Hướng dẫn học sinh lớp 1 thực hiện tốt phép cộng, phép trừ (Không nhớ) trong phạm vi 100
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hướng dẫn học sinh lớp 1 thực hiện tốt phép cộng, phép trừ (Không nhớ) trong phạm vi 100, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
UBND HUYỆN HIỆP HÒA
TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐOAN BÁI SỐ 1
TÊN SÁNG KIẾN: Hướng dẫn học sinh lớp 1 thực hiện tốt phép cộng, phép
trừ (không nhớ) trong phạm vi 100
Họ và tên: Nguyễn Thị Cúc
Chức vụ: giáo viên
Đơn vị: Trường Tiểu học Đoan Bái số 1
Lĩnh vực nghiên cứu: Giáo dục
Hiệp Hòa, tháng 4 năm 2025 1
UBND HUYỆN HIỆP HÒA
TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐOAN BÁI SỐ 1
TÊN SÁNG KIẾN: Hướng dẫn học sinh lớp 1 thực hiện tốt phép cộng, phép
trừ (không nhớ) trong phạm vi 100
Họ và tên: Nguyễn Thị Cúc
Chức vụ: giáo viên
Đơn vị: Trường Tiểu học Đoan Bái số 1
Hiệp Hòa, tháng 4 năm 2025
2
MỤC LỤC
STT NỘI DUNG TRANG
1 PHẦN I. PHẦN MỞ ĐẦU 2
I.2 LÝ DO CHỌN GIẢI PHÁP 2
II.3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3
III.4 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
5 1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3
6 2. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
IV.7 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
V.8 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
VI.9 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA GIẢI PHÁP 3
10 PHẦN II. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ 4
11I. CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
12II. THỰC TRẠNG 5
13III. CÁC GIẢI PHÁP 6
14IV. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG 15
15V. HIỆU QUẢ 15
16 PHẦN III. KẾT LUẬN 16
I.
II.
3
PHẦN I. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN GIẢI PHÁP
- Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay đất nước ta cần có
những con người có tri thức và trí tuệ, có khả năng nắm bắt khoa học kĩ thuật. Để
có những con người như thế chỉ có con đường giáo dục. Bậc tiểu học là bậc học
nền tảng nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn lâu dài về tri
thức, trí tuệ thẩm mĩ, tạo tiền đề cho việc học tập tiếp theo và phát triển toàn diện.
- Mỗi môn học đều có vai trò quan trọng góp phần vào việc hình thành nhân
cách học sinh. Trong đó môn toán ở lớp 1 giữ vai trò hết sức quan trọng, bởi toán
lớp 1 cung cấp cho các em những kiến thức đầu tiên, là cơ sở cho việc phát triển
kỹ năng tính toán và tư duy, giúp học sinh nhanh chóng hoàn thiện mình. Hiện nay,
chương trình toán tiểu học cao đòi hỏi học sinh đạt được chuẩn về kiến thức, kỹ
năng. Ngoài ra học sinh còn được tăng cường kiến thức, kỹ năng vào buổi 2. Điều
đó rất khó khăn, với yêu cầu là học sinh học tập một cách chủ động, tích cực trong
lĩnh hội tri thức, tự phán đoán, giải quyết các bài tập.
- Phép cộng và phép trừ là hai trong bốn phép tính cơ bản trong dạy toán tiểu
học. Phép cộng, trừ (không nhớ) trong phạm vi 100 là một phần kiến thức quan
trọng giúp học sinh hình thành kiến thức, kĩ năng cơ bản tạo nền tảng cho học sinh
học lên lớp trên.
- Xuất phát từ thực tiễn, các em vừa mới vào lớp 1 còn nhiều bỡ ngỡ với
môi trường học tập mới. Giáo viên đôi khi còn tập trung nhiều vào việc đọc và
viết của học sinh, chưa thực sự quan tâm sát sao tới kĩ năng tính toán và tư duy
của học sinh.
- Vì vậy làm thế nào để học sinh học tốt môn toán lớp 1, chất lượng môn
toán được nâng cao là việc làm vô cùng quan trọng, nhằm đáp ứng nhu cầu giáo
dục hiện nay.
- Khi dạy toán ở tiểu học vừa phải đảm bảo tính chính xác của toán học vừa
phải đảm bảo tính vừa sức với học sinh. Kết hợp yêu cầu đó là một việc làm khó,
đòi hỏi tính khoa học và nhận thức, tốt cả nội dung lẫn phương pháp.
- Trong mỗi tiết học là dịp để học sinh hình thành những kiến thức và kĩ năng
mới, vận dụng một cách sáng tạo nhất, thông minh nhất trong việc học toán trong
cuộc sống sau này. Chính vì vậy, người giáo viên cần biết phát huy tính tích cực, trí
thông minh của học sinh thông qua giờ học toán.
- Vì thế, để giúp cho học sinh có thể học tốt môn toán nói chung, thực hiện
cộng, trừ ( không nhớ) trong phạm vi 100 nói riêng, nên tôi đã chọn biện pháp:
4
“Hướng dẫn học sinh lớp 1 thực hiện tốt phép cộng và phép trừ (không
nhớ) trong phạm vi 100 ”.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Nhằm nâng cao chất lượng học sinh thực hiện tốt phép cộng và phép trừ
(không nhớ) trong phạm vi 100 đạt hiệu quả.
