Một số biện pháp cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 3-4 tuổi vùng dân tộc - Đoàn Thị Thủy

docx26 trang | Chia sẻ: tung tung | Ngày: 07/03/2026 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang mẫu tài liệu Một số biện pháp cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 3-4 tuổi vùng dân tộc - Đoàn Thị Thủy, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ Trong mỗi chúng ta ai cũng biết rằng: “Nhân cách của con người chỉ có thể được hình thành thông qua hoạt động giao tiếp”. Để xã hội tồn tại và phát triển, để giao tiếp được thuận tiện, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có một ngôn ngữ riêng. Ngôn ngữ Tiếng Việt là ngôn ngữ thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta không phải lúc nào và ai cũng nói và phát âm chuẩn Tiếng Việt, nhất là con em người dân tộc thiểu số. Ngôn ngữ nói đóng vai trò rất quan trọng của Tiếng Việt nói riêng và trong tiếng nói của các quốc gia nói chung. Yêu cầu đầu tiên và quan trọng của ngôn ngữ là phải núi mạch lạc tròn vành rõ chữ, đúng chính tả. Nghĩa là khi thể hiện ngôn ngữ viết cần phải tuân theo hệ thống các quy tắc về cách viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ. Hay nói cách khác, ngôn ngữ nói là những chuẩn mực của ngôn ngữ được thừa nhận trong ngôn ngữ toàn dân. Mục đích của nó là phương tiện thuận tiện cho việc giao tiếp đảm bảo cho người nghe hiểu thống nhất những điều đã giao tiếp. Ngôn ngữ có thống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ mới không bị cản trở giữa các địa phương trong cả nước, cũng như giữa thế hệ đời trước và thế hệ sau, giữa giáo viên và học sinh, giữa trẻ em dân tộc và trẻ em người kinh. Mặt khác tiếng nói là vốn sống quý báu nhất của con người để nói chuẩn nói hay hoặc muốn diễn tả một điều gì thì nói đúng phát âm chuẩn là tiền đề cho người nghe hiểu rõ và hiểu được đúng vấn đề. Tuổi mẫu giáo trẻ mới bắt đầu trong quá trình học nói, chính vì vậy mà cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ, đặc biệt là trẻ dân tộc thiểu số là vô cùng quan trọng. Bởi vì các cháu dân tộc thiểu số thường hay dùng tiếng mẹ đẻ của mình, nên khó khăn trong việc tiếp nhận Tiếng Việt, dẫn đến cháu khó tiếp thu lời giảng của cô bằng ngôn ngữ Tiếng Việt. Chính vì vậy việc cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số là vấn đề cần được quan tâm, nhằm hình thành và phát triển những kĩ năng cần thiết cho việc học tiếng việt ở trường mầm non Giáo viên mầm non có nhiệm vụ chủ yếu rèn cho học sinh có kỹ năng, thói quen nói đúng, nói chuẩn Tiếng Việt. Cùng với các hoạt động ở các lĩnh vực khác, ngôn ngữ nói giúp cho trẻ có thêm hiểu biết cho mình về thế giới xung quanh, là công cụ để giao tiếp, tư duy để học tập, trau dồi kiến thức và nhân cách làm người. Ngay từ những năm đầu ở ngành học mầm non trẻ cần phải được cung cấp vốn từ Tiếng Việt thật chuẩn, uốn nắn sửa ngọng một cách khoa học, cẩn thận để có thể sử dụng công cụ này suốt những năm tháng trong thời kỳ học tập ở nhà trường cũng như trong suốt cả cuộc đời của trẻ sau này. Những năm gần đây trình độ dân trí của người dân Hữu Sản nơi tôi sống và công tác đã có tiến bộ hơn trong cách nhìn nhận về tầm quan trọng cần cho con đi học sớm, tuy nhiên do môi trường ngôn ngữ nói của vùng núi hẻo lánh lại có tỉ lệ người dân tộc thiểu số chiếm đa số nên trẻ bị hạn chế rất nhiều trong cách phát âm, cách diễn đạt lời nói, cụ thể là vốn từ Tiếng Việt của các cháu còn ít nhiều phụ huynh có vốn Tiếng Việt nhưng lại nói ngọng, cách nói còn rụt rè, lí nhí không rõ ràng mạch lạc, nên việc phụ huynh dạy Tiếng Việt cho trẻ cũng bị hạn chế nhiều. Trẻ thường không biểu đạt được ý muốn của mình qua nói Tiếng Việt trong những năm đầu đi học mẫu giáo. Trong năm học này tôi được trường phân công dạy lớp mẫu giáo 3-4 tuổi, tổng