Một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo lớp 3-4 tuổi C1 trường mầm non Vĩnh An số 1 huyện Sơn Động Tỉnh Bắc Giang
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo lớp 3-4 tuổi C1 trường mầm non Vĩnh An số 1 huyện Sơn Động Tỉnh Bắc Giang, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Phụ lục 2
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THUYẾT MINH MÔ TẢ BIỆN PHÁP
1. Tên biện pháp: “Một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo lớp
3 - 4 tuổi C1 trường mầm non Vĩnh An số 1 huyện Sơn Động - Tỉnh Bắc Giang”
2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử : 06/9/2024
3. Các thông tin cần bảo mật (nếu có): Không
4. Mô tả các biện pháp cũ thường làm
Biện pháp 1: Lựa chọn một số việc vừa sức với trẻ
Tôi đã cùng giáo viên cùng lớp lựa chọn ra danh sách một số việc mà trẻ lớp
tôi có khả năng làm được như: Tự đi vệ sinh, tự dọn dẹp đồ chơi sau khi chơi xong,
tự rửa tay bằng xà phòng, tự xúc cơm ăn và ăn sạch sẽ, lấy và cất gối đúng nơi qui
định tôi luôn động viên, khích lệ trẻ phải hoàn thành công việc được giao để trẻ
cảm thấy là mình đã lớn. Đôi khi tôi cũng có thể đưa ra một số công việc có mức
độ khó khăn cao để thử thách trẻ,tạo cho trẻ thích được tìm hiểu về công việc mới,
từ đó trẻ sẽ tích cực tham gia hoạt động hơn, hoàn thành công việc tốt hơn.
Biện pháp 2: Chấp nhận và thỏa mãn nhu cầu tự lập của trẻ
Nhu cầu tự lập của trẻ xuất hiện từ khi trẻ lên 3 và nó không ngừng phát
triển. Khi trẻ tách được mình ra khỏi người lớn và ý thức được khả năng của mình
đồng thờ cũng xuất hiện một thái độ với người lớn, trẻ muốn trở thành người lớn
ngay lập tức. Tính độc lập xuất hiện ở trẻ, nhu cầu muốn hành động độc lập ở trẻ là
rất lớn. Nhu cầu khẳng định mình là một động lực mạnh mẽ, túc đẩy trẻ hành động,
đây chính là cơ sở, tiền đề cho sự hình thành và phát triển tính tự lập của trẻ. Khi
trẻ có nguyện vọng tự lập, mong muốn được tự mình làm, trẻ hay nói để cháu (con)
tự làm, người lớn cần kịp thời nhận thấy khả năng mới của trẻ, tôn trọng và thỏa
mãn tính độc lập của trẻ ở chừng mực cho phép, đồng thời hướng dẫn trẻ một số
việc tự phục vụ hoặc giúp đỡ người lớn để tính tự lập của trẻ phát triển.
Biện pháp 3: Tạo điều kiện để trẻ được vui chơi và chơi với bạn bè
Hoạt động vui chơi là hoạt động quan trọng nhất, giữ vai trò chủ đạo ở lứa
tuổi mẫu giáo. Thông qua hoạt động vui chơi làm biến đổi về chất trong toàn bộ
đời sống tâm lý của trẻ. Vì vậy ở lứa tuổi này đồ chơi không phải là thứ để nghịch
như trước đây mà bây giờ qua chơi với đồ chơi giúp trẻ khám phá chức năng và
Trang 1 phương thức sử dụng tương ứng với các đồ dùng. Đồng thời khi trẻ sử dụng dồ
chơi thì cũng lĩnh hội được các quy tắc hành vi ứng sử trong xã hội ẩn chứa trong
quá trình hành động đó. Từ đó trẻ sẽ học được và tự lập trong các thao tác hành
động với các đồ dùng, từ đó giúp trẻ tự tin và tự lập hơn trong cuộc sống.
* Ưu, khuyết điểm khi áp dụng giải pháp:
- Ưu điểm:
Các giải pháp trên phù hợp với tình hình dạy và học của trẻ 3-4 tuổi trong
trường mầm non.
Hình thành cho trẻ một số kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng vệ sinh cá nhân, tự tin,
mạnh dạn sẵn sàng giúp đỡ mọi người xung quanh.
* Khuyết điểm:
Bản thân tôi chưa chú trọng xây dựng tổ chức những hoạt động nhằm giáo
dục tính tự lập cho trẻ tại lớp tôi phụ trách. Chư thường xuyên đánh giá sau mỗi
việc làm của trẻ. Lồng ghép giáo dục tính tự lập cho trẻ vào các hoạt động hàng
ngày chưa phong phú, đa dạng, rõ ràng.
Một số trẻ chưa học qua độ tuổi nhà trẻ nên các kỹ năng phục vụ của trẻ hầu
như không có mà hoàn toàn phụ thuộc vào bố mẹ và cô giáo. Đa số trẻ còn nhút
nhát, rụt rè, tính tự lập của trẻ còn hạn chế như: Không biết cởi áo, cởi dày dép,
xúc cơm ăn, lấy nước uống, thậm chí một số trẻ không biết cắm sữa để uống... tính
tự lập của trẻ còn rất yếu.Trẻ chưa có thói quen tự lập, còn ỉ lại.
