Khai thác một số ứng dụng mạng xã hội và phần mềm Padlet trong dạy học môn Ngữ văn tại trường THCS Tiên Sơn

docx23 trang | Chia sẻ: Thảo Hoa | Ngày: 02/02/2026 | Lượt xem: 33 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang mẫu tài liệu Khai thác một số ứng dụng mạng xã hội và phần mềm Padlet trong dạy học môn Ngữ văn tại trường THCS Tiên Sơn, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆT YÊN TRƯỜNG THCS TIÊN SƠN TÊN SÁNG KIẾN: “KHAI THÁC MỘT SỐ ỨNG DỤNG MẠNG XÃ HỘI VÀ PHẦN MỀM PADLET TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN TẠI TRƯỜNG THCS TIÊN SƠN” Tác giả: Nguyễn Thị Cúc Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường THCS Tiên Sơn Lĩnh vực nghiên cứu: Giáo dục và Đào tạo Việt Yên, tháng 05 năm 2023 MỤC LỤC NỘI DUNG Trang Phần I: Phần mở đầu ......... .. 1 I. Lý do viết sáng kiến .................... ............ 1 II. Mục đích nghiên cứu . . 1 III. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .. .. 2 IV. Nhiệm vụ nghiên cứu . .. . 2 V. Phương pháp nghiên cứu .. ........ 2 VI. Những đóng góp mới của sáng kiến .. ... 2 Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu ...... 3 I. Cơ sở viết sáng kiến .... .. . 3 II. Thực trạng của vấn đề cần giải quyết ...... .. . 3 III. Các giải pháp thực hiện ... . 5 1. Giải pháp 1 .. ... . 5 2. Giải pháp 2 . ........ . 9 3. Giải pháp 3 . .... . 11 IV. Khả năng áp dụng sáng kiến ... . 13 VI. Hiệu quả của sáng kiến . .... . 15 PHẦN III: Kết luận và kiến nghị . .... 18 I. Kết luận .. 18 II. Kiến nghị .. 18 TÀI LIỆU THAM KHẢO 19 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT HS Học sinh GV Giáo viên PHHS Phụ huynh học sinh THCS Trung học cơ sở HSG Học sinh giỏi CNTT Công nghệ thông tin 1 PHẦN I: MỞ ĐẦU I. Lý do viết sáng kiến - Bộ môn Ngữ văn là môn học về ngôn từ, ít sử dụng đồ dùng dạy học và phương tiện dạy học nên việc đầu tư đồ dùng dạy học cho môn học này là rất hạn chế và dường như không có. Để quá trình dạy và học đạt được hiệu quả giáo viên thường giao cho học sinh chuẩn bị bài theo hình thức phiếu bài tập. - Khi giao phiếu học tập cho học sinh hoạt động cá nhân, để đạt hiệu quả thì giáo viên phải photo bài cho từng học sinh (như thế rất tốn kém). Trong hoạt động nhóm muốn trình bày sản phẩm của mình thì học sinh phải viết vào bảng phụ có sẵn hoặc giấy A0 (điều này phụ thuộc vào vị trí ngồi của HS thuận tiện cho việc viết bảng phụ). Khi sử dụng thì cồng kềnh, mất thời gian treo lên tháo xuống,.... - Tình trạng học sinh lười, chán học trở nên phổ biến nhất là đối với các môn xã hội nói chung và môn Ngữ văn nói riêng. Trong giờ học, một số em luôn có những biểu hiện như: ít phát biểu, khả năng đọc bài yếu kém, khả năng diễn đạt trong quá trình làm bài lủng củng, thiếu mạch lạc và hành văn không mang tính văn chương. Từ đó, các em có tâm lý chán nản, không còn hứng thú trong giờ học. Nhưng khi sử dụng mạng xã hội hay