- Cung cấp cho học sinh cách học, cách làm để nắm được các kiến thức và
có các kĩ năng cơ bản khi thực hiện phép tính cộng và phép trừ . Từ đó giúp các em
có cơ sở học tốt môn Toán cũng như tạo điều kiện để thực hiện tốt phép tính cộng,
trừ ở các lớp trên. Các em không còn nhầm lẫn phép cộng và phép trừ dẫn tới làm
sai kết quả.
- Đáp ứng mục đích dạy Toán nói chung và dạy cách thực hiện phép cộng và
phép trừ ở lớp 1 nói riêng phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí, khả năng lĩnh hội tri
thức của HS Tiểu học. Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
- Tự nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn của mình trong việc dạy
phép cộng và phép trừ (không nhớ) trong phạm vi 100.
III. ĐỐI TƯỢNG PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu các biện pháp giúp học sinh lớp 1 thực
hiện tốt phép cộng và phép trừ (không nhớ) trong phạm vi 100.
- Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 1D, Trường Tiểu học Đoan Bái số 1 nơi
tôi đang công tác trong năm học 2024 – 2025
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Đưa ra một số phương pháp cải tiến trong dạy học môn Toán.
- Chọn ra các bài tập có hệ thống từ dễ đến khó phù hợp với từng trình độ của
HS nhằm nâng cao hiệu quả trong dạy và học môn Toán và trong thực
hiện phép cộng, phép trừ.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp trò chuyện vấn đáp
- Phương pháp thực hành
- Phương pháp trò chơi
- Phương pháp bàn tay nặn bột
- Phương pháp quan sát
VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA GIẢI PHÁP
Cũng là cách hướng dẫn học sinh thực hiện cộng, trừ trong phạm vi 100
(không nhớ) nhưng mỗi người sẽ có một cách thức riêng để tổ chức có hiệu quả.
Điều đó còn phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh nơi bạn công tác (thuận lợi hay
5
khó khăn), phụ thuộc vào môi trường sống của từng học sinh. Vì vậy trên cơ sở
những tài liệu đã có thì người giáo viên cũng rất cần phải có những kinh nghiệm
thực tế để giảng dạy có hiệu quả. Từ những kinh nghiệm thực tế mà tôi đang áp
dụng cũng chính là điểm khác biệt của giải pháp:
- Chỉ rõ được cách thức, con đường tổ chức cho học sinh biết thực hiện cộng,
trừ trong phạm vi 100 có hiệu quả.
-Kĩ năng thực hiện tính cộng, trừ của học sinh tương đối thành thạo, nâng cao
hơn nữa chất lượng của học sinh.
- Khắc phục được tình trạng HS đã biết thực hiện tính trừ nhưng còn lúng
túng, gặp khó khăn khi vận dụng vào để liên hệ thực tế.
- Giáo viên có thêm kĩ năng về tổ chức dạy học cho học sinh làm tốt kĩ năng
cộng, trừ trong phạm vi 100 (không nhớ).
PHẦN II. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lý luận:
Toán học là một trong những môn học quan trọng và cần thiết ở bậc Tiểu học.
Học Toán giúp các em biết tư duy logic, biết tính toán. Thông qua môn Toán các
em sẽ hình thành và rèn luyện các kỹ năng thực hành: đọc, viết, đếm, so sánh các
số trong phạm vi 100; cộng và trừ không nhớ các số trong phạm vi 100; đo và ước
lượng độ dài đoạn thẳng ( với các số đo là số tự nhiên trong phạm vi 20cm); nhận
biết hình vuông, hình tròn, hình tam giác, đoạn thẳng, điểm; vẽ đoạn thẳng có độ
dài 10cm; giải một số toán đơn về cộng, trừ; bước đầu biết diễn đạt bằng lời, bằng
ký hiệu một số nội dung đơn giản của bài học và bài thực hành; tập so sánh, phân
tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá trong phạm vi những nội dung có
nhiều quan hệ với đời sống thực tế của học sinh.
2. Cơ sở thực tiễn:
Xuất phát từ thực tiễn, các em vừa mới vào lớp 1 còn nhiều bỡ ngỡ với
môi trường học tập mới. Giáo viên đôi khi còn tập trung nhiều vào việc đọc và
viết của học sinh, chưa thực sự quan tâm sát sao tới kĩ năng tính toán và tư duy
của học sinh. Vì vậy làm thế nào để học sinh học tốt môn toán lớp 1, chất
lượng môn toán được nâng cao là việc làm vô cùng quan trọng, nhằm đáp ứng
nhu cầu giáo dục hiện nay. Bên cạnh đó làm như thế nào để học sinh chăm chỉ, tự
tin, ham hiểu biết và hứng thú trong học tập cũng là cả một vấn đề .
6
Để học sinh có thể đạt được những yêu cầu đã đặt ra ở trên không phải là khó
nhưng cũng hề dễ nếu giáo viên không có những cải tiến thích hợp về phương pháp
dạy – học. Đó cũng chính là điều làm tôi luôn băn khoăn, trăn trở tìm cách để nâng
cao chất lượng dạy – học, nâng dần trình độ tiếp thu của học sinh.