Một số phụ huynh đi làm công ty để con cái ở nhà với ông bà nên trẻ quá
được nuông chiều gây nên tính ỷ lại, ương bướng, không chịu tự phục vụ bản thân
mình, nhiều phụ huynh chưa hiểu tầm quan trọng của giáo dục tính tự lập cho con
từ nhỏ mà có tư tưởng lớn lên trẻ sẽ tự biết, tình trạng làm thay, làm hộ rất nhiều
nên chưa phối kết hợp với cô trong quá trình giáo dục tính tự lập cho trẻ vẫn còn
tình trạng: “ Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược.”. Công tác phối hợp với phụ huynh
rèn thói quen, ý thức tự lập cho trẻ động chưa được thường xuyên và chú trọng.
5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến:
Như chúng ta củng biết, tính tự lập là những suy nghĩ, hoạt động do chính bản
thân thực hiện, không phụ thuộc, không chờ giúp đỡ. Đó là những cách nghĩ độc
lập luôn cố gắng để đạt mục đích đề ra. Tự lập không phân biệt lớn nhỏ, không
phải chờ đến tuổi trưởng thành mới cần tự lập. Đặc biệt hơn tự lập không phải ai
sinh ra cũng đã có mà nó có được thông qua rèn luyện.
Trang 2 Và chúng ta cũng có thể khẳng định rằng tính tự lập sẽ là chìa khóa cho sự
thành công, nhân cách, bản lĩnh sống của mỗi con người. Chính vì vậy chúng ta
cần tìm ra phương pháp giáo dục trẻ một cách khoa học nhất.
Với trẻ 3 - 4 tuổi, tính tự lập đã xuất hiện tuy biểu hiện tự lập của trẻ chưa
được như ở người trưởng thành nhưng việc trẻ muốn được mọi người thừa nhận
khả năng của mình, muốn được tự khẳng định mình, tự mình tìm cách giải quyết
nhiệm vụ, hay ngay cả khi trẻ biết chủ động nhờ sự giúp đỡ của người khác trong
lúc khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ cũng chính là biểu hiện của tự lập, điều đó
thể hiện trẻ có sự nỗ lực trong ý chí để hoàn thành nhiệm vụ của trẻ.
Trong thực tế tính tự lập của trẻ 3 tuổi còn ở mức thấp, trẻ chưa tự tin tham
gia vào hoạt động, chưa thể hiện khả năng tự lập của mình, chưa quyết tâm thực
hiện các nhiệm vụ được giao, khả năng hợp tác khi trẻ chơi theo nhóm còn yếu, trẻ
chỉ chơi cạnh nhau nhưng chưa biết hợp tác cùng nhau. Khi các điều kiện thay đổi
hoặc khi gặp tình huống xẩy ra khả năng thích nghi của trẻ chưa cao, trẻ thường
chán nản, bỏ lửng hoạt động của mình vì chưa tìm được cách giải quyết và trẻ cũng
không nhờ vào sự giúp đỡ của cô giáo hay bạn bè điều này do kinh nghiệm thực
tiễn của trẻ chưa nhiều, chưa phong phú.
Tuy nhiên, giữa cuộc sống bộn bề với nhiều lo toan của cuộc sống, nhiều cạm
bẫy của xã hội đã vô hình chung cướp đi rất nhiều cơ hội để trẻ được rèn luyện tính
tự lập của mình. Cụ thể như: Nhiều cha mẹ bận rộn với công việc hoặc đi làm xa
gửi con cho ông bà, người thân chăm sóc, không có thời gian dành cho con, sợ trẻ
ra ngoài gặp nguy hiểm, rủi ro, sợ này, sợ kia Có những phụ huynh còn nuông
chiều con quá đà, cái gì cũng làm giúp con kể cả những việc mà trẻ dư sức có thể
làm được như: Mặc quần áo, đeo giầy, dép, cất đồ dùng, đồ chơi, tự xúc cơm ăn
dẫn đến trẻ không biết làm một thứ gì cả nên khi ra ngoài trẻ hay bị mặc cảm, thiếu
tự tin vào bản thân mình. Nhất là đối với các trẻ ở vùng núi như quê hương Sơn
Động, khi mà cuộc sống của các cháu còn gặp rất nhiều khó khăn, nhận thức của
các bậc phụ huynh còn nhiều hạn chế, trẻ không có nhiều cơ hội tiếp xúc với sự đa
dạng của cuộc sống thì vấn đề rèn tính tự lập cho các cháu là vô cùng cần thiết.
Chính vì lẽ đó mà tôi đã mạnh dạn lựa chọn và áp dụng “Một số biện pháp giáo
dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo lớp 3 - 4 tuổi C1 trường mầm non Vĩnh An số 1
huyện Sơn Động - Tỉnh Bắc Giang”
6. Mục đích của giải pháp sáng kiến
Đặt mục tiêu rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ là điều rất cần thiết. Việc hình
thành các kỹ năng cơ bản trong học tập và sinh hoạt là yếu tốt quyết định đúng
Trang 3 đắng, quá trình hình thành và phát triển nhân cách sau này của trẻ. Khi xảy ra vấn
đề nào đó nếu không được trang bị những kỹ năng cần thiết, trẻ sẽ không đủ kiến
thức để xử lý các tình huống bất ngờ. Vì thế rèn luyện những kỹ năng cần thiết,
đặc biệt là những kỹ năng tự lập sẽ giúp trẻ sớm có ý thức làm chủ bản thân, sống
tích cực và hướng đến những điều lành mạnh cho chính mình cũng như xã hội.
