Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên trường PTCS Vĩnh Ninh

doc41 trang | Chia sẻ: Thảo Hoa | Ngày: 02/02/2026 | Lượt xem: 14 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang mẫu tài liệu Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên trường PTCS Vĩnh Ninh, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TiÓu luËn tèt nghiÖp líp TC LLCT - HC khãa X huyÖn Lôc Nam BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH BẮC GIANG ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, GIÁO VIÊN TRƯỜNG PTCS VĨNH NINH Giảng viên hướng dẫn : Thạc sĩ Nguyễn Xuân Cường Giảng viên Khoa Xây dựng Đảng - Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang. Người thực hiện : Nguyễn Đức Thanh Chức vụ - Đơn vị công tác : Phó hiệu trưởng - Trường PTCS Vĩnh Ninh - Lục Sơn - Lục Nam - Bắc Giang. Lớp : Trung cấp lí luận chính trị - hành chính khóa X - H.Lục Nam. Lục Nam, tháng 05 năm 2012 1 Ng­êi thùc hiÖn: NguyÔn §øc Thanh - Tr­êng PTCS VÜnh Ninh TiÓu luËn tèt nghiÖp líp TC LLCT - HC khãa X huyÖn Lôc Nam MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU PHẦN NỘI DUNG Chương I. Cơ sở lí luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên trong sự nghiệp phát triển giáo dục thời kì mới. I/ Một số quan điểm lí luận về giáo dục. II/ Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, giáo viên trong việc nâng cao chất lượng giáo dục hiện nay. III/ Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên - một yêu cầu cấp bách hiện nay. Chương II. Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên và công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên trường PTCS Vĩnh Ninh trong giai đoạn hiện nay. I/ Đặc điểm tình hình đại phương và nhà trường. II/ Thực trạng chất lượng đội ngũ và công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên trường PTCS Vĩnh Ninh trong giai đoạn hiện nay. Chương III. Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên Trường PTCS Vĩnh Ninh trong thời kì mới. I/ Những quan điểm, chủ trương, phương hướng của Đảng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên trong thời kì mới. II/ Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên Trường PTCS Vĩnh Ninh trong thời kì mới. PHẦN KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO 2 Ng­êi thùc hiÖn: NguyÔn §øc Thanh - Tr­êng PTCS VÜnh Ninh TiÓu luËn tèt nghiÖp líp TC LLCT - HC khãa X huyÖn Lôc Nam DANH MỤC CÁC CHỨ VIẾT TẮT PTCS : Phổ thông cơ sở CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa BCHTW: Ban chấp hành Trung ương XHCN: Xã hội chủ nghĩa KT-CT: Kinh tế - chính trị LLCT-HC: Lí luận chính trị-hành chính GD-ĐT: Giáo dục - đào tạo THCS: Trung học cơ sở TW: Trung ương 3 Ng­êi thùc hiÖn: NguyÔn §øc Thanh - Tr­êng PTCS VÜnh Ninh TiÓu luËn tèt nghiÖp líp TC LLCT - HC khãa X huyÖn Lôc Nam LỜI CẢM ƠN Trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập của đất nước nói chung, sự nghiệp đổi mới nền giáo dục nước nhà nói riêng, vấn đề “xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên” là vấn đề thu hút nhiều nhà nghiên cứu vì đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp giáo dục trong thời kì mới. Hiện nay, cùng với việc xác định “ Giáo dục - Đào tạo là quốc sách hàng đầu”, vấn đề “ Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ” được coi là một trong những khâu đột phá, có ý nghĩa đặc biệt. Vì thế, chúng tôi thiết nghĩ: nghiên cứu về thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên ở nhà trường phổ thông nói chung và ở đơn vị chúng tôi là việc làm hết sức cần thiết. Từ việc nghiên cứu đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên mới có thể đề ra các giải pháp hữu hiệu nhằm từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ, đáp ứng yêu cầu trong thời kì mới. Đây là việc làm vô cùng khó khăn, phức tạp. Chính vì thế, khi nghiên cứu, tôi gặp không ít khó khăn. Song với sự cố gắng của bản thân và sự giúp đỡ của đồng nghiệp, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của Thầy giáo - Thạc sĩ Nguyễn Xuân Cường, giảng viên Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang, tôi mạnh dạn đi nghiên cứu về “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên Trường PTCS Vĩnh Ninh trong thời kì mới”. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng tài liệu này không thể tránh khỏi những hạn chế. Chúng tôi mong muốn sẽ nhận được những ý kiến góp ý thấu đáo để những hạn chế trong tài liệu này sẽ được khắc phục nhằm xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên trong nhà trường một cách hiệu quả hơn, thiết thực hơn, phục vụ trực tiếp cho công tác phát triển giáo dục trong thời kì mới. Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, xin chân thành cảm ơn: Các thầy giáo, cô giáo đã tham gia quản lý và trực tiếp giảng dạy lớp Trung cấp lí luận chính trị - hành chính khóa X - huyện Lục Nam (2010 - 2012). Chi bộ, Ban Giám hiệu Trường PTCS Vĩnh Ninh đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn thành tiểu luận này. Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo - Thạc sĩ Nguyễn Xuân Cường, giảng viên Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang, người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành tiểu luận. Tôi xin trân trọng cảm ơn! Lục Nam, tháng 05 năm 2012 4 Ng­êi thùc hiÖn: NguyÔn §øc Thanh - Tr­êng PTCS VÜnh Ninh TiÓu luËn tèt nghiÖp líp TC LLCT - HC khãa X huyÖn Lôc Nam A. PHẦN MỞ ĐẦU I/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI. I.1.Lí do khách quan. Trong bất cứ giai đoạn phát triển nảo của lịch sử xã hội loài người, nhân tố con người luôn giữ vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng. Ngày nay, khi nhân loại đang bước vào kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của một nền “ Đại công nghiệp”, với khoa học - kĩ thuật tiên tiến, hiện đại, nhân tố con người càng được coi trọng hơn bao giờ hết. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Nhận định đó cho thấy, nhân tố con người có tính chất quyết định đến sự tồn vong và phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Đất nước ta đang trong thời kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đổi mới và hội nhập, nhân tố con người - nguồn nhân lực luôn luôn được coi là nhân tố trung tâm, trực tiếp để đẩy nhanh và vững chắc quá trình này. Trong chiến lược xây dựng và phát triển con người, chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, sự nghiệp giáo dục có vị trí đặc biệt quan trọng. Vì vậy, Đảng và Nhà nước đã đề ra các chủ trương, chính sách đổi mới giáo dục, thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đáp ứng công cuộc CNH, HĐH; công cuộc đổi mới và hội nhập của đất nước. Tại Hội nghị BCHTW5 khóa VI, Đảng ta xác định nhiệm vụ của Giáo dục trong thời kì đổi mới đó là: “Giáo dục nhằm mục tiêu hình thành và phát triển toàn diện nhân cách XHCN của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có kĩ thuật, đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với yêu cầu phân công lao động xã hội. Sự nghiệp giáo dục, nhất là giáo dục Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, trực tiếp góp phần đổi mới công tác quản lí kinh tế và xã hội”. Trong cương lĩnh xây dựng đất nước thời kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (1991), Đảng ta đã khẳng định: “Giáo dục và đào tạo gắn với sự nghiệp phát triển kinh tế, phát triển khoa học - kĩ thuật, xây dựng nền văn hóa mới, con người mới. Nhà nước có chính sách toàn diện giáo dục phổ cập phù hợp với yêu cầu và khả năng của nền kinh tế. Phát triển năng khiếu, bồi dưỡng nhân tài. Khoa học công nghệ và Giáo dục-đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu”. Mục tiêu trên đã được Đảng ta khẳng định xuyên suốt qua các kì Đại hội của Đảng, đặc biệt Nghị quyết TW2 khóa VIII, Đảng ta khẳng định: “ Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển giáo dục và đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”. Đại hội Đảng IX khẳng định: “Phát triển giáo dục - đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”. Những chủ trương và giải pháp phát triển giáo dục và đào tạo đến 2010 nêu rõ: Cần nhận thức sâu sắc hơn, cụ thể hơn về mục tiêu giáo dục trong thời kì mới nhằm 5 Ng­êi thùc hiÖn: NguyÔn §øc Thanh - Tr­êng PTCS VÜnh Ninh TiÓu luËn tèt nghiÖp líp TC LLCT - HC khãa X huyÖn Lôc Nam phát triển con người Việt Nam với đầy đủ bản lĩnh và phẩm chất tốt đẹp của dân tộc. Thế hệ trẻ do nhà trường đào tạo phải trung thực, năng động, sáng tạo; biết hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, biết khai thác các yếu tố tích cực của thị trường để tự phát triển và góp phần phát triển KT-XH, đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu. Chỉ thị số 40/CT-TW ngày 15.06.2004 của Ban Bí thư Trung ương về việc: “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục” đã chỉ rõ: “Tăng cường xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện. Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài, nhằm thực hiện thành công Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 và chấn hưng đất nước. Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước”. Đại hội Đảng X ( 2006) chỉ rõ: “ Để thực hiện thắng lợi công cuộc đẩy mạnh CNH,HĐH gắn với kinh tế tri thức phải phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tức là chuyển hướng chiến lược phát triển nguồn nhân lực theo chiều rộng sang chiều sâu, coi trọng và gia tăng nhanh chất lượng các nguồn nhân lực”. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định: "Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy CNH, HĐH đất nước". Đại hội XI xác định: Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao được xem là một khâu đột phá- khâu đột phá thứ 2. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đưa ra định hướng phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ quá độ: “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời”. Với quan điểm phát triển nhanh và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế - xã hội, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 đã đề ra mục tiêu về giáo dục và đào tạo là “Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đến năm 2020, có một số lĩnh vực khoa học và công nghệ, giáo dục, y tế đạt trình độ tiên tiến, hiện đại...”. Để đạt được mục tiêu trên, trong khâu đột phá 6 Ng­êi thùc hiÖn: NguyÔn §øc Thanh - Tr­êng PTCS VÜnh Ninh TiÓu luËn tèt nghiÖp líp TC LLCT - HC khãa X huyÖn Lôc Nam thứ hai, Chiến lược xác định: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ”. Chiến lược cũng đưa ra định hướng phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2011 - 2020: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, kỹ năng lập nghiệp. Đổi mới cơ chế tài chính trong giáo dục. Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội”; “Nhà nước tăng đầu tư, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy động toàn xã hội chăm lo phát triển giáo dục. Phát triển nhanh và nâng cao chất lượng giáo dục ở vùng khó khăn, vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số”. Trong giai đoạn 2011 - 2015, Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng đã xác định phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo là: “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo”. Để thực hiện mục tiêu đó, Báo cáo cũng xác định các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, trong đó nhấn mạnh một số nhiệm vụ như: phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hoá đầu đàn; đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề; đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, đào tạo trên tinh thần tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục, đào tạo Muốn thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trước hết phải chú trọng đến phát triển nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực trước hết phụ thuộc vào chất lượng giáo mà trước hết là chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lí và giáo viên. Khi nói về vị trí, vai trò của cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay kém”. Xác định rõ vị trí, vai trò của cán bộ và công tác cán bộ trong thời kì mới, Đảng đã đề ra chiến lược cán bộ nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước. Khi nói về mục tiêu giáo dục, Bác Hồ đã chỉ rõ “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và cần thiết”. Người nhắc nhở: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”. Như vậy nguồn nhân lực là vốn quý giá nhất, có vai trò quyết định sự thành công của nền CNH, HĐH đất nước. Để có nguồn nhân lực có hiệu quả thì vai trò của người thấy giáo trong công tác đào tạo bồi dưỡng thế hệ trẻ là hết sức quan trọng. Trong những năm gần đây sự nghiệp giáo dục - đào tạo ở nước ta được toàn 7 Ng­êi thùc hiÖn: NguyÔn §øc Thanh - Tr­êng PTCS VÜnh Ninh TiÓu luËn tèt nghiÖp líp TC LLCT - HC khãa X huyÖn Lôc Nam xã hội quan tâm. Khi nói đến vai trò người Thầy, Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Thầy giáo là một nhân vật trọng