số là 31 cháu thì có tới trên 100% là con em dân tộc. Mức độ vốn Tiếng Việt của các cháu không đồng đều, trẻ dân tộc chưa có ý thức ham học, chưa tích cực tham gia vào các hoạt động, không hiểu nhanh những gì cô giảng dạy vì trẻ còn kém về vốn Tiếng Việt. Trước tình hình như vậy việc nhìn lại thực trạng về việc phát triển ngôn ngữ nói chuẩn Tiếng Việt nói đúng chính tả với trẻ dân tộc ở lớp mình. Mặc dù là một giáo viên người kinh nhưng trực tiếp giảng dạy trẻ dân tộc thiểu số nên tôi luôn trăn trở suy nghĩ nhiều lúc thấy vô cùng lo lắng, không biết làm thế nào, bằng phương pháp gì để giúp trẻ hiểu và nói được Tiếng Việt một cách trôi chảy, chính xác?. Vì điều băn khoăn trăn trở ấy bản thân tôi đã tìm tòi nghiên cứu một số biện pháp nhằm giúp trẻ ham thích được đến lớp, ham thích học tập và nhất là học hỏi Tiếng Việt, nói Tiếng Việt chuẩn. Coi trọng phương pháp phát triển lời nói có ý thức để việc nói đúng Tiếng Việt trở thành kỹ năng, thói quen cho học sinh ngay từ lứa tuổi mẫu giáo. Xuất phát từ những quan điểm trên bản thân tôi là một giáo viên sống và dạy học ở vùng đặc biệt khó khăn và dạy lớp 3-4 tuổi mà ở trong lớp có 100% trẻ là dân tộc, đa số các cháu chưa qua lớp nhà trẻ, vốn từ Tiếng Việt ít, trẻ nói sai chính tả nhiều, tôi mạnh dạn tiến hành nghiên cứu đề tài: "Một số biện pháp cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 3- 4 tuổi vùng dân tộc" để góp phần nâng cao chất lượng hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non. Đó chính là lí do tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu và áp dụng trong năm học 2020- 2021 đối với công tác chăm sóc giáo dục của mình. PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng công tác tổ chức nội dung / nhiệm vụ mà giáo viên lựa chọn để giải quyết vấn đề. 1.1. Ưu điểm + Về phía trẻ: Ngay từ đầu năm học sinh lớp tôi rất ngoan, đi học chuyên cần. Năm học 2020- 2021, lớp 3-4 tuổi tôi được phân công phụ trách gồm có tổng số 31 trẻ các cháu ngoan ngoãn đạt yêu cầu về thể chất, nhận thức đó là một thuận lợi để tôi cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ thông qua hoạt động học, chơi, ở mọi lúc mọi nơi trong ngày. + Về phía giáo viên: Bản thân tôi một giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy lâu năm, luôn có tinh thần trách nhiệm và đầy lòng nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ, tôi xác định được mục đích, ý nghĩa tầm quan trọng của việc cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ và tìm ra giải pháp phù hợp nhất. Tôi thường xuyên tiếp xúc với người dân tộc nên nên tôi hiểu việc bất đồng ngôn ngữ sẽ rất khó cho việc dạy học, giao tiếp giữa cô và trò, tôi biết được những từ trẻ thường nghe khó, những từ trẻ thường nói sai hoặc hiểu sai hay những từ trẻ bị ngọng, chính vì vậy tôi muốn cung cấp vốn Tiếng Việt và rèn luyện kĩ năng phát âm sửa ngọng cho trẻ em dân tộc. + Về phía phụ huynh: Tuy là vùng sâu, vùng xa xong phụ huynh học sinh cũng đã quan tâm và trú trọng đến nhắc nhở, rèn luyện cho con em mình khi ở nhà. Đó là điều rất thuận lợi góp phần giúp giáo viên cùng rèn luyện dạy trẻ đạt được hiệu quả cao. 1.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 1.2.1. Giáo viên: Bản thân tôi là giáo viên người dân tộc kinh, nên khi vào đầu năm học việc truyền thụ kiến thức bằng tiếng việt cho 100% trẻ trong lớp là dân tộc thiểu số như: Dao, tày, nùng, gặp nhiều khó khăn. 1.2.2. Trẻ em Trẻ có vốn Tiếng Việt ít, chưa phong phú, vì hàng ngày khi ở nhà các con chủ yếu là nghe những người thân trong gia đình và những người hàng xóm xung quanh nói bằng tiềng dân tộc của địa phương. 