Người lớn thường không muốn trẻ phải gánh nhiều trách nhiệm khi chưa thực
sự sẵn sàng, thế là lại tiếp tục làm mọi việc giúp trẻ như thường lệ mà ít nhận ra
rằng con trẻ đã đủ khéo léo, có các kỹ năng phù hợp và đủ tự tin bắt tay vào một
công việc nào đó. Để hình thành tính tự lập, người lớn cần tin tưởng trẻ, động viên
và khuyến khích trẻ làm những công việc trong khả năng. Nếu mọi người kiểm
soát quá chặt để trẻ phục thuộc quá lâu thì trẻ sẽ bám riết lấy cha mẹ, cô giáo,
chúng có thể trở thành những đứa trẻ lười biếng và mọi việc đối với trẻ đều trở lên
khó khăn. Chắc hẳn ai cũng đã được nghe câu nói "Nếu bắt cho con một con cá,
con sẽ có cá ăn mọt ngày. Nhưng nếu dạy con bắt cá, con sẽ có cá ăn suốt đời"
Xuất phát từ tư duy này cô giáo và cha mẹ nên dạy con tính tự lập, làm việc
bằng đôi tay của mình ngay từ nhỏ. Với mỗi độ tuổi khác nhau hãy đặt ra mục tiêu
và cách thực hiện các bước khác nhau để dạy trẻ về tính tự lập theo lời Bác Hồ dạy
"Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình". Vì vậy ngay từ đầu năm học tôi
đã đặt ra các mục tiêu để rèn luyện kỹ năng cho trẻ lớp mình như sau:
- Kỹ năng tự phục vụ bản thân: Tự nhặt đồ chơi; tự cởi và mặc quần áo; tự rửa
tay; rửa mặt; tự đi dép, tự cất dép, lấy và cất đồ dùng cá nhân của mình khi đến lớp
và khi ra về; tự ăn; tự lấy và cất gối
- Kỹ năng giữ gìn vệ sinh: Tự thay quần áo khi thấy bẩn; tự xúc miệng sau khi
ăn; lau nước trên sàn, lau bụi bẩn trên bàn; xả nước sau khi đi vệ sinh, đi vệ sinh
đúng nơi quy định; rửa tay, chân bằng xà phòng khi tay, chân bẩn, nhặc rác, bỏ rác
vào đúng nơi quy định, biết tự đi vệ sinh khi thấy có nhu cầu.
- Kỹ năng hỗ trợ người khác: Lấy, cất đồ dùng học tập, chuẩn bị bàn ăn,
giường ngủ cùng cô, lấy ly nước uống khi được nhờ, xách phụ đồ, tưới cây
Việc xác định được những kỹ năng như trên đã giúp tôi định hướng được
nhiệm vụ của mình trong công tác chăm sóc trẻ nói chung và việc thực hiện đề tài
nghiên cứu nói riêng. Và nhờ xác định được những kỹ năng đó mà tôi đã rèn trẻ
thông qua các hoạt động trong ngày. Vì vậy tôi đã đi sâu vào nghiên cứu đề tài
“Một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo lớp 3 - 4 tuổi C1 trường
mầm non Vĩnh An số 1" nhằm góp phần nhỏ bé vào việc giáo dục tính tự lập cho
Trang 4 trẻ lớp 3 – 4 tuổi C1 nói riêng và và trẻ trong trường Mầm non Vĩnh An số 1 nói
chung sẽ đạt kết quả tốt hơn nữa.
7. Nội dung:
Từ những nhận thức của mình về vấn đề giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo
3 – 4 tuổi, tôi định hướng được nhiệm vụ của mình trong công việc nghiên cứu
này. Và để gặt hái được nhiều kết quả tốt trong quá trình thực hiện, ngay từ đầu
năm học tôi đã thực hiện khảo sát trẻ theo những kỹ năng cần thiết để giáo dục tính
tự lập cho trẻ mà tôi đã xác định ở trên.
BẢNG KẾT QUẢTRƯỚC KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Trước khi thực Tỷ lệ %
Nội dung hiện đề tài ( Số trẻ đạt)
Kỹ năng tự phục vụ 10/20 50%
Kỹ năng giữ gìn vệ sinh 12/20 60%
Kỹ năng giúp đỡ người khác. 11/20 55%
Qua bảng khảo sát, tôi nhận thấy trẻ lớp tôi đa số còn chưa biết cách tự phục
vụ bản thân, chưa có ý thức giữ gìn vệ sinh thân thể, đặc biệt kỹ năng hỗ trợ người
khác rất ít trẻ đạt yêu cầu. Trẻ lớp tôi còn ỉ lại, dựa dẫm vào cô giáo trong lớp, nếu
không có cô giúp hoặc nhắc nhở trẻ thì trẻ không biết phải làm gì. Từ kết quả trên
tôi đã cố gắng định hướng cho trẻ cần phải làm những gì đầu tiên sau đó dần dần
đạt được kết quả mình muốn và nghiên cứu các biện pháp cụ thể để giáo dục tính
tự lập cho trẻ bằng các biện pháp sau:
Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch giáo dục tính tự lập cho trẻ
Biện pháp 2: Tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lý, khả năng của lứa tuổi
Biện pháp 3: Giáo dục trẻ có tính tự lập ngay từ những ngày đầu đến lớp:
Biện pháp 4: Lồng ghép giáo dục tính tự lập cho trẻ vào mọi hoạt động
trong ngày
Biện pháp 5: Tuyên truyền, phối kết hợp với phụ huynh giáo dục tính tự lập
cho trẻ
7.1. Thuyết minh biện pháp mới hoặc cải tiến:
Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch giáo dục tính tự lập cho trẻ
Để việc giáo dục tính tự lập cho trẻ đạt được kết quả cao, ngay từ đầu năm
học tôi đã lên kế hoạch cụ thể, rõ ràng từng tháng xuyên xuốt từ những kĩ năng dễ
tới những kỹ năng khó như sau:
Trang 5 Kế hoạch giáo dục tính tự lập cho trẻ lớp mẫu giáo bé
Thời gian Kĩ năng
- Biết lấy và cất đồ dùng cá nhân khi đến lớp và ra về.