điện thoại thông minh thì các em lại rất hứng thú. - Tình hình thực tế dịch covid sẽ còn kéo dài, chưa thể chấm dứt, việc học trực tiếp tại trường có thể gián đoạn bất cứ lúc nào. Cần thiết phải có giải pháp để việc học tập diễn ra xuyên suốt, không bị gián đoạn. - Yêu cầu đặt ra là làm thế nào để tạo hứng thú cho các em như khi giao nhiệm vụ học tập cho học sinh mà không mất thời gian, không tốn kém. Hơn nữa trong quá trình chuẩn bị tôi có thể hỗ trợ và có thể dùng sản phẩm (các phiếu bài tập, các sản phẩm dự án .) của các em làm đồ dùng trực quan phục vụ cho tiết dạy được tốt hơn. Vậy nên, tôi viết sáng kiến kinh nghiệm “Khai thác một số ứng dụng mạng xã hội và phần mềm Padlet trong dạy học môn Ngữ văn tại trường THCS Tiên Sơn” II. Mục đích nghiên cứu - Tìm phương pháp, biện pháp đổi mới quá trình dạy học Ngữ văn để nâng cao chất lượng dạy và học tại trường THCS Tiên Sơn. Tìm cách thức tiếp cận học sinh phù hợp nhất để tạo đam mê, hứng thú, khơi gợi tiềm năng còn ẩn chứa trong các học sinh. Xác định được phương pháp, công cụ phù hợp nhất với đặc điểm tâm sinh lí cũng như hoàn cảnh thực tế, khả năng học tập của học sinh trường THCS Tiên Sơn. - Thông qua sử dụng ứng dụng Padlet, ứng dụng mạng xã hội, học sinh tương tác trực tiếp với giáo viên trong mọi thời điểm, làm bài tập, thực hiện nhiệm vụ học tập được giao trực tiếp trên ứng dụng đáp ứng yêu cầu của việc dạy và học môn Ngữ văn. 2 - Ngoài ra học sinh có thêm nhiều kỹ năng trong sử dụng internet như download, upload các file dữ liệu có nội dung và định dạng khác nhau như file văn bản, file âm thanh, file video, file powerpoint...và nâng cao khả năng sử dụng office cho học sinh. III. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: bước đầu tôi triển khai mô hình này trong việc giảng dạy bộ môn Ngữ văn tại các lớp 9B, 9D, 6A của trường THCS Tiên Sơn. - Bên cạnh đó phụ huynh học sinh cũng được giáo viên hướng dẫn sử dụng các ứng dụng để hiểu về ứng dụng và cùng với giáo viên quản lí đôn đốc việc học của học sinh thông qua ứng dụng. - Tiến hành nghiên cứu và áp dụng từ năm học 2022 – 2023, viết và hoàn thiện nghiên cứu vào tháng 5 năm 2023 và tiếp tục áp dụng vào những năm học tiếp theo. IV. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu các ứng dụng Internet để tìm công cụ phù hợp nhất với quá trình dạy và học môn Ngữ văn phù hợp nhất với điều kiện hoàn cảnh cũng như năng lực sẵn có của học sinh trường THCS Tiên Sơn. - Áp dụng một số ứng dụng mạng xã hội và ứng dụng phần mềm Padlet vào thực tế giảng dạy môn Ngữ văn tại trường THCS Tiên Sơn. V. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu: tìm hiểu ứng dụng công nghệ thông tin, thông qua máy tính, Google, Youtobe. - Phương pháp điều tra khảo sát: sử dụng oogle forms khảo sát thống kê số lượng học sinh sử dụng mạng xã hội. Lấy ý kiến phụ huynh học sinh về việc sử dụng mạng xã hội. Khát sát hứng thú học tập của học sinh khi ứng dụng mạng xã hội và ứng dụng Padlet vào học tập bộ môn Ngữ văn. - Phương pháp thực nghiệm: thực nghiệm thực tế trong hoạt động dạy học Ngữ văn tại trường THCS Tiên Sơn. VI. Những đóng góp mới của sáng kiến - Sáng kiến góp phần phát triển năng lực ngôn ngữ, tin học, công nghệ, thẩm mỹ, giải quyết vấn đề, sáng tạo .của HS. Rèn luyện tinh thần tự học, ham học, chăm chỉ, nhiệt tình tham gia các hoạt động tập thể, yêu cái đẹp Đó cũng là mục tiêu mà chương trình giáo dục phổ thông mới hướng tới. Hoạt động và sản phẩm của GV, HS thông qua việc sử dụng các ứng dụng mang lại sự gần gũi, đoàn kết, chia sẻ, yêu thương. Đưa lớp học trở thành một tập thể tích cực và hạnh phúc. Rèn luyện kỹ năng đọc sách, xây dựng văn hóa đọc sách cho HS trong lớp và trong trường. 3 PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU I. Cơ sở lý luận và thực tiễn 1. Cơ sở lý luận - Thế giới ngày nay đang chứng kiến sự phát triển hết sức mạnh mẽ của mọi hoạt động Kinh tế - Xã hội, nhờ những thành tựu rực rỡ của công nghệ thông tin. Đảng và nhà nước luôn quan tâm chỉ đạo các ngành, các cấp đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. - Hiện nay, ngành giáo dục đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lí và đổi mới phương pháp dạy học bởi chính công nghệ thông tin đã mở ra những triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học. Việc áp dụng ứng dụng Padlet, ứng dụng mạng xã hội vào công tác giảng dạy môn Ngữ văn sẽ kích thích được học sinh khám phá tìm tòi, khai thác ứng dụng phục vụ vào việc học, sẽ tạo được hứng thú học tập, học sinh được khuyến khích và tạo điều kiện chủ động học tập, tìm tòi tri thức, sắp xếp hợp lí quá trình tự học tự rèn luyện của bản thân. 2. Cơ sở thực tiễn - Hiện nay việc sử dụng đồ dùng dạy học trong công tác giảng dạy môn Ngữ văn còn hạn chế, chủ yếu giáo viên giao bài về nhà theo hệ thống câu hỏi, giao bài trên lớp, hướng dẫn học sinh trả lời các câu hỏi khô khan, làm mất rất nhiều thời gian, ảnh hưởng đến bài học trên lớp. Thậm chí còn làm ảnh hưởng cả giờ giải lao của học sinh, khiến cho các em không có hứng thú nghe cô hướng dẫn, dẫn đến các em không hiểu nhiệm vụ được giao, từ đó làm chống đối, qua loa. Chính vì vậy làm giảm chất lượng học tập. II. Thực trạng của sáng kiến 1. Thực trạng - Tình trạng học sinh không còn hứng thú với việc học văn đã trở thành hiện tượng phổ biến, chất lượng học tập giảm sút cũng đã không còn là vấn đề mới. - Qua thực tế giảng dạy Ngữ văn, tôi thấy rằng: + Về phía giáo viên: Bộ môn Ngữ văn là môn học về ngôn từ, ít sử dụng đồ dùng dạy học và phương tiện dạy học nên việc đầu tư đồ dùng dạy học cho môn học này là rất hạn chế và dường như không có. Giáo viên bộ môn văn thường phải dạy nhiều tiết 1 tuần, tác động phần nào đến việc tự tìm tòi, xây dựng đồ dùng. + Về phía học sinh: - Đa số học sinh chủ yếu thích học các môn học tự