1.2.3. Phụ huynh (Cha mẹ/ người chăm sóc trẻ) Sự quan tâm của gia đình đối với các cháu là không đồng đều, một số phụ huynh còn trẻ đi làm công ty xa để con ở nhà cho ông bà, hầu hết các phụ huynh là người dân tộc thiểu số nhiều nên vốn Tiếng Việt của nhiều phụ huynh vẫn còn hạn chế, phụ huynh phát âm Tiếng Việt cũng chưa được chính xác. Qua thực tế cho thấy phụ huynh đa số giao tiếp với nhau, với trẻ bằng tiếng dân tộc của địa phương là chính. 1.2.4. Cơ sở giáo dục mầm non Trường mầm non Hữu sản là một trong những trường nằm trong các xã đặc biệt khó khăn nằm cách xa trung tâm huyện gần 20km, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, số lượng đồ dùng, đồ chơi, các tài liệu liên quan đến các phong tục tập quán, ngôn ngữ của các dân tộc phục vụ cho các hoạt động tuyên truyền về ngôn ngữ Tiếng Việt rộng rãi cho phụ huynh đã có song còn chưa phong phú đa dạng. 90% giáo viên trong trường là Tày nên việc truyền tải Tiếng Việt cho phụ huynh càng gặp nhiều khó khăn hơn. 1.2.5. Các hạn chế khác Năm học 2020-2021 do ảnh hưởng của đại dịch covid 19 học sinh mầm non phải nghỉ học ở nhà, Tuy nhiên trong thời gian trẻ nghỉ dịch nhưng vẫn được học qua các video hướng dẫn của các cô gửi qua nhóm zalo, Facebok cho các con nhưng do trẻ hiếu động, nhận thức của từng trẻ khác nhau nên đến khi được đi học trở lại thì vốn từ Tiếng Việt lại bị hạn chế hơn so với học trên lớp. 2. Biện pháp: "Một số biện pháp cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 3-4 tuổi vùng dân tộc" 2.1. Biện pháp 1: Tạo hứng thú cho trẻ đi học chuyên cần 2.1.1. Nội dung biện pháp Ngay từ đầu năm học tôi lên kế hoạch để duy trì sĩ số học sinh, duy trì tỉ lệ các cháu đi học chuyên cần 99%. Trong buổi họp phụ huynh đầu năm tôi đã huy động phụ huynh động viên trẻ đến trường, tuyên truyền cho cha mẹ trẻ về nội dung của các môn học, các hoạt động ở bậc học mẫu giáo nhất là lớp 3-4 tuổi, đó là gốc rễ, nền móng cho các cháu trong chương trình của mẫu giáo sau này. 2.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Phải làm sao để các cháu thực sự thích đến lớp mỗi ngày để các cháu được tiếp thu, được lĩnh hội đầy đủ kiến thức, trong khi các cháu phần đông là năm đầu đi học mẫu giáo lớp 3 tuổi mà không qua lớp nhà trẻ rồi ngôn ngữ Tiếng Việt của các cháu thì hạn chế, bố mẹ đưa đến lớp các cháu còn khóc nhè đòi về, cô dỗ cháu không hiểu tiếng kinh, nên không nín. Phụ huynh thì chiều con thấy con khóc thì không muốn cho con học nữa, trước cách nghĩ đó tôi thật sự rất lo lắng tôi đã tự nhủ mình phải thu hút được các cháu đến lớp đã sau đó rồi tính tiếp, hàng ngày phụ huynh đưa trẻ đến lớp tôi trò chuyện với họ, kể cho họ nghe một số trường hợp các cháu chưa được đi học qua nhà trẻ thì hay quấy khóc và mức độ nhận thức và thực hiện các hoạt động chậm hơn không theo được các bạn trong lớp. Tôi cũng đưa ra một số gương mặt các cháu đi học chuyên cần và được đi học qua nhà trẻ thì mạnh dạn, hoạt động nhanh nhạy hơn như cháu Ngọc, Thảo Ly, Trường An, Về phía các cháu trong thời gian cô trò chuyện với phụ huynh thì cháu cũng nguôi ngoai, không khóc nữa và thấy cô trò chuyện thân mật với bố, mẹ mình thì hình như cháu có cảm giác an toàn, tự tin hơn, lúc bố mẹ trẻ giao trẻ cho tôi để ra về thì trẻ ngoài nhìn theo và mếu máo nhưng bằng tình yêu thương, nhiệt tình, một chút kinh nghiệm sẵn có của mình tôi ôm trẻ vào lòng, xoa đầu và ân cần, bảo trẻ nín đi chiều mẹ đến đón về, giờ con hãy giúp cô xếp ghế, cho các bạn cùng ngồi, giúp cô trải chiếu, lấy đồ chơi, lấy kéo cắt hình bông hoa, tô màu cái ô tô này cho đẹp chiều mang về cho mẹ xem vậy là trẻ khuây khỏa và quên đi cảm giác sợ hãi, rụt rè, yên tâm ngồi làm những việc cô nhờ, hết việc này tôi lại bày việc khác cho cháu và tôi không quên xen kẽ các cháu mạnh dạn để chơi cùng cháu nhút nhát. Đến cuối buổi học thời điểm bố mẹ các cháu sắp đến đón cháu về tôi lấy những món đồ chơi mới ra Ví dụ: Bịch bóng bay, búp bê với chén muỗng đồ chơi, ô tô nói với trẻ là các con có còn thích chơi