Kết quả quan sát học sinh đầu năm học 2024- 2025 tôi đã thống kê:
Nhận thức của học sinh Lớp 1D
Khả năng phân biệt được phép trừ và phép cộng. 18/36 em
Khả năng thực hiện phép cộng, phép trừ. 16/36 em
Kĩ năng cộng, trừ nhẩm . 15/36 em
Kĩ năng thực hiện phép tính có nhiều dấu tính 20/36 em
II. THỰC TRẠNG
1. Thực trạng
- Các em mới được vào lớp Một, làm quen với trường, với lớp; làm quen với
hoạt động học tập, làm việc có giờ giấc nên các em phải tập dần cho thích nghi, lại
làm quen với các chữ và số, điều đó làm cho các em hay quên. Với lại, thời gian ở
lớp rất ít, thời gian còn lại các em ở nhà, nhưng về nhà đa số phụ huynh không có
nhiều thời gian quan tâm, các em còn ham chơi chưa tự giác trong học tập, không
xem lại bài học ở lớp nên các em học trước quên sau, học sau quên trước.
- Việc tổ chức hình thức học tập, các trò chơi mới, sân chơi phong phú cho
học sinh khi học môn toán còn hạn chế. Khả năng tích hợp các môn như Tiếng
Việt, TNXH còn chưa thường xuyên, đạt hiệu quả chưa thực sự tốt. Ví dụ: trò
chơi “Ai nhanh, ai đúng”, “Truyền điện” , việc đặt câu hỏi để hỏi bạn của học
sinh còn hạn chế, lúng túng.
- Dạy phép cộng, phép trừ trong phạm vi từ 3 đến 10, học sinh thường lẫn lộn
giữa cộng với trừ. Giáo viên dạy “cộng là thêm”, “trừ là bớt”. Nhưng khi thực hành
làm toán có em lại làm “cộng là bớt”, “trừ là thêm”, dẫn đến kết quả bài toán luôn
ngược lại với phép tính hoặc các em không đọc đề bài không chú ý nghe cô hướng
dẫn đề bài dẫn đến bài nào các con cũng làm tính cộng hoặc trừ.
2. Nguyên nhân: Đa số các em có bố mẹ là công nhân, ít thời gian dành cho
con trong việc học tập.
- Dạy học phép cộng, phép trừ ( không nhớ ) trong phạm vi 100.
7
- Đặt tính: học sinh thường hay mắc phải trường hợp đặt tính sai dẫn đến kết
quả đúng hoặc sai nhưng cách trình bày chưa đúng.
- Dạy tính nhẩm về cộng, trừ trong phạm vi 10, học sinh chưa phân biệt được
số đứng trước, số đứng sau. Nên các em thực hiện tính lộn xộn.
- Với các dạng bài toán có hai phép tính, học sinh thường quên thực hiện với
số thứ ba.
- Khi dạy phép cộng, trừ các số theo hàng ngang, có một vài học sinh thường
ghi sai kết quả của phép tính.
- Kĩ năng tính nhẩm của các em còn hạn chế.
- Học sinh thuộc bảng cộng, trừ nhưng khi vận dụng bảng cộng, bảng trừ vào
làm bài còn chậm, nhầm lẫn.
- Khi thực hiện phép cộng, trừ trong phạm vi 100 các em còn lẫn lộn giữa
thực hiện cộng và trừ.
III . NỘI DUNG CÁC GIẢI PHÁP
Trong mỗi bài, giáo viên có thể sử dụng một phương pháp hoặc kết hợp
nhiều phương pháp. Điều đó phụ thuộc vào khả năng thiết kế của giáo viên song
tránh gây sự rắc rối và học sinh có thể nắm chắc được kiến thức bài học, từ đó có kĩ
năng thực hành thành thạo các dạng bài tập. Sau đây tôi xin trình bày một số giải
pháp khi dạy thực hiện các phép tính cộng, trừ (không nhớ) trong phạm vi 100 như
sau:
1. Giải pháp 1: Phân biệt phép cộng và phép trừ.
Ngay khi bắt đầu dạy các bài phép cộng, phép trừ đầu tiên giáo viên luôn chú
ý học sinh nhớ rằng “cộng là thêm vào, trừ là bớt đi”. Ở tiết học toán nào cũng
vậy, giáo viên chú ý hỏi học sinh “ cộng là gì? trừ là gì ?”, để cho nhiều học sinh
nhắc lại. Khi làm bài tập giáo viên cũng cho học sinh xác định: Cộng là gì? Trừ là
gì?
Đối với những em có năng khiếu môn Toán có thể nhẩm và tìm ra kết quả
nhanh chóng. Còn những em có lực học môn toán ở mức độ bình thường giáo viên
yêu cầu học sinh luôn mang theo que tính để thực hành. Các em làm bài dựa trên
que tính rất chính xác.
Áp dụng như vậy, giáo viên dạy các bài phép cộng, phép trừ trong phạm vi 3
đến 10 các em làm rất có hiệu quả. Tuy những học sinh học bình thường, tiếp thu
bài chậm làm tính còn chậm nhưng rất chính xác. Tuy nhiên cần cho các em nắm
chắc thuộc bảng cộng và bảng trừ. Để học sinh khắc sâu không nhầm lẫn phép cộng
8
và phép trừ khi làm các dạng bài tập. Học sinh phải nắm chắc được bản chất của
phép cộng là thêm vào và phép trừ là tách ra, bớt đi.
Ví dụ:
Có 6 que tính, thêm 4 que tính. Có tất cả 10 que tính.