Tháng 9
- Biết tự đi lấy nước uống và cất cốc đúng nơi quy định.
Tháng 10 - Biết tự đi vệ sinh khi có nhu cầu.
- Biết tự gấp khăn của mình.
Tháng 11
- Biết cất, xếp đồ dùng, đồ chơi đúng nơi quy định.
- Biết tự cầm thìa xúc ăn mà không cần cô nhắc.
Tháng 12
- Biết bỏ rác đúng nơi quy định.
- Biết tự rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩn bằng
Tháng 1 xà phòng.
- Biết tự xúc miệng sau khi ăn.
- Biết tự chào hỏi người lớn.
Tháng 2
- Biết đi và tháo giầy, dép.
- Biết giúp đỡ người khác khi được yêu cầu.
Tháng 3
- Biết cởi, mặc quần áo.
- Biết kêu gọi sự giúp đỡ của người khác khi cần.
Tháng 4,5
- Trẻ tự tin làm một số công việc
Biện pháp 2: Tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lý, khả năng của lứa tuổi
Để có những biện pháp giáo dục kĩ năng tự lập cho trẻ mẫu giáo 3 tuổi lớp
tôi đang phụ trách. Ngay từ khi nhận lớp, tôi đã tìm hiểu về tâm sinh lý, về khả
năng nhất định của trẻ để phần nào hiểu được tâm sinh lý cũng như nhu cầu của
bản thân trẻ từ đó đưa ra kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ tốt nhất.
Nhắc đến trẻ lên ba, ai ai cũng nghĩ ngay tới cụm từ “Khủng hoảng tuổi lên
ba”. Thật vậy, bởi tâm lý trẻ 3 tuổi khá đặc biệt. Có lúc ngoan rất ngoan, có lúc lại
hư không ai bảo được, nó cứ như một vòng quay lúc thế này lúc thế kia, nói nhiều
hỏi lắm, khó vừa ý. Bởi một cái “tôi” trong trẻ xuất hiện, trẻ thích làm mọi thứ
theo ý của mình, trẻ thích tập làm người lớn, quan tâm nhiều hơn đến thế giới xung
quanh, cái gì cũng có vẻ như có nam châm thu hút bé vào cuộc. Những tình trạng
chống đối, không chịu phục tùng, nói một đằng làm một nẻo, mọi câu trả lời của
người lớn dường như là không hài lòng cứ liên tục tiếp diễn, thích và muốn, trẻ cần
được chú ý bằng mọi cách.
Ví dụ 1: Trong giờ thể dục sáng. Khi nhạc cất lên là khi bài tập bắt đầu. Có
nhiều trẻ khi nghe nhạc thì đánh trống lảng, coi như không nghe tiếng, không làm
Trang 6 theo lời cô. Thậm chí còn lại gần cô hơn hoặc đứng lùi hẳn ra xa các bạn để cho cô
biết rằng mình chưa làm theo lời cô. Có trẻ thì biện đủ lý do như: mỏi tay, mỏi
chân, hay có sử dụng dụng cụ gì thì cũng tìm lý do để chống lại như hôm nay con
không thích tập vòng với các bạn, con tập gậy, con thích tập cái này, cái kia và
chốt lại là không muốn làm theo những gì cô dạy.
Ví dụ 2: Trong giờ vệ sinh, khi một số bạn rửa tay rất nhanh và về vị trí thì
lại có một số bạn tỏ vẻ chống đối vì không muốn dừng chơi trước đó hoặc vì
không muốn đi rửa, nên cố tình rửa chậm, lấy thật nhiều xà phòng để chơi, thậm
chí là bôi xà phòng vào bạn khác, hay lên tường để gây sự chú ý của người khác
mà không tuân theo hướng dẫn của cô.
Nếu giáo viên không biết được đặc điểm tâm, sinh lý của trẻ thì không thể
biết được trẻ đó có khả năng làm được những công việc gì, đã phù hợp với lứa tuổi
của trẻ hay chưa. Liệu rằng có vừa sức với trẻ không? Hay những việc đó là nặng
nhọc đối với trẻ. Để từ đó cô lựa chọn những kỹ năng phù hợp nhất cho trẻ thực
hiện.Tôi luôn để các câu hỏi, câu nói mở đối với trẻ trong mọi tình huống và trường
hợp. Không áp đặt hay yêu cầu trẻ làm khi trẻ không cảm thấy thoải mái, tùy cho trẻ
chọn lựa khả năng của mình thích hợp thực hiện hoạt động đó như thế nào.
Ví dụ 3: Sau khi kết thúc giờ hoạt động tôi luôn khuyến khích động viên trẻ
giúp cô theo khả năng của mình và cho trẻ chọn công việc phù hợp với trẻ. Có trẻ
thì cất ghế, trẻ cất sách, trẻ cất bút
“Khủng hoảng tuổi lên 3” là hiện tượng phổ biến mà đa số trẻ đều gặp phải.
Song nó lại mang tính tạm thời, chuyển tiếp. Sự tách rời về bản thân ra khỏi người
khác, mong được độc lập tự chủ đó là tiền đề cho sự hình thành nhân cách trẻ trong
những giai đoạn tiếp theo.Vì vậy tạo kỹ năng tự lập, tự phục vụ cho trẻ là rất quan
trọng. Đòi hỏi giáo viên phải nghiên cứu tìm hiểu, quan sát, gần gũi trẻ để hiểu rõ
tâm sinh lý của trẻ. Qua tìm hiểu, tôi phần nào nắm được tính cách, sở thích, thái
độ, khả năng của từng trẻ. Từ đó xây dựng kế hoạch hoạt động của lớp mình một
cách khoa học, hiệu quả.
