ hưởng ứng, cùng tham gia. Xây dựng lồng ghép nội dung giáo dục dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm vào chương trình chăm sóc giáo dục trẻ phù hợp theo từng độ tuổi, từng chủ đề. 2.3.6. Công tác kiểm tra, đánh giá vệ sinh an toàn thực phẩm trong nhà trường. Nhà trường thành lập Ban chỉ đạo công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: 13 Đồng chí Phó hiệu trưởng phụ trách nuôi dưỡng, một đồng chí Ban thanh tra nhân dân, một đại diện cha mẹ trẻ, một đại diện giáo viên. Ban chỉ đạo có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, đẩy mạnh công tác chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng chống các dịch bệnh trong nhà trường. Dưới sự chỉ đạo của nhà trường Ban chỉ đạo xây dựng kế hoạch kiểm tra định kỳ, đột xuất để nắm bắt được tình hình hoạt động của nhà bếp: Từ nhận thực phẩm đến chế biến thực phẩm, chia ăn, kiểm tra giờ ăn ở các nhóm, lớp. Thực hiện tốt các biện pháp phòng tránh ngộ độc bằng cách thường xuyên kiểm tra thực phẩm các cơ sở cung ứng trước khi ký nhận thực phẩm hàng ngày để phát hiện những thực phẩm không đảm bảo chất lượng, số lượng có biện pháp xử lý kịp thời. 2.4. Khả năng áp dụng của sáng kiến Qua việc nghiên cứu “Một số biện pháp nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non Quang Châu” tôi đã nghiên cứu áp dụng chỉ đạo thực hiện trong nhiệm vụ năm học của mình tại trường mầm non Quang Châu đã đạt kết quả cao. Sáng kiến này được áp dụng không những ở tại trường mầm non Quang Châu mà ở tất cả trên các trường mầm non trong Thị xã Việt Yên và tất cả mọi người trên toàn xã hội. 2.5. Hiệu quả của sáng kiến Qua các năm chỉ đạo, tôi nhận thấy chất lượng giáo dục dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm có bước chuyển biến rõ rệt về cả số lượng, chất lượng cũng như cơ sở vật chất. Kết quả đó được thể hiện: 2.5.1. Hiệu quả về kinh tế. Trong nhiều năm qua nhà trường không có trường hợp ngộ độc nào xảy ra dù là nhỏ nhất, luôn được các bậc cha mẹ trẻ tin tưởng đánh giá tốt về chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng của nhà trường. Qua đánh giá của các đoàn về kiểm tra: Y tế Phường, Y tế Thị xã, Chi cục vệ sinh an toàn thực phẩm của Sở y tế Bắc Giang đánh giá là một trong những đơn vị thực hiện tốt công tác vệ sinh an toàn thực phẩm. Nhà trường được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng hàng năm giảm 2%. 2.5.2. Hiệu quả về mặt xã hội. * Giá trị làm lợi môi trường Tôi đã truyền đạt thông điệp về việc bảo đảm chất lượng và an toàn của thực phẩm cho đội ngũ giáo viên, nhân viên và phụ huynh, giúp họ có kiến thức 14 và áp dụng các phương pháp lựa chọn thực phẩm an toàn hơn khi chuẩn bị và nấu ăn cho trẻ. Tuyên truyền đến đội ngũ giáo viên, nhân viên, và phụ huynh về việc đảm bảo chất lượng và an toàn của thực phẩm trong quá trình chế biến và nấu ăn cho trẻ, cũng như hướng dẫn cách lựa chọn thực phẩm an toàn. Tất cả phụ huynh của học sinh đã đồng lòng ủng hộ phương pháp đảm bảo an toàn thực phẩm. Đồng thời, đã có sự hợp tác chặt chẽ trong việc giáo dục trẻ về vệ sinh chung và cá nhân, cùng nhau thực hiện công tác đảm bảo an toàn cho các em tại cả nhà trường và tại gia đình. * Giá trị làm lợi cho an toàn lao động Sự ủng hộ từ phụ huynh đã góp phần vào việc tăng cường công tác giáo dục vệ sinh cho trẻ, cả ở nhà trường và tại gia đình. Đồng thời, điều này cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an toàn lao động cho đội ngũ nhân viên và giáo viên. * Giá trị làm lợi khác: Sáng kiến này đã mang lại hiệu quả tích cực tại đơn vị làm việc của tôi . Nó đã giúp nâng cao kinh nghiệm cho đội ngũ nhân viên nấu ăn và phụ huynh, giúp họ tự tin hơn trong việc đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm khi chuẩn bị và nấu ăn cho trẻ. Đồng thời, sáng kiến này cũng tạo ra nhiều kinh nghiệm áp dụng có thể được chia sẻ và nhân rộng trong cộng đồng. 3. Phần kết luận và kiến nghị : 3.1. Kết luận : 3.1.1. Những vấn đề quan trọng nhất được đề cập đến của sáng kiến kinh nghiệm. 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên cấp dưỡng hiểu và nắm được công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ ăn bán trú trong trường mầm non. Tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên cấp dưỡng đều có ý thức trách nhiệm cao trong quá trình giữ vệ sinh chung đặc biệt là vệ sinh an toàn thực phẩm. Nhà bếp đã được trung tâm y tế dự phòng Thị xã Việt Yên kiểm tra công nhận bếp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Dụng cụ: Bát, thìa, ca cốc được kiểm định đảm bảo yêu cầu không để xảy ra ngộ độc thực phẩm trong trường. Giáo viên biết tích hợp kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm vào các hoạt động học có chủ định, hoạt động chơi ở các góc đạt hiệu quả cao, 100% trẻ biết giữ vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường sạch sẽ thông qua