nhiên và được kiểm tra đánh giá dưới nhiều hình thức trắc nghiệm, tư duy số học, nên thiếu vắng 4 cảm xúc, thiếu kỹ năng tạo lập văn bản. Đặc biệt, học sinh đang mất dần hứng thú đối với môn học được xem là môn học giáo dục nhân cách con người. - Học sinh trường THCS Tiên Sơn, nơi tôi đang công tác mang đặc thù rất riêng. Một số học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động, thiếu hứng thú, chỉ học theo hình thức đọc thuộc để đối phó nên không phát huy được tính sáng tạo cũng như chủ động trong việc tìm tòi, khám phá kiến thức. Học sinh không hình thành thói quen tự học: không chủ động tìm kiếm kiến thức trong sách giáo khoa, không nắm được đâu là kiến thức trọng tâm, không phân biệt được đâu là vấn đề chính và phụ, không phát triển từ cái đã biết để tìm ra câu trả lời cho cái chưa biết. - Nhiều em chán học, thường không tập trung, thiếu tự giác trong học tập. Các em khi về nhà ít khi xem lại hoặc chuẩn bị bài, thường chỉ xem điện thoại với các mạng xã hội như Zalo, Facebook, Tik tok Kết quả khảo sát đầu năm học 2022 - 2023, ở học sinh các lớp 9B, 9D, 6A như sau: Về học lực: Sĩ Giỏi Khá TB Yếu Kém Lớp số SL % SL % SL % SL % SL % 9B 38 0 0 21 55.3 16 42.1 1 2.6 0 - 9D 34 0 0 6 17.6 24 70.6 4 11.8 0 - 6A 41 20 48.8 19 46.3 2 4.9 0 - 0 - Tổng 113 20 17.7 46 40.7 42 37.2 5 4.4 0 - Về thái độ với môn học: Tổng số Hứng thú Không hứng thú học sinh HS % TS % 113 65 57.5 48 42.5 2. Nguyên nhân: * Nguyên nhân khách quan: - Đa số học sinh chưa thật sự yêu thích môn Ngữ văn. Khi lên cấp 2, học sinh đang kế thừa học theo phương pháp học ở cấp tiểu học, chưa định hình được việc học để khuấy động hứng thú trong các giờ học Ngữ văn. 5 - HS ngày càng có xu hướng không thích học văn vì cho rằng đây là môn học thuộc, dài, khó học. * Nguyên nhân chủ quan: - Nguyên nhân học sinh học yếu, chưa hứng thú trong giờ học văn không phải hoàn toàn là ở học sinh mà một phần ảnh hưởng không nhỏ là ở người giáo viên. Đôi khi giáo viên vẫn chưa chú ý quan sát đến các đối tượng học sinh, đặc biệt là học sinh yếu. Họ chưa tìm tòi nhiều phương pháp dạy học mới kích thích tính tích cực, chủ động của học sinh. - Giáo viên không xem học sinh là chủ thể của hoạt động học ngữ văn, không trao cho học sinh quyền chủ động trong học tập. Dạy học theo phương pháp cũ, chủ yếu là diễn giảng, bình và giảng. Chú trọng về dạy lý thuyết, ít tiết thực hành và không trau dồi khả năng cảm nhận văn học cho học sinh. Dạy học theo kiểu áp đặt, buộc học sinh phải học thuộc kiến thức mà giáo viên truyền dạy. - Một số em chưa thật sự mạnh dạn, nhận thức quá kém so với các bạn cùng trang lứa nên có tâm lí tự ti, mặc cảm, không dám trình bày ý kiến của mình vì sợ sai các bạn chê cười dẫn đến kết quả học tập không cao. Sự phát triển của công nghệ thông tin, các trò chơi điện tử khiến các em sao nhãng chuyện học hành. - Một bộ phận học sinh ham chơi, lười biếng, chưa