Biện pháp 3: Giáo dục trẻ có tính tự lập ngay từ những ngày đầu đến lớp:
Ngay từ những ngày đầu năm học, khi trẻ bắt đầu quen dần với cô, với bạn,
làm quen với môi trường lớp học tôi tiến hành rèn luyện cho trẻ một số kỹ năng
đơn giản:
Kỹ năng tự phục vụ và giữ gìn vệ sinh: Khi vào lớp tôi hướng dẫn trẻ cất
cặp, dép đúng nơi quy định. Trước giờ ăn tôi hướng dẫn trẻ rửa tay bằng xà phòng,
khi ăn tôi nhắc các cháu tự xúc ăn, khi ăn xong tôi hướng dẫn trẻ rửa tay, rửa mặt,
Trang 7 tự rót nước uống. Tôi hướng dẫn trẻ rửa tay khi tay bị bẩn, đi vệ sinh đúng nơi quy
định, bỏ rác đúng nơi quy định.
Ví dụ: Trước khi cho trẻ ăn cơm, khi tay bị bẩn, sau khi đi vệ sinh xong tôi
nhắc trẻ tự rửa tay bằng xà phòng, khi rửa xong phải khóa vòi nước, lúc đầu một số
trẻ chưa quen, không rửa tay đúng cách tôi hướng dẫn, giải thích cho trẻ thực hiện
đúng dần dần hình thành thói quen cho trẻ và trẻ tự giác thực hiện.
(Hình ảnh: Trẻ tự rửa tay bằng xà phòng)
Kỹ năng hỗ trợ người khác: Giúp cô, giúp bạn thu dọn đồ chơi, giúp cô bày
và thu dọn bàn ăn, lấy bát ăn cơm, lấy ca uống nước.
(Hình ảnh trẻ giúp cô thu dọn đồ chơi sau giờ học)
Trang 8 Kỹ năng mạnh dạn giải quyết vấn đề: Trong giờ học tôi thường đưa ra một
số câu hỏi, hoặc một số tình huống và yêu cầu trẻ giải quyết. Tôi dạy trẻ khi muốn
phát biểu thì phải giơ tay xin phép cô, khi nói câu từ phải rõ ràng mạch lạc, mạnh
dạn đưa ra các ý kiến theo suy nghĩ của mình, không ngại nói sai.
Đặc điểm tâm lí của trẻ là thích được bắt chước, tuy nhiên trẻ lại có tính hay
quên. Thế nên việc rèn luyện tính tự lập cho trẻ cần phải diễn ra thường xuyên ở
mọi lúc, mọi nơi và phải có sự quan sát, hỗ trợ của cô. Và muốn hình thành thói
quen cho trẻ thì tôi đã thực hiện một số nội dung sau:
Phân công công việc cụ thể: Trong lớp học tôi luôn phân công công việc cho
từng thành viên để các cháu hiểu rằng mỗi người đều có trách nhiệm với công việc
và hình thành thói quen làm việc. Chẳng hạn, tôi chia lớp thành 3 tổ, đến giờ ăn, tổ
1 xếp ghế vào bàn, tổ 2 bưng cơm cho các bạn, tổ 3 lau bàn sau khi ăn cơm xong,
cứ như thế mỗi ngày tôi thay đổi công việc của các tổ với nhau, dần dần từng trẻ
đều có thể làm quen với công việc ở lớp. Dần dần trẻ có thói quen đến giờ ăn trẻ tự
giác làm công tác trực nhật không đợi cô nhắc nhở.
Cho trẻ được làm nhiều lần: Khi mới tiến hành rèn trẻ thì mỗi ngày ăn cơm
trưa xong tôi phải nhắc trẻ, hướng dẫn trẻ rửa tay, rửa mặt sạch sẽ, thay quần
áo, hoặc đối với trẻ có kỹ năng còn hạn chế thì tôi hướng dẫn cháu nhiều lần và.
Thế nhưng, sau khi những công việc đó được diễn ra thường xuyên thì chỉ cần một
thời gian ngắn thì trẻ sẽ tự có ý thức cho việc vệ sinh, tự phục vụ cho mình mà
không cần sự nhắc nhở hay hướng dẫn của cô.
Khen thưởng, khích lệ, động viên: Trẻ nhỏ luôn thích được cô khen vì vậy
để giúp trẻ nhanh chóng làm quen với việc tự lập tôi luôn dành cho trẻ những lời
khen ngợi, động viên và những bông hoa bé ngoan ở cuối ngày. Việc khen ngợi trẻ
cần được xem như hành động công nhận trẻ đã hoàn thành công việc nào đó, cho
dù chúng chỉ hoàn thành ở mức sơ sài nhất. Điều này còn góp phần giúp trẻ hiểu
được tầm quan trọng của công việc và trở thành người có trách nhiệm với hành vi
của mình.
Ví dụ: Vào cuối ngày trẻ được nêu gương tôi cho lớp nhận xét từng bạn so
với tiêu chuẩn bé ngoan cô đưa ra xem trẻ có ngoan hay không:
Bạn Minh Phương được nhận cờ bé ngoan không? Vì sao được nhận cờ?
hôm nay đi học như thế nào? Bạn làm việc gì ngoan và tốt: bạn đi học biết tự để
dép và cặp đúng nơi, không phá đồ chơi trong lớp, biết chào hỏi người lớn, giúp cô
dọn bàn ăn, không bị cô giáo la. Nếu bạn ngoan thì được gì?