các hoạt động trên lớp, mọi lúc, mọi nơi 15 Biết giữ vệ sinh nơi công cộng, vệ sinh môi trường: Không vứt rác, khạc nhổ nơi công cộng, biết bỏ rác đúng nơi quy định, vệ sinh phòng nhóm hàng ngày biết được công tác vệ sinh an toàn thực phẩm rất quan trọng đối với sức khỏe con người. Các bậc cha mẹ trẻ đồng tình ủng hộ chủ trương giải pháp trong công tác giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn trong nhà trường. Phối hợp với nhà trường trong công tác giáo dục trẻ biết giữ vệ sinh chung, vệ sinh cá nhân và cùng nhau làm tốt công tác chăm sóc giáo dục trẻ, đảm bảo tốt vệ sinh an toàn thực phẩm. 3.1.2. Hiệu quả thiết thực của sáng kiến kinh nghiệm. Việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm là mối quan tâm lớn của toàn xã hội hiện nay. Vai trò của người cán bộ quản lý trường mầm non có tổ chức ăn bán trú là một trách nhiệm nặng nề mà đòi hỏi người cán bộ quản lý luôn năng động, sáng tạo và đầu tư có hiệu quả trong công tác xây dựng, tiếp cận với tất cả các hoạt động trong trường mầm non. Mục đích của đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non là giúp trẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn, khơi dậy ở trẻ tính tò mò, ham hiểu biết Chính vì vậy, mỗi chúng ta cần phải quan tâm và đầu tư có hiệu quả vào trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ để giúp trẻ có một sức khỏe tốt. Đó là những kinh nghiệm quý báu theo chúng ta đi suốt những năm tháng trong công tác làm công tác chăm sóc giáo dục trẻ và nhất là những người làm công tác quản lý tại các trường mầm non có tổ chức ăn bán trú. Qua nhiều năm chỉ đạo nhà trường tổ chức ăn bán trú cho trẻ, bản thân tôi nhận thấy mỗi cán bộ, giáo viên, nhân viên nắm một số kiến thức cơ bản về công tác chăm sóc giáo dục trẻ ở trường, lớp mầm non, đặc biệt là biết vệ sinh cá nhân, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường. Bản thân tôi đã không ngừng phát huy những thành tích đã đạt được, trên cơ sở đó tiếp tục nâng cao vai trò lãnh đạo của mình cùng tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên tìm tòi mọi giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ đáp ứng với yêu cầu của xã hội ngày càng phát triển trong đó có giáo dục mầm non. Thường xuyên đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo có hiệu quả về công tác nâng cao chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong nhà trường góp phần nâng cao chất lượng nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ. Là một cán bộ quản lý tôi sẽ cố gắng học hỏi nhiều hơn nữa và chuyển tải những kinh nghiệm vốn có của bản thân để trao đổi với bạn bè, đồng nghiệp ở các trường bạn. Tuyên truyền đến các bậc cha mẹ và cộng đồng thấy được tầm quan trọng của công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non. 3.2. Kiến nghị: 16 Hàng năm Phòng giáo dục và Đào tạo, trung tâm y tế Thị xã tổ chức cho cán bộ, giáo viên, nhân viên bậc học mầm non tham gia tập huấn công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, cách phòng ngừa các dịch bệnh thường xảy ra trong trường mầm non để cán bộ, giáo viên nắm được phòng tránh dịch bệnh không xảy ra trong trường. Mỗi cán bộ, giáo viên, nhân viên có ý thức giữ gìn vệ sinh, các nhà trường xây dựng kế hoạch phun thuốc diệt muỗi, các loại côn trùng hàng năm. Phối hợp cùng nhà trường thực hiện tốt công tác vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non có tổ chức ăn bán trú. Tổ chức bồi dưỡng cho cán bộ, giáo viên những kiến thức cơ bản về cách giữ vệ sinh và vệ sinh an toàn thực phẩm trong nhà trường. Tuyên truyền giáo dục các bậc cha mẹ trẻ về nội dung và hình thức giữ gìn vệ sinh, an toàn thực phẩm, đặc biệt qua các hội thi hoặc các thông điệp “Hãy cùng nhau chung tay bảo vệ môi trường”. Xây dựng các hoạt động học có chủ định, có lồng ghép các nội dung giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm phù hợp với từng chủ đề góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ. Trên đây là kinh nghiệm nhỏ “Một số biện pháp nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non Quang Châu” được rút ra trong thời gian quản lý, chỉ đạo các năm học. Do khả năng và kinh nghiệm còn hạn chế của bản thân, tôi đã mạnh dạn xây dựng đề tài này, thời gian nghiên cứu chưa nhiều, đề tài không khỏi hạn chế thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến, giúp đỡ tận tình của các đồng chí lãnh đạo để đề tài của tôi ngày càng đầy đủ và hoàn thiện hơn./. *Cam kết: Tôi cam đoan đây là sáng kiến của bản thân tôi viết, không sao chép nội dung hoặc vi phạm bản quyền của người khác. Xin chân thành cảm ơn! Quang Châu, ngày 15 tháng 05 năm 2025 THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ TÁC GIẢ Vũ Thị Minh Hoạ 17 18

File đính kèm:

  • pdfmot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_ve_sinh_an_toan_thuc_ph.pdf
Giáo án liên quan