Ta có phép cộng: 6 + 4 = 10
Học sinh xác định được “thêm” que tính thì phải thực hiện phép cộng chứ
không phải phép trừ.
Ví dụ:
Có 5 con chim đậu trên cành, sau đó 2 con chim bay đi. Còn lại 3 con chim.
Ta có phép trừ: 5 – 2 = 3.
Học sinh xác định được “bay đi ” thì phải thực hiện phép trừ chứ không phải
phép cộng.
Khi học sinh hiểu được bản chất của phép trừ, phép cộng thì học sinh dễ dàng
thao tác trên đồ dùng để hình thành kiến thức mới và không nhầm lẫn phép cộng và
phép trừ.
2.2.2. Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh thực hiện tính nhẩm bằng cách
che bớt số.
Để rèn cho học sinh làm tốt các phép tính thì tính nhẩm cũng hết sức quan
trọng. Với mỗi phép tính giáo viên cần yêu cầu học sinh học thuộc các bảng tính.
Khi học đến dạng bài nào giáo viên củng cố chắc các dạng bài đó cho học sinh
thông qua một số hình thức như: thi đua nhóm đôi; gọi học sinh lên bảng đọc; hỏi
bất kì phép tính nào trong bảng; yêu cầu học sinh kiểm tra nhau hoặc đố nhau phép
tính... Những phép tính này giúp các em nhớ lại kiến thức cũ và vận dụng tốt vào
làm bài tập.
Giáo viên cho học sinh dùng vật che chữ số hàng chục, thực hiện chữ số
hàng đơn vị trừ đi với chữ số hàng đơn vị, rồi viết kết quả ra ngoài cùng tay phải,
rồi hạ chữ số hàng chục bên trái của chữ số hàng đơn vị vừa tính được.
Ví dụ: 14 - 3 =
Học sinh thực hiện:
4 - 3 =
Che 1 chục
Tính: 4 - 3 = 1, viết 1, sau đó viết 1 chục trước chữ số 1 là được 14 – 3 = 11.
Khi học sinh dần dần có thể tự nhẩm mà không cần phải che cũng không cần
phải lấy nhiều que tính mà chỉ áp dụng các phép trừ trong phạm vi 10 đã học.
9
Đối với tính trừ nhẩm số có hai chữ số cho số có hai chữ số thì thực hiện tính
từ phải sang trái, giáo viên cũng hướng dẫn thao tác che bớt số đứng trước, thực
hiện tính: “số đứng sau tính với số đứng sau”, che số đứng sau, thực hiện: “số đứng
trước tính với số đứng trước”, ghi kết quả phía trước
Ví dụ:Tính nhẩm 64 - 10
6 4 - 1 0 =
Che số đứng trước, thực hiện : 4 – 0 = 4, viết 4.
6 4 – 1 0 =
Che số đứng sau, thực hiện : 6 – 1 = 5, viết 5 ra trước số 4.
Vậy 64 – 10 = 54
Giáo viên thường xuyên cho học sinh thực hiện các phép tính tương tự. Dần dần
học sinh tự nhẩm không cần phải che mà các em cũng tính được.
Từ cách trừ nhẩm đó, rút ra được một cách trừ nhẩm như sau:
+ Bước 1: Lấy chữ số hàng đơn vị trừ đi chữ số hàng đơn vị rồi viết kết quả
ở hàng đó.
+ Bước 2: Đối với phép trừ số có hai chữ số với số có một chữ số thì chuyển
chữ số hàng chục sang viết kết quả ở chữ số hàng chục. Còn đối với trừ số có hai
chữ số cho số có hai chữ số thì ta lấy chữ số hàng chục trừ cho chữ số hàng chục,
rồi viết kết quả ở hàng đó.
3. Giải pháp 3: Hướng dẫn HS thực hiện dãy tính có 2 phép tính bằng
cách sử dụng các dấu móc.
Dạy các dạng toán có hai phép tính : bước đầu giáo viên cho học sinh dùng
“móc” để thực hiện phép tính thứ nhất, rồi lấy kết quả thực hiện với phép tính thứ
hai.
Ví dụ : 2 + 1 + 2 =
3 + 2 = 5
học sinh nêu : 2 + 1 = 3 ; 3 + 2 = 5, viết 5.
Vậy : 2 + 1 + 2 = 5
Các bài đầu giáo viên bắt buộc học sinh phải thực hiện như vậy để biết cách
làm, những bài sau cho các em tự nhẩm nhưng phải nêu được cách làm.
Giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh thật kĩ trong các dạng bài về cộng trừ trong
phạm vi 10. Để rèn cho học sinh làm tốt các phép tính thì tính nhẩm .
Với mỗi phép tính giáo viên cần yêu cầu học sinh học thuộc các bảng tính.
Khi học đến dạng bài nào giáo viên củng cố chắc các dạng bài đó cho học sinh
thông qua một số hình thức như: thi đua nhóm đôi; gọi học sinh lên bảng đọc; trò
10
chơi truyền điện, nhìn hình đoán phép tính.... hỏi bất kì phép tính nào trong bảng;
yêu cầu học sinh kiểm tra nhau hoặc đố nhau phép tính... Những phép tính này giúp
các em nhớ lại kiến thức và vận dụng tốt làm bài tập.