Trang 9 Biện pháp 4: Lồng ghép giáo dục tính tự lập cho trẻ vào mọi hoạt động trong ngày
Giờ đón - trả trẻ: Tôi quan sát thấy một số trẻ khi đến lớp trẻ không cất dép
đúng nơi quy định, chưa biết cất balo vào tủ của mình.
Ví dụ: Từ đầu năm học một số trẻ như bạn Hải, Tuấn, Nghĩa, Nhật, Đạt,
Minh Phương đến lớp thì để dép ngay cửa ra vào, cặp thì để ba mẹ cất dùm
không biết tự làm, tôi phải hướng dẫn trẻ tự làm bằng cách trò chuyện và dạy trẻ:
tôi hỏi trẻ khi đến lớp con thấy các bạn để dép và cặp ở đâu? Con thấy bạn làm có
giỏi không? Sao con không tự làm giống bạn? Và tôi bắt đầu hướng dẫn trẻ tự để
dép lên giá, sau đó mang cặp cắt vào tủ. Khi trẻ tự làm tôi khen trẻ và nhắc trẻ lần
sau nhớ làm đúng như vậy. Và những ngày tiếp theo tôi để ý theo dõi xem trẻ có
làm đúng không, nếu trẻ quên tôi nhắc trẻ và trong thời gian 1- 2 tuần trẻ bắt đầu
quen và có ý thức cất đồ đúng nơi và trẻ cũng nhắc nhở khi có bạn làm sai.
(Hình ảnh: Trẻ tự cất đồ dùng cá nhân khi đến lớp)
- Đầu năm học trẻ chưa biết giơ tay phát biểu, ngồi tại chỗ trả lời câu hỏi của
cô. Tôi bắt đầu dạy trẻ cách giơ tay khi muốn nói, không được ngồi để trả lời câu
hỏi, không được nói leo khi người lớn nói, khi nói chuyện với người lớn phải dạ
thưa và nói tròn câu và nói theo suy nghĩ của bản thân.
- Trong giờ học: Tôi dạy trẻ tự lấy, cất đồ dùng đúng nơi quy định. Hoặc
phân công cho 1 nhóm chuẩn bị
Ví dụ: Trong giờ học toán tôi đã chuẩn bị rổ đồ dùng và bảng cho mỗi trẻ
nhưng tôi đặt chúng vào một bàn tôi cho mỗi trẻ lên lấy một rổ và một bảng về chỗ
của mình để học. Sau khi học xong tôi cũng cho trẻ cất đồ dùng về đúng vị trí. Hay
trong giờ học tạo hình cần đến hộp màu tôi thường nhờ trẻ chuẩn bị bàn học và hộp
màu cho các bạn.
Trang 10
(Hình ảnh trẻ cất hộp màu sau hoạt động Tạo hình)
Giờ hoạt động lao động: Tôi tổ chức cho trẻ tham gia một số hoạt động
như: Nhặt lá rụng, nhổ cỏ, bắt sâu, tưới nước, nhặt rác bỏ vào thùng. Tôi chia trẻ
thành các nhóm nhỏ (mỗi nhóm 4- 5 trẻ) và hướng dẫn mỗi nhóm một công việc
khác nhau. Khi thấy trẻ gặp khó khăn khi thực hiện những kỹ năng mới tôi tham
gia cùng làm với trẻ, kết hợp trò chuyện để hiểu vì sao cần chăm sóc cây, cho trẻ
hiểu ý nghĩa tác dụng của việc đang làm giúp trẻ có ý thức bảo vệ môi trường.
(Hình ảnh trẻ nhặt lá rụng sân trường)
Trang 11 Giờ hoạt động góc: Đầu năm học khi trẻ chơi xong thường bỏ đồ chơi và
vứt lung tung không biết thu dọn cất đúng nơi quy định, tôi phải hướng dẫn, nhắc
nhở trẻ cất vào đúng nơi quy định.
Ví dụ: Khi trẻ chơi xong tôi hỏi trẻ con thấy đồ chơi để như thế nào?
+ Nhìn vào có đẹp không? Vậy để đồ chơi ngăn nắp ngọn gàng khi chơi
xong con làm gì?
- Lúc đầu tôi và trẻ cùng dọn dẹp, sau một thời gian khi chơi xong trẻ bắt
đầu hình thành thói quen cất đồ đúng nơi quy định và khi thấy đồ chơi để không
đúng chổ trẻ tự động cất vào.
(Hình ảnh: Trẻ tự cất dọn đồ chơi sau giờ hoạt động góc)
Giờ vệ sinh ăn ngủ: Khi chuẩn bị cho trẻ ăn tôi hay hỏi trẻ cô sẽ làm những
việc gì? Con hãy giúp cô xếp ghế của mình vào chỗ. Tôi hướng dẫn trẻ cách lấy
ghế xếp vào bàn ăn và khi ăn cơm xong tôi nhắc trẻ cất ghế vào chỗ cũ.
- Tôi tập cho trẻ giúp tôi bưng cơm đến bàn cho bạn, và khi trẻ làm quen tôi
nhờ đến bạn khác. Như vậy khi đến giờ ăn trẻ tự động lấy ghế xếp vào bàn ăn biết
bưng cơm cho bạn giúp cô. Khi ăn trẻ phải biết mời bạn, mời cô ăn cơm, khi ăn
cơm các cháu phải tự xúc cơm ăn, không làm rơi vãi thức ăn ra bàn.
Ví dụ: Đầu năm học một số cháu Nhật, Đạt, Hân chưa biết cách cầm thìa
múc cơm tôi phải dạy cháu cách cầm thìa để xúc cơm ăn, lúc đầu trẻ ăn còn rơi vãi,
sau 2 đến 3 tuần trẻ đã tự xúc cơm ăn không còn làm rơi cơm và thức ăn ra bàn và
không đợi cô giáo đút.