ham thích học tập. Trong giờ học, các em còn thụ động, chưa mạnh dạn trao đổi, hỏi han do chưa hiểu sâu, chưa nắm được kiến thức, thiếu tự tin, thiếu sự tư duy trước những câu hỏi, những vấn đề mà giáo viên đặt ra mà chủ yếu trông chờ vào bài giảng của thầy cô. III. Các giải pháp thực hiện 1. Giải pháp 1: Sử dụng mạng xã hội Zalo tạo nhóm cùng học tập của môn Ngữ văn. + Điểm mới: Những điểm khác biệt, tính mới của giải pháp mới so với giải pháp cũ: - Với cách làm cũ: Giáo viên muốn kiểm tra bài của HS thì GV phải giao bài tập cho HS làm ở nhà, sau đó GV thu bài hoặc giải quyết ngay trên lớp. Điều này gây nhiều bất tiện như là thời gian trên lớp không cho phép; khi kiểm tra bài tập sau giờ học tôi cần phải làm kiểm tra ngay để trả bài tập cho học sinh khi đó có những lúc tôi có thể không có thời gian để làm công việc này vì phải có tiết dạy trên lớp; số học sinh được kiểm tra không nhiều. - Với cách làm mới: Tôi có thể giao bài và kiểm tra bài làm học sinh bằng cách yêu cầu các em chụp ảnh hoặc quay video bài tập của học sinh. + Các bước thực hiện: 6 Bước 1: Tạo tài khoản Zalo, Mỗi học sinh tạo một tài khoản Zalo và kết bạn với giáo viên sau đó tạo một nhóm kết nối với nhau. Bước 2: Giao nhiệm vụ để học sinh thực hiện: Sau khi tạo nhóm trên Zalo giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh để các em thực hiện những công việc giáo viên giao: Làm các bài tập ở nhà sau khi đã học xong (thường thì khái quát văn bản bằng sơ đồ tư duy, lập hồ sơ người nổi tiếng, hồ sơ tác phẩm nổi tiếng, viết đoạn văn với chủ đề cho trước, hoàn thiện các bài tập trên lớp chưa kịp giải quyết xong .) Yêu cầu các em tìm hiểu một vấn đề nào đó liên quan đến bài học (tìm hiểu về tác phẩm, tóm tắt tác phẩm, sân khấu hoá các văn bản, các phiếu bài tập để chuẩn bị nội dung bài mới .). Như vậy trong quá trình chuẩn bị bài cũ, bài mới đều có sự tương tác giữa giáo viên với học sinh, học sinh với học sinh. Thông qua hoạt động đó tôi có thể tư vấn hay hướng dẫn các em giải quyết các vấn đề mà các em đang vướng mắc, động viên, chia sẻ với các em trong quá trình học tập, thông qua đó tôi nắm bắt được tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của học sinh để kịp thời điều chỉnh những suy nghĩ lệch lạc trong học tập của các em. + Kết quả đạt được: Xây dựng được 04 nhóm Zalo sử dụng cho công tác giảng dạy môn Ngữ văn: nhóm zalo lớp 6A, 9D, 9B, và nhóm Zalo đội tuyển học sinh giỏi Ngữ văn 6. 7 8 (Nhóm Zalo Lớp 9B) (Nhóm Zalo Lớp 9D) (Nhóm Zalo HSG Ngữ văn 6) (Nhóm Zalo Lớp 6A) 9 (Bài HS làm rồi gửi cho GV) (GV chữa bài của HS) (GV chữa bài HS rồi ghi âm gửi cho (GV giao bài cho hs) HS) 10 2. Giải pháp 2: Sử dụng mạng xã hội Facebook để chia sẻ tài liệu học tập Ngữ văn + Điểm mới: Những điểm khác biệt, tính mới của giải pháp mới so với giải pháp cũ: - Với cách làm cũ: Khi có tài liệu cần giao cho học sinh hoặc chia sẻ những gợi ý làm