Khi dạy dạng toán phép cộng, phép trừ có hai dấu tính (dấu cộng, dấu trừ
hoặc cả dấu cộng và trừ), lúc đầu giáo viên cho học sinh dùng “móc” để thực hiện
phép tính thứ nhất, rồi lấy kết quả thực hiện với phép tính thứ hai. Những bài sau
cho các em tự nhẩm nhưng phải nêu được cách làm.
Ví dụ :
35 + 23 + 20 = Học sinh sẽ tính 35 + 23 = 58 sau đó sẽ lấy 58 + 20 = 78
Vậy 35 + 23 + 20 = 78
Ví dụ : 30 + 10 + 20 = .
Học sinh nhẩm ngay : 30 + 10 + 20 = 60
Và nêu cách làm : 3 chục cộng 1 chục bằng 4 chục, 4 chục cộng tiếp 2 chục bằng 6
chục.Vậy 3 chục cộng 1 chục cộng 2 chục bằng 6 chục.
Với cách tính này học sinh nhớ nhanh hiểu nhanh, không nhầm lẫn, học sinh
nào cũng nhẩm được kết quả ngay.
4. Giải pháp 4: Hướng dẫn học sinh đặt tính và tính đúng các dạng toán
phép cộng và phép trừ trong phạm vi 100 .
a) Cách hướng dẫn các em hình thành phép tính trong dạng 14 + 3
Để học sinh thực hiện đúng và thành thạo các bài tính cộng dạng 14 +3, khi
dạy phần này tôi tiến hành như sau
Tôi hướng dẫn học sinh lấy ra 14 que tính (gồm 1 bó 1 chục và 4 que tính rời)
và hỏi học sinh có bao nhiêu que tính? (có 14 que tính).
Tôi hướng dẫn học sinh lấy thêm 3 que tính nữa. Tôi vừa thao tác vừa nói có 4
que tính thêm 3 que tính có tất cả mấy que tính? (7 que tính).
1 bó chục với 7 que tính là mấy que tính? (17 que tính). Như vậy 14 + 3 = ?
(HS: 14 + 3 = 17).
Tôi gợi ý cho học sinh cách nhẩm như sau: Tách 4 ở số 14, 4 cộng 3 bằng 7,
viết 7 (xa dấu = 1 chút), hàng chục giữ nguyên; viết 1 sang bên phải dấu =, bên trái
số 7 vừa viết.
Ta có: 14 + 3 = 17
Từ đó tôi nêu ra biện pháp thực hiện:
+ Lấy số đơn vị cộng với số đơn vị, số chục giữ nguyên. Cộng từ phải sang
trái, từ trên xuống dưới
+ Sau đó tôi hướng dẫn học sinh cách đặt tính rồi tính
11
14
+
3
Viết số 14, viết số 3 thẳng cột với số 4. Đặt dấu cộng bên trái, giữa hai
số, dùng thước gạch ngang dưới số 3.
Thực hiện phép cộng:
14 + Lấy 4 cộng 3 bằng 7, viết 7 (thẳng cột với 3)
+ + Hạ 1, viết 1
3
17
Vậy: 14 + 3 = 17.
b) Dạng cộng, trừ các số trong phạm vi 100 (cộng, trừ không nhớ).
a. Dạng cộng, trừ số có hai chữ số với số có một chữ số:
Ví dụ 1: 34 + 4
Bước 1: Tôi hướng dẫn học sinh thao tác trên que tính
Hướng dẫn học sinh lấy ra 34 que tính (gồm 3 bó chục que tính và 4 que
rời). Xếp 3 bó chục que tính ở bên trái, các que tính rời ở bên phải, nói và viết vào
bảng: “có 3 bó chục, viết 3 ở cột chục, có 4 que rời viết 4 ở cột đơn vị”.
Lấy tiếp 4 que tính rời đặt thẳng cột với 4 que tính rời. Gộp 4 que tính với 4
que tính được 8 que tính, viết 8 ở cột đơn vị vào các dòng ở cuối bảng, 3 bó chục
giữ nguyên, viết 3 ở cột chục.
Bước 2: Hướng dẫn kỹ thuật.
Để làm tính cộng dạng 34 + 4 ta đặt tính: Viết 34 rồi viết 4 sao cho cột đơn
vị thẳng cột với đơn vị, viết dấu +, kẻ vạch ngang, rồi tính từ phải sang trái, cộng từ
trên xuống dưới.
34 + Lấy 4 cộng 4 bằng 8, viết 8 thẳng hàng đơn vị
+ + Hạ 3, viết 3 (thẳng hàng chục)
4 -> Như vậy: 34 + 4 = 38.
38
(Đối với phép trừ dạng này tôi cũng thực hiện tương tự như trên)
Tôi gợi ý học sinh rút ra cách đặt tính rồi tính: “Viết phép tính theo cột dọc, số
có 1 chữ số viết dưới số có hai chữ số sao cho các chữ số cùng hàng thẳng cột với
nhau, cộng (trừ) từ phải sang trái, từ trên xuống dưới”.
c) Dạng toán cộng, trừ số có hai chữ số với số tròn chục
12
Ví dụ 1: 35 – 20
Giáo viên lấy ra 35 que tính (gồm 3 bó chục và 5 que rời), lấy tiếp 20 que
tính (2 bó chục).
Giáo viên hướng dẫn học sinh: Lấy chữ số hàng đơn vị trừ đi chữ số hàng
đơn vị, chữ số hàng chục trừ với chữ số hàng chục.
Như vậy: 35 que tính trừ 20 que tính bằng 15 que tính.
Từ đó chuyển sang đặt tính viết và tiến hành như sau:
35 + Lấy chữ số 5 trừ chữ số 0 bằng 5, viết 5
- + Lấy chữ số 3 trừ chữ số 2 bằng 1, viết 1
20
15
Vậy : 35 – 20 = 15
* Sau đó giáo viên gợi ý để học sinh rút ra cách đặt tính rồi tính: “Viết phép
tính theo cột dọc sao cho các chữ số cùng hàng thẳng cột với nhau; cộng (trừ) từ
phải sang trái, từ trên xuống dưới”.
d) Dạng toán cộng, trừ một số có 2 chữ số với một số có 2 chữ số:
Ví dụ : 41 + 34
Bước 1: Hướng dẫn học sinh thao tác trên các que tính.
Giáo viên lấy ra 41 que tính (gồm 4 bó chục và 1 que rời), lấy tiếp 34 que
tính (gồm 3 bó chục và 4 que rời).
Giáo viên hướng dẫn học sinh: Lấy bó chục cộng với bó chục, que rời cộng
với que rời.
Như vậy: 41 que tính cộng 34 que tính bằng 75 que tính.
Bước 2: Hướng dẫn kĩ thuật làm tính.
Viết 41 rồi viết 34 dưới 41 sao cho chục thẳng cột với chục, đơn vị thẳng cột với
đơn vị, viết +, kẻ dấu gạch ngang thay cho dấu bằng = , rồi tính từ phải sang trái, từ
trên xuống dưới.
41 + Lấy 1 cộng 4 bằng 5, viết 5
+ + Lấy 4 cộng 3 bằng 7, viết 7
34
75
(Đối với phép trừ dạng này giáo viên cũng thực hiện tương tự như trên)
* Giáo viên lưu ý HS: Nếu cộng, trừ hai số đều có số đơn vị và số chục thì ta
thực hiện cộng, trừ số đơn vị trước rồi đến số chục
13
* Gợi ý để học sinh rút ra cách tính: Viết phép tính thẳng cột với nhau sao
cho các chữ số cùng hàng thẳng cột với nhau; cộng, trừ từ phải sang trái từ trên
xuống dưới.
* Khi rèn kĩ năng cộng, trừ không nhớ cho học sinh lớp 1 giáo viên hướng
dẫn các em thật kĩ từng bước một, sau đó giao bài tập cho học sinh làm ở bảng con,
làm vào vở bài tập với nhiều dạng khác nhau. Trong khi các em làm bài GV sẽ đến
từng bàn để xem các em làm bài như thế nào, có đúng theo cách hướng dẫn hay
không, nếu em nào làm sai hoặc cộng, trừ ngược thì GV sẽ gợi ý, hướng dẫn lại để
các em làm bài cho đúng.
5. Giải pháp 5: Thiết kế tổ chức các trò chơi học tập lồng ghép trong các
tiết học.
Thông qua trò chơi học tập, các em lĩnh hội tri thức toán học dễ dàng, kiến
thức được củng cố, khắc sâu một cách vững chắc, tạo cho các em niềm say mê
hứng thú trong học tập. Khi giáo viên tổ chức trò chơi toán học thường xuyên, khoa
học thì chất lượng môn toán sẽ được nâng cao.
Dựa vào nội dung kiến thức, trình độ học sinh, có thể lựa chọn trò chơi để
đưa vào dạy học như một hoạt động dạy học toán.
Khi xây dựng trò chơi chú ý xác định rõ mục đích học tập của trò chơi. Các
bước chuẩn bị tiến hành trò chơi như sau:
Công bố luật chơi.
Tiến hành chơi.
Nhận xét, động viên khuyến khích.
Ví dụ 1:
Trò chơi về toán học: “ Ai nhanh ai đúng”.
Mục đích: Luyện tập phép trừ trong phạm vi 5.
Cách chơi: Học sinh đứng vòng tròn mỗi em đọc một phép tính trừ bắt đầu từ 2 – 1
= 1 . 5 – 4 = 1 và tương tự cho đến hết phép trừ trong phạm vi 5.
Kết thúc trò chơi giáo viên nhận xét tuyên dương, động viên các em còn chậm
để các em cùng tham gia chơi.
Ví dụ 2 :
Khi chơi trò chơi: "Làm tính tiếp sức".
Mục đích: Luyện tập trừ số tròn chục trong phạm vi đã học
Kẻ sẵn bảng phụ hình như sau:
+ 40 - 30 + 20 - 40
14
Cách chơi: Chia làm ba đội chơi, mỗi đội 4 học sinh. Khi giáo viên ra hiệu
lệnh bắt đầu chơi thì bạn đầu tiên của mỗi đội, lên điền kết quả của phép tính đầu
tiên vào hình vuông, rồi nhanh chóng trao bút cho người thứ hai. Cứ tiếp tục như
thế... Bạn thứ tư lên điền kết quả cuối cùng vào hình tròn. Đội nào điền chính xác
và nhanh hơn sẽ thắng cuộc.
Kết thúc trò chơi giáo viên nhận xét tuyên dương, động viên các em. Qua trò
chơi học sinh vừa thoải mái trong học tập, vừa giúp củng cố kiến thức.
* Thiết kế phương pháp dạy bài tâp 2/SGK/133: Tính
Xì điện
- Mục đích :
+ Luyện tập và củng cố kỹ năng làm các phép tính trừ các số tròn chục.