Trang 12
(Hình ảnh: Trẻ tự xúc ăn)
Khi khát nước trẻ tự lấy ca có hình dán ký hiệu của mình trên giá, rồi rót
một lượng nước vừa đủ, uống xong lại úp lên giá.Tôi tận dụng giờ đi ngủ tập cho
trẻ chuẩn bị giường ngủ. Đó có thể là cho trẻ lấy gối của mình sắp xếp vị trí gối
nằm ở đâu. Và khi ngủ dậy tập cho trẻ thói quen cất gối vào nơi quy định. Có trẻ
còn biết giúp cô trải và cất chiếu.
Biện pháp 5: Tuyên truyền, phối kết hợp với phụ huynh giáo dục tính tự lập cho trẻ
Trong giáo dục mầm non thì sự kết hợp giữa gia đình và nhà trường là vô
cùng quan trọng, bởi không phải phụ huynh nào cũng hiểu được giáo dục tính tự
lập cho trẻ là rất cần thiết, vì vậy tôi thường xuyên chia sẻ các nội dung về giáo
dục tính tự lập cho trẻ với phụ huynh qua giờ đón, trả trẻ, qua các buổi họp phụ
huynh,
Thông qua buổi họp phụ huynh đầu năm, tôi thông qua chương trình giáo dục
trẻ nói chung và giáo dụctính tự lập cho trẻ nói riêng với phụ huynh, giúp họ nắm
bắt và góp ý để thống nhất về nội dung, phương pháp, biện pháp giáo dục cho trẻ.
Tôi gợi ý cho phụ huynh giáo dục rèn tính tự lập cho trẻ ở nhà. Khi ở nhà, bố mẹ
có thể để trẻ tự làm một số công việc nhẹ nhàng mà không cần bố mẹ phải làm hộ
như: tự cất đồ chơi khi chơi xong, tự rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi
đi vệ sinh, trẻ tự xúc cơm ăn, tự lấy ca uống nước và cất đúng nơi quy định, tự lấy
gối khi đi ngủ
Trang 13 Tạo các trang liên kết giữa giáo viên với các bậc phụ huynh qua Zalo,
Facebook. Theo từng chủ đề, ngoài việc tuyên truyền nội dung giáo dục thông qua
các góc trao đổi, giáo viên tạo các nhóm liên kết qua Zalo, Facebook để phụ huynh
nắm bắt thông tin về giáo dục trẻ ở nhà trường và lớp. Hàng ngày, giáo viên ghi hình
về việc trẻ tham gia trong các hoạt động ở lớp, ở trường đưa lên các trang liên kết để
trẻ có dịp xem lại, phụ huynh kịp thời nắm bắt và ủng hộ việc làm của giáo viên, kết
hợp hỗ trợ giáo dục trẻ tại gia đình. Đối với gia đình, giáo viên khuyến khích phụ
huynh ghi lại những việc trẻ làm được và đăng trên nhóm để trẻ, phụ huynh trong
lớp được biết, khuyến khích tính thi đua trong trẻ, sự đồng bộ trong phụ huynh. Cuối
chủ đề, giáo viên tạo thành những video về những hoạt động tự lập của trẻ ở nhà
cũng như ở trường theo mức độ tự lập của trẻ trong tất cả các hoạt động trong ngày
và mở cho cả lớp cùng xem, liên kết với các gia đình qua các trang Zalo, Facebook
để khích lệ tinh thần trẻ. Đồng thời, tạo sân chơi lôi cuốn sự tham gia của các bậc
phụ huynh trong lớp để cùng kết hợp trong giáo dục trẻ nói chung và giáo dục tính
tự lập cho trẻ nói riêng.
Đối với những trẻ biểu hiện tự lập chưa tốt, tôi trao đổi trực tiếp với phụ
huynh để họ nắm bắt về khả năng của trẻ. Đồng thời, bản thân tôi nắm bắt được
quan điểm giáo dục con của trẻ để có biện pháp trao đổi phù hợp và cùng thống
nhất về việc giáo dục tính tự lập cho trẻ. Sau mỗi chủ đề, tôi đánh giá trẻ, rút kinh
nghiệm từ bản thân, tổng hợp ý kiến từ phụ huynh và rút kinh nghiệm cho chủ đề
sau trong quá trình sử dụng biện pháp tác động tới trẻ.
* Kết quả của sáng kiến
- Sau khi thực hiện tốt các biện pháp giáo dục tính tự lập tích cực hiệu quả
cho trẻ tại lớp của tôi đã đạt được những kết quả tích cực như sau :
- Đối với trẻ:
Mức tập trung của trẻ cao hơn rất nhiều, trẻ tự giác trong mọi hoạt động, khả
năng lao động tự phục vụ của trẻ cao, trẻ có kỹ năng, linh hoạt, chủ động. Nhận
thức của trẻ được phát triển do phạm vi tiếp xúc của trẻ được mở rộng.Trẻ khẻo
mạnh và tự tin hơn trong mọi hoạt động.
- Đối với giáo viên:
Giáo viên nắm vững và hiểu rõ nội dung giáo dục tính tự lập, biết tích
hợp nội dung giáo dục tính tự lập cho trẻ vào các hoạt động chăn sóc giáo dục
trẻ hàng ngày. Giáo viên quan tâm đến trẻ, bao quát trẻ, luôn đáp ứng nhu cầu
tự lập của trẻ. Biết xây dựng môi trường hoạt động phù hợp giúp trẻ phát
triển tính tự lập. Đã chú trọng hơn đến việc giáo dục tính tự lập cho trẻ thông qua
Trang 14 các hoạt động ngày ngày của trẻ, phối hợp tốt hơn với phụ huynh trong việc giáo
dục trẻ ở mọi lúc mọi nơi.