bài, nếu photo mỗi em một tài liệu thì rất tốn kém, hướng dẫn xong có thể các em sẽ quên, hỏi lại sẽ mất nhiều thời gian. Nhóm Zalo thuận tiện gửi ảnh, liên lạc, nhưng chỉ cho phép lưu trong thời gian nhất định và dễ mất file khi xóa ứng dụng, khó tìm lại. - Với cách làm mới: Tải tài liệu học tập lên nhóm, không cần phải in hay photo. Học sinh dễ dàng tìm lại tài liệu nếu cần. + Các bước thực hiện: Bước 1: Tạo tài khoản Facebook, Mỗi học sinh tạo một tài khoản Facebook và kết bạn với giáo viên sau đó tạo một nhóm kết nối với nhau. Bước 2: Chia sẻ tài liệu từ 2 phía, cả giáo viên và học sinh Sau khi tạo nhóm trên Facebook giáo viên chia sẻ tài liệu lên nhóm facebook bằng bài viết hoặc phần “Tài liệu” của Facebook. Giáo viên có thể chia sẻ các tài liệu như cách hướng dẫn viết bài văn nghị luận, video phân tích một tác phẩm, hoặc một bài hát liên quan đến nội dung bài học. Các tấm gương học tập, các dẫn chứng để đưa vào bài nghị luận Nhóm facebook không chỉ một chiều, mà còn nhận sự tương tác từ phía học sinh. Dưới bài viết của giáo viên, học sinh có thể đặt lại câu hỏi nếu có ngay dưới phần bình luận, trao đổi với nhau. Học sinh có thể tải bài làm của mình để giáo viên chữa, các bạn tham khảo. Thậm chí, không chỉ giáo viên, mà học sinh có thể chia sẻ những tài liệu học tập, động viên các bạn học tập. Giáo viên hoàn toàn có thể kiểm soát được nội dung mà học sinh chia sẻ lên nhóm nhờ tính năng “Người kiểm duyệt”. + Kết quả đạt được - Tạo được 01 nhóm Facebook: THCS Tiên Sơn – nhóm ôn thi lớp 10 – Ngữ văn. - GV và HS chia sẻ tài liệu, tương tác trên nhóm 11 (GV chia sẻ tài liệu trên nhóm) (GV chia sẻ tài liệu trên nhóm) (HS chia sẻ tài liệu) (HS chia sẻ tài liệu) 12 3. Giải pháp 3: Sử dụng ứng dụng Padlet để chia sẻ tài liệu học tập Ngữ văn + Điểm mới: Những điểm khác biệt, tính mới của giải pháp mới so với giải pháp cũ: - Với cách làm cũ: Khi có tài liệu cần giao cho học sinh theo chủ đề, nếu in ra photo cho học sinh sẽ tốn kém, mất thời gian để sắp xếp, khi cần thì phải mất thời gian tìm kiếm ... Nhóm Zalo thuận tiện gửi ảnh, liên lạc, nhưng lại dễ mất file sau một tháng sẽ không xem được, hoặc mất khi xóa ứng dụng, khó tìm lại. Nhóm Facebook thuận tiện khi chia sẻ tài liệu sưu tầm, tương tác với học sinh tốt, đồng thời cũng lưu dữ liệu theo thời gian, tuy nhiên về lâu dài bài viết sẽ bị trôi học sinh tìm lại sẽ mất thời gian. - Với cách làm mới: Tải tài liệu học tập lên trang Padlet, không cần phải in rồi photo. Khi giao bài cho học sinh hoặc tài liệu học, ôn theo chủ đề, chuyên đề giáo viên chỉ cần đăng theo mục theo chuyên đề. Học sinh dễ dàng tìm lại tài liệu theo các mục, các nội dung chia theo chuyên đề mà không cần mất quá nhiều thời gian tìm kiếm. Sử dụng ứng dụng Padlet để xây dựng trang Padlet tủ sách ôn thi vào lớp 10, trang Padlet ôn thi học sinh giỏi, hướng dẫn HS tự xây dựng tủ sách online - văn hóa đọc. Trang