với những đồ chơi này không? Nhưng giờ đã đến giờ bố mẹ các con đón về rồi vậy sáng mai các con nhớ bảo bố mẹ đưa đến lớp sớm để cùng chơi với cô nhé Những việc làm đó thật đơn giản nhưng với những trẻ không hiểu tiếng kinh thì với tôi đó lại là một thách thức lớn bởi bản thân tôi là một giáo viên người kinh vậy nên để làm được điều đó tôi đã phải nhờ cô giáo Lý (cùng chủ nhiệm lớp với tôi) nói giúp tôi một số tiếng dân tộc như: “Nín đi, đừng khóc nữa, học ngoan chiều bố mẹ đón về, muốn đi tiểu con hãy xin cô, lúc vào học không được nói chuyện .” . Những việc làm đó tôi luôn thực hiện thường xuyên, xen kẽ một cách sáng tạo đi kèm những lời nói, việc làm đó ngoài tình yêu thương trẻ như con cháu của mình rồi thì cần phải mày mò làm thêm đồ dùng đồ chơi lạ mắt, bữa thì những con bướm, con trâu làm từ lá cây, bữa thì thiết kế trang phục cho trẻ làm người mẫu để cô đo đo, cắt cắt để cố tình cho trẻ đứng đợi cô mà quên đi sự nhút nhát e dè, nhớ bố mẹ. Cô giáo đón trẻ còn khóc trong đầu năm 2.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp: Với biện pháp như vậy kết quả thật đáng ghi nhận là trẻ sau bốn tuần đến lớp đã không khóc nữa, qua trò chuyện với phụ huynh tôi được biết trẻ về nhà không còn sợ phải đến lớp như trước nữa mà cháu thích thú khi bố, mẹ chuẩn bị chở đi học, không còn đòi quà bánh trước khi vào lớp, đến lớp cháu biết chào cô đi cất đồ dùng cá nhân đúng chỗ và vào chơi cùng các bạn một cách hòa đồng. Trẻ hòa đồng cùng cô và các bạn Trẻ làm đồ chơi cùng cô và bạn 2.1. Biện pháp 1: Điều tra ban đầu 1.1. Nội dung biện pháp Thông qua trò chuyện trong quá trình giao tiếp một học kỳ 1 với trẻ phần nào tôi nắm được một số âm, dấu mà trẻ thường nói ngọng, nói chưa rõ và từ đó rút ra kết luận trẻ nói ngọng tương đối nhiều, vốn từ của trẻ bị hạn chế nhất là các chữ cái d, r, l, n, s, x các "dấu ngã" và "dấu sắc", so với cách phát âm của học sinh mẫu giáo. 2.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Các câu hỏi gợi ý, trò chuyện với trẻ để tìm hiểu một nội dung chủ đề nào đó là những lúc tận dụng cơ hội tốt nhất, hiệu quả nhất cho việc cung cấp vốn từ Tiếng Việt, luyện phát âm chuẩn, nói đúng chính tả vì nội dung hầu hết trẻ đã nắm được thông qua hoạt động học, cách này không kéo dài sẽ lãng phí thời gian, tăng cường cho luyện tập một cách thoải mái tự nhiên không bị gò ép. Để làm tăng vốn từ cho trẻ, kĩ năng nói chuẩn và để phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ đạt kết quả cao, giáo viên cần thường xuyên trò chuyện gây hứng thú trong học tập, vui chơi cho các cháu. Từ đó giúp trẻ nắm vững nội dung ngữ âm, nghĩa của từ gắn với lời nói. Tôi so sánh để phân biệt những trường hợp dễ lẫn lộn từ hay câu của các cháu. Ví dụ: Lung linh - nung ninh Nhún nhẩy - dún dẩy hoặc: Trời - giời Do môi trường ngôn ngữ nói của địa phương trẻ còn bị ngọng dấu thanh, cháu không phân biệt được thế nào là đúng, thế nào là sai vì đặc điểm của trẻ là hay bắt chước và bắt chước rất nhanh do nói nhiều nên đã trở thành thói quen. Ví dụ: Đọc thơ: “Em vẽ” cháu đọc thành “Em vé” Đọc từ: “Em ngã” đọc thành “Em ngá” Đọc từ : “Con chó” trẻ đọc thành “Con chỏ”. Mặt khác tôi luôn năng động, sáng tạo trong giảng dạy. Lập danh sách những từ trẻ hay nói sai hoặc nói chưa đúng để luyện tập phù hợp với trẻ ở địa phương mình. Cho trẻ đặt câu với những từ dễ mắc lỗi hoặc có thể đưa ra những đoạn thơ, câu đố, cuộc trò chuyện ngắn về gia đình trẻ trong đó có nhiều từ trẻ hay nói sai để trẻ tự mình sửa lỗi, tìm hiểu nguyên nhân nói sai của trẻ và sửa lại cho đúng. Thực tế cho thấy rằng bất đồng ngôn ngữ là rất khó khăn trong giao tiếp, vì vậy tôi tiến hành cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ thông qua mọi lúc mọi nơi. Như chúng ta đã biết khả năng tiếp thu của trẻ dân tộc thiểu số rất chậm, mau quên