+ Luyện phản xạ nhanh ở các em
- Chuẩn bị : Không cần chuẩn bị bất kỳ đồ dùng nào
- Cách chơi : Các em ngồi tại chỗ. Giáo viên sẽ gọi một bạn lên tổ chức cho
lớp chơi. Giáo viên gọi bắt đầu từ 1 em xung phong. Ví dụ em A xướng to 1 số
trong phạm vi 100 chẳng hạn “ 80” và chỉ nhanh vào em B bất kỳ để “xì điện”. Lúc
này em B phải nói tiếp, “cộng 10” rồi lại chỉ nhành vào em C bất kỳ. Thế là em C
phải nói tiếp “bằng 90”. Nếu C nói đúng thì được quyền xướng to 1 số như A rồi
chỉ vào một bạn D nào đó để “xì điện” tiếp. Cứ làm như thế nếu bạn nào nói sai
(chẳng hạn A nói “85 ” truyền cho B, mà B nói trừ “80”, C đọc kết quả tính sai (
10) thì phải nhảy lò cò một vòng từ chỗ của mình lên bảng. Kết thúc khen và
thưởng một tràng vỗ tay cho những bạn nói đúng và nhanh.
* Lưu ý :
+ Trò chơi này không cần phải chuẩn bị đồ dùng, giáo cụ ..
+ Trò chơi này có thể áp dụng được vào nhiều bài (Ví dụ : Luyện tập các
bảng cộng trừ, nhân, chia) và có thể thay đổi hình thức “truyền”. Ví dụ : 1 em hô to
“90 - 80 ” và chỉ vào em tiếp theo để truyền thì em này chỉ việc nói kết quả “bằng
10 ”. Hay “ 70 - 30 ” truyền vào bạn tiếp theo nói “bằng 40”.
+ Trò chơi này không cầu kỳ nhưng vẫn gây được không khí vui, sôi nổi, hào
hứng trong giờ học cho các em.
6. Giải pháp 6: Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học.
Ví dụ:
Dạy bài: ''Phép trừ dạng 17 – 3 " áp dụng phương pháp “bàn tay nặn bột” của môn
Tự nhiên xã hội. Áp dụng phương pháp vào hoạt động hình thành kiến thức bài
mới.
15
- Bước 1 (Nêu tình huống xuất phát)
Có 17 que tính, bớt 3 que tính. Muốn biết còn lại mấy que tính, ta làm như thế
nào? ( 17 – 3)
- Bước 2 (HS phán đoán kết quả)
GV nêu câu hỏi tình huống: “17 – 3 bằng bao nhiêu?” (kết quả mình phán
đoán: 14, 15,...)
- Bước 3 (HS đề xuất cách làm)
Trong trường hợp HS đưa ra nhiều đáp án phán đoán, cho HS đề xuất câu hỏi thắc
mắc. (đề xuất câu hỏi thắc mắc: 17 - 3 = 14 có đúng không?
17 - 3 sao lại bằng 15 được?...)
Sau đó cho HS đề xuất cách làm. (đề xuất cách làm: Thực hành trên que tính; Đặt
tính để tính; Tính nhẩm )
Trường hợp HS chỉ có 1 đáp án phán đoán thì cho HS đề xuất cách làm ngay.
- Bước 4 (HS tiến hành tìm kết quả)
Cho những HS có cùng cách đề xuất ngồi một nhóm.
Ghi kết quả của các nhóm lên bảng nhóm (tiến hành cách làm theo cách đề xuất
của nhóm mình).
Cho HS nêu kết quả chung nhất của các nhóm: 17 – 3 = 14
Cho HS đối chiếu kết quả tìm được với kết quả phán đoán ban đầu.
- Bước 5 (GV kết luận)
GV chốt kết quả đúng: 17 – 3 = 14
Chốt lại cách đặt tính (SGK).( HS nêu lại cách đặt tính)
Cho HS giải đáp những thắc mắc ban đầu.
* Khắc sâu: Đây là phép tính trừ số có 2 chữ số với số có 1 chữ số. Khi đặt
tính, các em viết số có 1 chữ số thẳng cột với chữ số hàng đơn vị của số kia. Để
khắc phục lỗi sai đặt tính của học sinh.
Các phương dạy học trên nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, đảm
bảo tiết học “nhẹ nhàng hơn, tự nhiên hơn, chất lượng hơn”.
Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn hoạt động học của học sinh, giúp học
sinh huy động vốn hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân để tự chiếm lĩnh tri thức
mới, vận dụng các tri thức mới đó vào trong thực hành.
16
Mọi học sinh đều phải hoạt động, phải độc lập suy nghĩ và làm việc, mọi học
sinh đều có cơ hội để bộc lộ khả năng của mình, để trao đổi, xử lí thông tin và lựa
chọn giải pháp cho mình.
* KẾT QUẢ
Sau một thời gian thực nghiệm đã mang lại hiệu quả rõ rệt cho HS. Giúp cho
HS nâng cao kết quả học tập: Kết quả khảo sát cuối tháng 04/2025 kết quả của lớp
1D tôi áp dụng như sau:
Nhận thức của học sinh Lớp 1D
Khả năng phân biệt được phép trừ và phép cộng. 36/36 em
Khả năng thực hiện phép cộng, phép trừ. 36/36 em
Kĩ năng cộng, trừ nhẩm . 36/36 em
Kĩ năng thực hiện phép tính có nhiều dấu tính 36/36 em
IV. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG:
Với một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 1 thực hiện tốt phép cộng, trừ
(không nhớ) trong phạm vi 100 mà tôi đưa ra có thể áp dụng được với nhiều đối
tượng học sinh khối 1 (HS tiếp thu nhanh, HS tiếp thu chậm).