Padlet tủ sách ôn thi vào lớp 10 tôi sử dụng để đưa thông tin, thông báo, giao nhiệm vụ, đánh giá kết quả, cung cấp tài liệu cho học sinh. Học sinh nộp sản phẩm theo chủ đề, theo nhóm theo yêu cầu của giáo viên và người phụ trách. GV và HS trao đổi, góp ý kiến, bình luận công khai trên các mảng nội dung có trên Padlet. Trang Padlet ôn thi học sinh giỏi tôi sử dụng để đưa các thông tin, tài liệu, đề học sinh giỏi. Trang Padlet tủ sách online – văn hóa đọc giáo viên yêu cầu HS tự xây dựng, tạo ra một kho sách online và rất nhiều nội dung bổ ích nhằm thúc đẩy tinh thần đọc sách của các thành viên. + Các bước tiến hành: Bước 1. Giáo viên xây dựng phần khung trang Padlet. Bước 2. Hướng dẫn HS cách sử dụng trang Padlet. Bước 3. Giao nhiệm vụ. ❖Trang Padlet tủ sách ôn thi vào 10 - GV đưa ra, đánh giá, nhận xét, thông báo lên cột thông báo - GV đưa các tài liệu, đề ôn theo từng chủ đề, chuyên đề - Các thành viên nộp sản phẩm theo yêu cầu lên cột Padlet tương ứng của mình. - GV và HS cùng chia sẻ các nội dung liên quan tới kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 năm 2023 - 2024 ❖Trang Padlet tủ sách ôn học sinh giỏi - GV đưa ra các chuyên đề tài liệu học sinh giỏi theo theo mục 13 - GV và HS cùng chia sẻ các nội dung liên quan đến kì thi học sinh giỏi môn Ngữ văn ❖Trang Padlet tủ sách online – văn hóa đọc - GV đưa ra mục đích, yêu cầu. - GV phân quyền cho các nhóm trưởng nghiên cứu, phân công công việc cho các tổ nhóm, thành viên cùng nhau xây dựng. - GVCN góp ý để hoàn thiện. Bước 4. Góp ý, hoàn thiện, sử dụng. + Kết quả đạt được Đã xây dựng được 03 trang Padlet sử dụng cho công tác giảng dạy môn Ngữ văn tại trường THCS Tiên Sơn. Trang Padlet tủ sách online – văn hóa đọc: là kho sách online khổng lồ cho HS của các lớp, trên đó có hướng dẫn cách đọc sách sao cho hiệu quả, có kho sách đọc online, có kho sách nói có thể chia sẻ được cho tất cả mọi người cùng tham gia đọc sách. (Trang Padlet tủ sách online – văn hóa đọc) Trang padlet tủ sách ôn thi vào 10: là kho tài liệu ôn thi vào 10 đã được chia theo các chủ đề lớn: chuyên đề đọc hiểu, chuyên đề nghị luận xã hội, chuyên đề nghị luận văn học và đề thi tuyển sinh dành cho học sinh tham khảo tự luyện 14 (Trang Padlet tủ sách ôn thi vào 10) Trang Padlet tủ sách ôn thi học sinh giỏi: là kho tài liệu ôn thi học sinh giỏi Ngữ văn các khối 6, 7, 8, 9. Trên đó có các tài liệu, đề thi học sinh giỏi môn Ngữ văn học sinh có thể tham khảo tự luyện (Trang Padlet tủ sách ôn thi học sinh giỏi) IV. Khả năng áp dụng của sáng kiến Các ứng dụng Padlet, Zalo, Facebook không chỉ sử dụng trong các hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn, mà còn có thể sử dụng trong các hoạt động giảng dạy ở các bộ môn khác và quản lý hành chính. Sáng kiến hoàn toàn phù hợp với 15 mọi cấp học. Không những có thể áp dụng vào việc giảng dạy, sáng kiến còn có thể áp dụng trong các cơ quan, địa