nhưng khi đã nhớ được thì lại nhớ rất lâu nên tôi tiến hành cho trẻ tiếp xúc với vốn từ Tiếng Việt bằng phương châm "mưa dầm thấm lâu" cho nên việc cung cấp ngôn ngữ Tiếng Việt ở mọi lúc mọi nơi vô cùng hiệu quả. Giờ chơi tự do tôi hay dẫn trẻ đến các góc trò chuyện và phát âm các từ có trong tranh, từ ở mỗi góc tôi dạy trẻ phát âm nhiều lần như vậy trẻ lớp tôi phát âm chuẩn hơn và mạnh dạn hơn trong giao tiếp với cô, với bạn, trẻ biết chỉ cho trẻ chưa biết, hoặc trẻ chủ động mạnh dạn đến hỏi cô, trẻ lớp tôi không còn rụt rè như trước nữa. Ngoài ra trong giờ hoạt động ngoài trời tôi cho trẻ ôn kiến thức đã học qua trò chuyện, đọc thơ, kể chuyện, chơi các trò chơi dân gian, cho trẻ đọc đồng giao, ca dao trong hoạt động này giúp trẻ phát âm thành thạo hơn, lưu loát hơn. Trẻ giao tiếp với nhau trong góc sách Giờ vui chơi tôi cho trẻ đóng các vai khác nhau, trẻ được giao lưu trao đổi mua bán và thể hiện hết vai chơi của mình, bên cạnh đó tôi luôn theo sát trẻ để kịp thời sửa sai uốn nắn mỗi khi trẻ hỏi hoặc trả lời không trọng tâm hay trẻ dùng tiếng mẹ đẻ. Chính nhờ vậy mà lớp tôi đa số trẻ biết dùng từ diễn đạt thành câu có ý nghĩa trong giao tiếp với bạn và với cô. 2.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp Sau khi tiến hành điều tra tôi đã thu lại được kết quả như sau: Bảng điều tra ban đầu Kết quả Nội dung Số trẻ Tỷ lệ % Trẻ phát âm sai dấu thanh 25/31 80,6% Trẻ đọc ngọng các từ, âm 27/31 87% Vốn từ Tiếng Việt của trẻ 5/31 16% Từ kết quả trên cho thấy vốn từ của trẻ còn nhiều hạn chế, vấn đề đặt ra là nếu cô giáo và cha mẹ trẻ không quan tâm đến việc điều chỉnh và có những biện pháp tác động để dạy trẻ ngay từ độ tuổi 3 tuổi thì ngôn ngữ của trẻ mãi không được hình thành và phát triển. Điều này sẽ trở thành gánh nặng cho trẻ ở các lứa tuối cao hơn. 2.1. Biện pháp 2: Cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ thông qua hoạt động làm quen với văn học. 2.1.1. Nội dung biện pháp Để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt trong học tập cũng như trong cuộc sống. Tôi nghĩ trước hết cần dạy trẻ những kĩ năng chú ý nghe và phát âm thông qua hoạt động làm quen với văn học là vô cùng cần thiết. 2.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp. Muốn trẻ giao tiếp, tiếp thu được kiến thức cô giáo truyền thụ trước hết thì trẻ phải nghe hiểu được yêu cầu của cô giáo nên việc giúp trẻ học ngôn ngữ và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng việt trong học tập cũng như trong cuộc sống là vấn đề cần thiết. đối với trẻ 3 tuổi môn văn học là môi trường, mà trẻ có cơ hội cho trẻ tiếp xúc với nhiều nhân vật trong thơ, chuyện qua tên các nhân vật trẻ được gọi tên, được đọc, được thể hiện lời thoại và được phát triển ngôn ngữ, với đặc điểm tình hình trẻ lớp tôi phần đông là học sinh người dân tộc thiểu số nên mỗi lúc lên kế hoạch tôi đã chú ý tới việc lựa chọn những bài thơ, câu chuyện không quá dài, nội dung dễ hiểu,nhân vật gần gũi với trẻ vì vốn từ cũng như thời gian tập trung chú ý của các cháu không được như những trẻ người kinh, khi lên tiết tôi luôn tạo tình huống bất ngờ để thu hút trẻ trẻ tập trung chú ý, khơi gợi ở trẻ tính tò mò dể tạo tâm thế cho trẻ trước khi vào học. trước lúc vào giờ học tôi trò chuyện dẫn dắt trẻ bằng những câu hỏi gần gũi, thân thiện vào bài một cách nhẹ nhàng không gây áp lực cho trẻ, trong quá trình đọc, kể tôi thường dừng lại trực tiếp ở những câu, từ khó để giải thích cho trẻ hiểu ngay trong quá trình tôi đọc một cách kịp thời, kết hợp tranh, ảnh, đồ dùng trực quan để giải thích là một cách làm tôi thấy rất hiệu quả, ngoài ra tôi không quên phối hợp các động tác minh họa đơn giản phù hợp, và tôi cho trẻ thực hiện động tác minh họa cùng với cô nhằm lôi cuốn, khích lệ trẻ chăm chú lắng nghe, để lĩnh hội từng câu, từng lời của cô mà