Biện pháp có thể triển khai áp dụng không chỉ đối với dạy phép cộng, phép
trừ trong môn Toán lớp 1 mà còn có thể áp dụng dạy ở phần kiến thức” Dạy phép
cộng, phép trừ (có nhớ, không nhớ), phép nhân, phép chia “ của các lớp 2, 3, 4, 5.
Tôi hi vọng sáng kiến sẽ được đồng nghiệp nghiên cứu và vận dụng vào dạy
học tại các lớp và các trường bạn.
V. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN
Giáo viên sử dụng các phương pháp hợp lí thì hiệu quả bài dạy rất cao. Học
sinh rất hứng thú, không khí lớp học sôi nổi, kiến thức cơ bản nắm vững và đặc biệt
kỹ năng làm toán và giải toán thành thạo.
Sau một thời gian thực nghiệm đã mang lại hiệu quả rõ rệt cho HS. Giúp cho
HS nâng cao kết quả học tập:
- Trang bị cho học sinh biết phân biệt được phép cộng và phép trừ.
- Thực hiện cộng, trừ chính xác kết quả, không viết kết quả nhầm hàng.
- Tăng cường kĩ năng cộng, trừ nhẩm.
- Phát huy tính tích cực, tự học, chủ động của học sinh.
17
- Tăng cường kĩ năng giao tiếp, kĩ năng đặt câu hỏi cho học sinh.
- Tăng cường kĩ năng thực hiện phép tính có nhiều dấu tính.
Đặc biệt áp dụng sáng kiến này vào giảng dạy sẽ tạo được môi trường học tập lành
mạnh, vui vẻ, thân thiện.
Giáo viên biết vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, giúp học sinh tiếp thu
bài tốt nhất.
Kết quả cuối cùng là 100% học sinh hoàn thành nhiệm vụ học tập. Riêng mỗi em
đã trang bị cho mình kiến thức môn toán lớp 1 khá vững vàng , để các em có thể
học tập tốt hơn ở các lớp trên.
Tuy chất lượng chưa phải là cao vượt trội nhưng với tôi quan trọng nhất là các
em đã có ý thức học, biết kết hợp với tập thể để lĩnh hội kiến thức bài học, diễn đạt
bài theo ý hiểu của mình, kĩ năng tính toán nhanh, áp dụng vào làm các dạng bài
tập thành thạo. Các em học đến đâu, nắm chắc kiến thức đến đó.
PHẦN III. KẾT LUẬN
Cũng là Từ cách hướng dẫn học sinh thực hiện cộng, trừ trong phạm vi 100 (không
nhớ) nhưng mỗi người sẽ có một cách thức riêng để tổ chức có hiệu quả. Điều đó
còn phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh nơi bạn công tác (thuận lợi hay khó khăn),
phụ thuộc vào môi trường sống của từng học sinh. Vì vậy trên cơ sở những tài liệu
đã có thì người giáo viên cũng rất cần phải có những kinh nghiệm thực tế để giảng
dạy có hiệu quả. Từ những kinh nghiệm thực tế mà tôi đang áp dụng cũng chính là
điểm khác biệt của giải pháp:
- Chỉ rõ được cách thức, con đường tổ chức cho học sinh biết thực hiện cộng,
trừ trong phạm vi 100 có hiệu quả.
- Kĩ năng thực hiện tính cộng, trừ của học sinh tương đối thành thạo, nâng cao
hơn nữa chất lượng của học sinh.
- Khắc phục được tình trạng HS đã biết thực hiện tính trừ nhưng còn lúng
túng, gặp khó khăn khi vận dụng vào để liên hệ thực tế.
- Giáo viên có thêm kĩ năng về tổ chức dạy học cho học sinh làm tốt kĩ năng
cộng, trừ trong phạm vi 100 (không nhớ).
Trên đây là những việc tôi đã làm và kết quả đã đạt được trong công tác giảng
dạy của tôi trong suốt thời gian qua. Đó là những kinh nghiệm nhỏ mà bản thân tôi
18
đã đúc kết được trong thực tế giảng dạy. Rất mong được sự đóng góp ý kiến
nhiệt tình của Ban Giám hiệu, hội đồng khoa học cấp trên xem xét bổ sung cho
sáng kiến kinh nghiệm của tôi ngày càng phong phú hơn nhằm nâng cao chất lượng
giảng dạy.
Cam kết: Tôi cam đoan những điều khai trên đây là đúng sự thật và không
sao chép hoặc vi phạm bản quyền.
Tôi xin trân trọng cảm ơn !
XÁC NHẬN CỦA TÁC GIẢ SÁNG KIẾN
THỦ TRƯỞNG CƠ QUAN, ĐƠN VỊ (ký, ghi rõ họ và tên)
(ký tên, đóng dấu)
Nguyễn Thị Cúc
19
File đính kèm:
huong_dan_hoc_sinh_lop_1_thuc_hien_tot_phep_cong_phep_tru_kh.docx