phương, trong các ngành khác. Ứng dụng Padlet có thể sử dụng trong quá trình dạy học trực tuyến, là kênh để GV giao bài tập – học sinh nộp bài tập theo chủ đề, khá thuận lợi và dễ theo dõi. Padlet sử dụng để tạo ra kho tư liệu online dùng chung cho GV và HS, chia sẻ cho các các giáo viên khác trong trường hoặc chia sẻ cho các trường bạn cùng sử dụng, trao đổi; Padlet cũng khá phù hợp với công tác quản lý của các phòng ban, tổ chuyên môn. Vừa là kho tư liệu, vừa là nơi quản lý việc báo cáo, đánh giá công việc. Trong hoạt động chuyên môn tôi đã tạo được trang Padlet dùng cho công tác chủ nhiệm và trang Padlet họp PHHS. (Trang Padlet chủ nhiệm lớp 9D năm học 2022 – 2023) 16 (Trang Padlet họp PHHS lớp 9D năm học 2022 – 2023) V. Hiệu quả của sáng kiến Sau khi áp dụng các giải pháp này, tôi thu được những kết quả rất đáng khích lệ. Giúp cho tiết dạy và học môn Ngữ văn trở nên sôi nổi và hào hứng một cách rõ rệt đồng thời cũng giúp tạo niềm say mê, hứng thú cho các em trong học tập môn Ngữ văn. Các phiếu học tập học sinh không cần dùng gấy A0 mà thay vào đó là giấy A4 và giấy nhớ. Hiệu quả ngoài dự kiến: + Trong quá trình áp dụng tôi thấy học sinh tích cực chuẩn bị bài hơn. + Phần bài tập chuẩn bị ở nhà càng ngày trình bày càng khoa học, lưu loát, rõ ràng hơn. + Các em học tập với tinh thần hứng thú hơn. + Học sinh có sự tương tác với giáo viên và các bạn, trong quá trình giao bài tập các em mạnh dạn đề xuất những hình thức học tập như tiếp sức, ..và có sự phân công hợp lí hơn. + Sản phẩm của học sinh có kết hợp ứng dụng công nghệ thông tin như các em tự làm video thuyết trình được các sản phẩm tự đóng kịch các tiết văn bản và quay video lại. + Nhiều học sinh chữ viết tiến bộ rõ rệt và mong muốn được trình bày, tham gia hoạt động nhóm tích cực. + Chất lượng, tỉ lệ HS quan tâm và yêu thích môn học tăng rõ rệt. Sau đây là bảng so sánh kết quả học lực môn Ngữ văn ở các lớp 9B, 9D, 6A như sau: Về học lực: Giỏi Khá TB Yếu Kém Lớp Sĩ số SL % SL % SL % SL % SL % 9B 38 0 0 31 81.6 7 18.4 0 - 0 - 9D 34 0 0 10 29.4 24 70.6 0 - 0 - 6A 41 31 75.6 10 24.4 0 - 0 - 0 - Tổng 113 31 27.4 51 45.1 31 27.4 0 - 0 - 17 Khi chưa áp dụng sáng kiến Tổng số Giỏi Khá TB Yếu Kém HS SL % SL % SL % SL % SL % 113 20 17.7 46 40.7 42 37.2 5 4.4 0 0 Kết quả sau khi áp dụng sáng kiến Tổng số HS Giỏi Khá TB Yếu Kém SL % SL % SL % SL % SL % 113 31 27.4 51 45.1 31 27.4 0 0 0 0 So sánh Giảm Tăng 9.7% tăng 4.4 % Giảm 9.7% tăng giảm 4.4% - + Chất lượng học sinh giỏi môn Ngữ văn cũng tăng hơn so với những năm học trước cả về số lượng và chất lượng. Kết quả học sinh giỏi văn hóa cấp huyện môn Ngữ văn đạt được như sau: (Kết quả kì thi HSG văn hóa cấp huyện môn Ngữ văn 6 năm học 2022 - 2023) Về thái độ với môn học: (Kết quả khảo sát về thái độ với môn học thông qua google Forms)

File đính kèm:

  • docxkhai_thac_mot_so_ung_dung_mang_xa_hoi_va_phan_mem_padlet_tro.docx