không bị mệt mỏi, uể oải, có thể nói đó là chất xúc tác, tiếp sức cho các cháu một cách hiệu quả. Ví dụ: Khi tôi kể chuyện cáo, thỏ gà trống cho các cháu nghe đến những lời thoại các nhân vật tôi cho trẻ nói theo như “Gâu gâu cáo ở đâu” của bầy chó. “Cúc cù cu cu cu của anh gà trống tôi cho trẻ nói và làm điệu bộ và trẻ đã rất thích. Khi đã lôi cuốn được sự chú ý của trẻ tôi tiến hành các công việc tiếp theo và không quên gọi những cháu đọc từ, đọc câu với nhiều hình thức như là tôi đố trẻ, gợi ý cho trẻ, cho các cháu thi đua, cho trẻ nói tiếp và tất nhiên là sử dụng những câu từ gần gũi, cụ thể để giảng nội dung câu chuyện, bài thơ một cách ngắn gọn để trẻ có thể tiếp thu một cách nhẹ nhàng sau đó tôi cho trẻ nói tên nhân vật trong thơ, chuyện qua tranh ảnh, và không quên khuyến khích trẻ bằng những món quà hay những tràng pháo tay động viên. Ngoài việc cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học trong tiết dạy chính tôi còn tích hợp, lồng ghép trong các hoạt động giáo dục khác như: Hoạt động tạo hình, hoạt động khám phá khoa học, hoạt động giáo dục âm nhạc Trong các giờ học việc cung cấp vốn từ cho trẻ thông qua các hình thức giới thiệu bài, củng cố hay chuyển tiếp giữa các phần trong tiết dạy. Với việc lồng ghép các các hoạt động giáo dục khác khi tiến hành cung cấp vốn từ cho trẻ đã giúp các hoạt động học của tôi diễn ra nhẹ nhàng, thoải mái không bị gò bó trẻ hứng thú rất nhiều khi tham gia hoạt động góp phần nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục. Trẻ mạnh dạn trả lời câu hỏi khi học thơ, truyện cùng cô 2.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp Qua các tác phẩm văn học bài thơ, câu truyện, ca dao, đồng dao mà tôi cho trẻ học học sinh lớp tôi đã ngày càng mạnh dạn, tự tin, ham thích học thơ, kể chuyện và nhiều cháu thuộc thơ, kể lại câu chuyện một cách hoàn chỉnh qua những việc làm đó, vốn từ học sinh được tăng lên rất nhiều so với trước, trẻ nghe, hiểu được lời của cô, nắm được yêu cầu của bài và tôi nghĩ mình đã gặt hái được nhiều thành công hơn so với trước, tôi sẽ nghiên cứu và tiếp tục áp dụng một số biện pháp khác để ngày càng nâng cao hiệu quả. 3.1. Biện pháp 3: Cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ trong hoạt động vui chơi. 3.1.1. Nội dung biện pháp Hoạt động vui chơi đóng vai trò chủ đạo, không thể thiếu ở lứa tuổi mầm non, ngoài việc dạy và học thì hoạt động vui chơi luôn diễn ra trong các ngày trẻ được đến lớp, tôi luôn sáng tạo làm nhiều đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho hoạt động vui chơi của trẻ. Bởi vì đối với trẻ những món đồ chơi mới mẻ, lạ mắt là điểm đến, là động lực thu hút trẻ nhiều nhất và qua hoạt động vui chơi này phát huy cho trẻ tính mạnh dạn, tự tin trước đám đông. Trẻ thể hiện hết cái tôi của mình trẻ biết và độc lập trong suy nghĩ và dám khẳng định chính bản thân mình và đó cũng là cơ hội giúp trẻ được tăng cường tiếng việt, trong khi các cháu chơi thì trẻ vô tư thể hiện hết những gì trẻ biết, trẻ có và cô giáo qua đó phát hiện được khả năng của trẻ giúp trẻ phát triển ngôn ngữ để thuận tiện trong việc phát triển các lĩnh vực khác ở trẻ. 3.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp hàng ngày của trẻ không chỉ là trong quá trình học mà ngay cả khi trẻ vui chơi thì ngôn ngữ giúp trẻ phân, nhận vai chơi, thể hiện vai chơi của mình trong quá trình chơi. Vui chơi là trẻ được tái tại lại những hành động, việc làm lời nói của người lớn ở môi trường xã hội bên ngoài vào trong các góc chơi của trẻ, ở đây thành phần trẻ được thể hiện, giao tiếp rất đa dạng và phong phú nên chính ở môi trường này ngôn ngữ của trẻ được cung cấp nhiều hơn, trẻ được thoải mái thể hiện mình qua vai chơi. Tận dụng thời gian này tôi đã thực hiện ý đồ tăng cường tiếng việt cho trẻ dân tộc bằng cách: Tôi làm