- Đối với phụ huynh:
+ Phụ huynh tin tưởng vào công tác chăm sóc giáo dục trẻ của nhà trường
yên tâm công tác phát triển kinh tế. Cha mẹ trẻ cũng hiểu được tầm quan trọng,
đã phối hợp tốt với cô giáo trong việc giáo dục tính tự lập cho trẻ.
+ Phụ huynh nắm rõ đặc điểm tâm linh lý của con mình nói riêng và
đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi nói chung.
+ Kết hợp với giáo viên cùng thực hiện tốt việc giáo dục tính tự lập cho
trẻ, luôn tạo điều kiện để trẻ phát huy tính tự lập.
+ Bản thân giáo viên được trao đổi kiến thức và kinh nghiệm dạy trẻ và
giáo dục tính tự lập qua các môn học, các hoạt động được phụ huynh và
các đồng nghiệp quý mến tin yêu hơn.
* Sản phẩm được tạo ra từ giải pháp
- Đề tài “Một số biện pháp rèn tính tự lập cho trẻ mẫu giáo lớp 3 – 4 tuổi
C1 trường mầm non Vĩnh An số 1”
* Bảng kết quả trước và trong khi áp dụng biện pháp :
Trước khi thực hiện đề Sau khi thực hiện đề
Nội dung tài Tháng 9/2024 tài Tháng 12/2024
Tổng số Tổng số
Tỷ lệ % Tỷ lệ %
trẻ đạt trẻ đạt
Kỹ năng tự phục vụ 10/20 50% 18/20 90%
Kỹ năng giữ gìn vệ sinh 12/20 60% 19/20 95%
Kỹ năng giúp đỡ người khác. 11/20 55% 18/20 90%
7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến
- Biện pháp được áp dụng tại lớp mẫu giáo 3-4 tuổi C1 trường Mầm non Vĩnh
An số 1 và có thể áp dụng cho tất cả các trường mầm non trong huyện.
7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến :
a. Hiệu quả kinh tế:
Cha mẹ cảm thấy mãn nguyện với thành công của trẻ, tin tưởng vào kết quả
giáo dục của nhà trường, không chê bai chỉ trích cô giáo ngược lại cha mẹ thông
cảm, chia sẻ những khó khăn của cô giáo, và sẵn sàng sưu tầm nguyên vật liệu
đóng góp cho lớp, cung cấp vật liệu, phụ giúp giáo viên trang trí lớp, làm đồ chơi,
ủng hộ cây hoa, cây cảnh .
Trang 15 b. Hiệu quả xã hội:
Cô giáo thì chịu khó giảng giải hướng dẫn cho trẻ mọi lúc mọi nơi hơn, ít la
mắng. Giáo viên tích cực tham gia chuyên đề, tự tin, thoải mái, nhẹ nhàng sáng tạo
khi tổ chức hoạt động cho trẻ và không còn thụ động nữa. Bằng các biện pháp khác
nhau trẻ được thực hành, trải nghiệm, được tự thỏa mãn nhu cầu tự lập, tôi thấy học
sinh lớp tôi ngày càng hứng thú tham gia các hoạt động của lớp, và đặc biệt trẻ mạnh
dạn, tự tin hơn trong mọi hoạt động, các kỹ năng tự phụ vụ, kỹ năng giữ gìn vệ sinh,
kỹ năng giúp đỡ mọi người trở nên tốt hơn. Trẻ năng động, sáng tạo, tự tìm hiểu,
khám phá và giải quyết công việc một cách hứng thú.
Giáo dục tính tự lập cho trẻ mầm non nhắm giúp trẻ phát huy khả năng tự
lập, làm cơ sở cho sự hình thành nhân cách của trẻ sau này, trẻ biết được những
điều nên làm và những điều không nên làm, giúp trẻ tự giác, tự tin thể hiện được
khả năng, năng lực của mình. Khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm
ẩn, đặt nền tảng cho việc học tập ở các cấp học tiếp theo./.
* Cam kết không vi phạm bản quyền
- Trên đây là một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ lớp mẫu giáo 3 – 4
tuổi C1 trong trường mầm non Vĩnh An số 1 của bản thân tôi, trong quá trình chăm
sóc và nuôi dưỡng giáo dục trẻ, bước đầu đã thu được thành công nhất định. Tuy
nhiên, vì thời gian nghiên cứu và áp dụng các biện pháp còn chưa nhiều. Do đó,
trong quá trình thực hiện, triển khai thực hiện không tránh khỏi có những hạn chế.
- Tôi xin cam đoan báo cáo sáng kiến trên là do bản thân tự làm qua kinh
nghiệm thực tế và tham khảo sách báo tài liệu. Tuyệt đối không sao chép hoặc vi
phạm bản quyền tác giả nào. Tôi rất mong sự giúp đỡ của các đồng chí lãnh đạo
trong ngành góp thêm kinh nghiệm giúp tôi nâng cao phương pháp giảng dạy phục
vụ cho việc thực hiện các hoạt động cho trẻ ngày một đi lên.
Xác nhận của cơ quan, đơn vị Tác giả sáng kiến
(Chữ ký, dấu) (Chữ ký và họ tên)
Ngọc Thị Quỳnh
Trang 16
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_giao_duc_tinh_tu_lap_cho_tre_mau_giao_lop_3.pdf