nhiều đồ chơi ở các góc tạo môi trường mới lạ, đẹp mắt thu hút sự hứng thú của trẻ, cho trẻ được tự chọn góc chơi, vai chơi, lúc trẻ chọn vai chơi tôi luôn gợi ý cho trẻ đổi vai hàng ngày để tất cả trẻ đều có cơ hội vào vai các thành viên trong xã hội như “Như hôm nay bé là bác sĩ, mai bé làm bệnh nhân; Ngày kia là người đầu bếp, .” Ví dụ: khi cháu Thảo Ly về chơi ở góc phân vai làm cô bán hàng lần đầu khi chơi, tôi trực tiếp làm người đi mua hàng đến cửa hàng tôi “Chào bác Thảo Ly hôm nay cửa hàng có bán những thứ gì?. Tất nhiên là lúc đầu tôi thấy cháu cũng e dè, thì tôi gợi ý cho trẻ cầm các món hàng lên và nói tên các món hàng đó bằng 2 thứ tiếng, vừa tiếng kinh và tiếng dân tộc, những lần sau tôi gợi ý rủ các bạn khác đi chợ và hỏi mua những món đồ theo nhu cầu giải thích cho trẻ những từ (mua, bán, trả tiền ) kèm theo những hàng động mô phỏng cụ thể cho trẻ hiểu từ Tiếng Việt và cho trẻ nói theo. + Đến góc xây dựng cũng như những góc chơi khác tôi hỏi cháu: Trường An hôm nay bác thợ xây gì? (Xây nhà cho gia đình ở); Vật liệu, dụng cụ xây dựng có những gì? (Viên gạch, cái bay, cái thước, ) cho cháu cầm viên gạch và nói nói tên viên gạch, cái bay Những lần chơi sau tôi cho trẻ tập nói cả câu dài hơn và cứ như vậy tôi ghé đến các góc chơi khác xin tham gia chơi với trẻ vài phút để tìm hiểu, để nhận ra điểm mạnh và hạn chế của từng trẻ và qua đó tôi thực hiện công việc tăng cường Tiếng Việt cho những trẻ vốn từ tiếng việt ít, nhắc nhở, khuyến khích, hướng dẫn các cháu giao tiếp với bạn chơi bằng tiếng việt. Khi trẻ đã hòa nhịp được với các bạn, các cháu đã tự tin, mạnh dạn tôi không cần nhập vai chơi với trẻ nữa mà gợi ý để trẻ giao lưu với nhau liên kết với các nhóm chơi khác để trẻ mạnh dạn, tự tin trao đổi trong lúc chơi cùng bạn, khi trẻ tham gia các góc chơi là thế giới người lớn được trẻ tái tạo lại trong trò chơi của trẻ tất cả mối quan hệ, giao tiếp của xã hội được trẻ thể hiện hơn nữa hoạt động vui chơi của trẻ là hoạt động diễn ra thường xuyên trong quá trình trẻ đến lớp nên đây chính là thời điểm tốt nhất để trẻ được tiếp thu, tăng cường vốn từ tiếng việt song hành với việc trẻ chơi, với trẻ đây là lúc trẻ thoải mái thể hiện bản thân, thể hiện vốn có của mình, với cô đây là thời điểm thuận lợi để nắm bắt tình hình, thực tế sử dụng ngôn ngữ của các cháu nên việc cung cấp ngôn ngữ ở hoạt động vui chơi rất hiệu quả. Bé tò chuyện ở góc xây dựng, lắp ghép. Trẻ chơi bán hàng. 3.1.2. Kết quả áp dụng biện pháp Nhờ sự tích cực tăng cường cho trẻ giao tiếp bằng tiếng việt cho trẻ trong hoat động vui chơi mà vốn từ tiếng việt của trẻ tăng lên đáng kể, trẻ đã thể hiện, giao lưu với nhau giữa các góc chơi hàng ngày bằng ngôn ngữ tiếng việt. 4.1. Biện pháp 4: Cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ trong hoạt động ngoài trời 4.1.1. Nội dung biện pháp Khi ra ngoài trời trẻ được hít thở không khí trong lành, được chơi đùa với các bạn tạo cho trẻ có một tâm thế thoải mái để bước vào hoạt động khác. Xác định được điều đó tôi đã lồng ghép để phát triển vốn từ cho trẻ thông qua các hoạt động ngoài trời. 4.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Hàng ngày khi đi dạo và chơi trên sân trường tôi thường xuyên đặt các câu hỏi để trẻ được gọi tên và nói đặc điểm của các đồ chơi trên sân trường như: Đu quay, cầu trượt, xích đu, Trẻ vui chơi và cùng trả lời tên gọi cũng như đặc điểm của đồ chơi - Khi cho trẻ quan sát vườn rau, vườn hoa, cây xanh, Cô trò chuyện với trẻ để trẻ được trả lời về những gì trẻ vừa được khám phá, đồng thời cho trẻ ôn lại những từ khó và rèn cho trẻ phát âm chuẩn hơn * Cô hỏi trẻ: + Đây là rau gì? Rau có màu gì? Lá rau thế nào? Hàng ngày phải chăm sóc vườn rau như thế nào, Trẻ trò chuyện với cô khi chăm sóc vườn rau - Khi trẻ ra hoạt động ngoài trời cô cung cấp vốn từ cho trẻ chơi các trò chơi mà có lời đọc minh họa trò chơi như: Đọc thơ, đồng dao, ca dao khi đi dạo hay cho trẻ chơi trò chơi dân gian (vừa chơi vừa đọc đồng dao với các bài “Tay đẹp; Gieo hạt; Mèo đuổi chuột, Rồng rắn lên mây; Nu na nu nống; ) giúp cho trẻ chơi các trò chơi một cách hứng thú hơn mà tôi vẫn có thể lồng ghép vốn từ cho trẻ vào hoạt động vui chơi một cách dễ dàng hơn. Trẻ được cung cấp vốn từ khi tham gia trò chơi và đọc “Mèo đuổi chuột” Hay là trẻ còn tự nói về những chiếc lá rơi mà trẻ nhặt được ngoài sân trường và nói về những ý tưởng sáng tạo của trẻ với những chiếc lá đó Trẻ nói ý tưởng sáng tạo với những chiếc lá trên sân * Hoạt động chơi buổi chiều: Trong hoạt động chiều cô có thể tích hợp cung cấp vốn từ cho trẻ bằng cách cho trẻ ôn lại những bài thơ, câu chuyện, bài đồng dao, ca dao mà trẻ đã được học, hay làm quen với các hoạt động mà trẻ đã được làm quen trên các buổi hoạt động. 3.1.2. Kết quả áp dụng biện pháp - Sau khi áp dụng biện pháp cung cấp thêm vốn từ cho trẻ vào hoạt động ngoài trời thì trẻ luôn tự tin bày tỏ ý kiến của mình, . 5.1. Biện pháp 5: Cung cấp vốn từ cho trẻ bằng cách kết hợp với phụ huynh 5.1.1. Nội dung biện pháp Bên cạnh sự nỗ lực chung sức của cô và trẻ khi trẻ ở lớp, ở trường, chúng ta phải phối kết hợp với phụ huynh khi trẻ về nhà bởi vì khi về nhà đa số trẻ được sinh hoạt trong môi trường giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ, qua các buổi thăm nhà phụ huynh học sinh tôi thấy rằng người già và phụ nữ trong mỗi gia đình người thiểu số ít khi biết nói tiếng kinh, mọi nhu cầu, hoạt động trong gia đình họ sử dụng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp, mà hàng ngày thời gian đến lớp của trẻ cô giáo khó khăn lắm mới cho trẻ nói vài từ tiếng việt bập bẹ trong khi thời gian trẻ về nhà thì bố mẹ ông bà chú bác lại sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ một cách đại trà, đó cũng là cái khó khăn tôi gặp phải, để đẩy ùi khó khăn này tôi phải tranh thủ thời gian buổi tối đến nhà gặp gỡ phụ huynh, tận dung những buổi sinh hoạt cộng đồng để tuyên truyền đến các bậc phụ huynh. 5.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Đồng ý là mỗi chúng ta phải nhớ cội nguồn, tôn vinh bản sắc vùng miền, những cần phải đảm bảo được cái chung để đáp ứng với nhu cầu học tập của thế hệ trẻ. tôi đã tuyên truyền tới phụ huynh tầm quan trọng của việc nghe, hiểu và giao tiếp bằng tiếng phổ thông, tôi trò chuyện giải thích với phụ huynh rằng các cháu khi đến lớp không được mạnh dạn, vì cháu nói tiếng kinh không thành thạo, nên những bài giảng của cô cháu nghe không hiểu được hết các yêu cầu nên kho cô hỏi trẻ chưa trả lời được, chưa làm được bài tập theo yêu cầu của cô nếu các cháu biết nói, nghe hiểu thành thạo tiếng kinh thì các cháu cũng học rất giỏi Vậy nên rất mong phụ huynh tạo điều kiện, môi trường cho trẻ được giao tiếp bằng tiếng kinh, khi ở lớp cô đã cho cháu nghe, nói tiếng kinh thì về nhà phụ huynh nên sử dụng tiếng kinh để giao tiếp với cháu, kèm cặp cháu các môn học như cho cháu đọc thơ, kể chuyện, khuyến khích cháu hát để rèn luyện cách phát âm cho cháu như thế cháu đến lớp cháu sẽ nghe cô giáo giảng bài và biết trả lời thành thạo các câu hỏi của cô, tiếp thu bài một cách dễ dàng, học giỏi hơn trong cấp học mầm non và cũng là tiền đề tốt cho các cấp học sau này. 3.1.2. Kết quả áp dụng biện pháp Đúng như mong muốn của tôi phụ huynh đã biết quan tâm đến con em mình hơn, chăm lo cung cấp vốn tiếng việt ở nhà cho trẻ nhiều hơn,không những thế mà phụ huynh còn tuyên truyền tới những người khác trong thôn qua những dịp gặp gỡ nhau bên những ché rượu cần, họ khoe nhau những thành tích con em mình đạt được mà hàng ngày,

File đính kèm:

  • docxmot_so_bien_phap_cung_cap_von_tu_tieng_viet_cho_tre_3_4_tuoi.docx
Giáo án liên quan