tâm trong nhà trường, là người quyết định đào tạo nên những con người mới XHCN. Vậy người thầy giáo phải không ngừng vươn lên, rèn luyện tu dưỡng về mọi mặt để thực sự xứng đáng là người thầy giáo XHCN”. Đồng thời Thủ tướng nhấn mạnh: “Vấn đề lớn nhất trong giáo dục của nước ta hiện nay là tạo điều kiện thuận lợi nhất để đội ngũ giáo viên dần dần trở thành một đội quân đủ năng lực, đủ tư cách để làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình”. Từ Nghị quyết BCHTW3 khóa VIII, công tác cán bộ của Đảng đã có nhiều chuyển biến, đã đi vào cả chiều rộng lẫn chiều sâu; tuân thủ chặt chẽ quy chế, quy trình, từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng có phẩm chất chính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; có năng lực công tác, có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, “ Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, bước đầu đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới. Mặc dù vậy, hiện nay do sự tác động mạnh mẽ của tình hình chính trị - kinh tế thế giới và khu vực; sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trong và ngoài nước; đặc biệt là những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, đã làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên dao động về tư tưởng, sa sút về phẩm chất, đạo đức, lối sống dẫn tới các hệ lụy như: tham nhũng, quan liêu, hách dịch, cửa quyền.v.v.làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp đổi mới của đất nước. Trong lịch sử nước ta, “tôn sư trọng đạo” là truyền thống quý báu của dân tộc, nhà giáo bao giờ cũng được nhân dân yêu mến, kính trọng. Những năm qua, chúng ta đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục ngày càng đông đảo, phần lớn có phẩm chất đạo đức và ý thức chính trị tốt, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng được nâng cao. Đội ngũ này đã đáp ứng quan trọng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của đất nước. Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của sự phát triển giáo dục trong thời kỳ mới, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có những hạn chế, bất cập. Số lượng giáo viên còn thiếu nhiều, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số... Cơ cấu giáo viên đang mất cân đối giữa các môn học, bậc học, các vùng, miền. Chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo có mặt chưa đáp ứng yêu cầu và truyền đạt lý thuyết, ít chú ý đến phát triển tư duy năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành của người học; một bộ phận nhà giáo thiếu gương mẫu trong đạo dức, lối sống, nhân cách, chưa làm gương tốt cho học sinh, sinh viên. Năng lực của sự nghiệp giáo dục. Chế độ, chính sách còn bất hợp lý, chưa tạo được động lực đủ mạnh để phát huy tiềm năng của đội ngũ này. Tình hình trên đòi hỏi phải tăng cường xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện. Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài, nhằm thực hiện thành công Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020. 8 Ng­êi thùc hiÖn: NguyÔn §øc Thanh - Tr­êng PTCS VÜnh Ninh TiÓu luËn tèt nghiÖp líp TC LLCT - HC khãa X huyÖn Lôc Nam Trong những năm qua, thực tiễn liên quan tới sứ mệnh lịch sử của Đảng và chế độ XHCN đã đặt ra cho Đảng ta phải xác định: công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt mà cán bộ và công tác cán bộ là nhân tố quyết định, là khâu then chốt của nhiệm vụ then chốt. Vì vậy các cấp ủy Đảng, chính quyền cần nhận thức đầy đủ và thực hiện công tác cán bộ một cách nghiêm túc, hiệu quả nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ có năng lực và bản lĩnh chính trị vững vàng để lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu trong thời kì mới. I.2.Lí do chủ quan. Là cán bộ quản lí nhà trường, được tham gia học tập, nghiên cứu LLCT - HC, bản thân tôi luôn tâm huyết với công tác xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ, đặc biệt là công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên nhà trường. Với kiến thức có được, tôi muốn vận dụng vào thực tiễn của Trường PTCS Vĩnh Ninh để góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên nhà trường ngày càng tiến bộ, có đủ phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn - nghiệp vụ, năng lực sư phạm vững vàng, có lòng nhân ái, tình yêu thương và luôn tâm huyết với sự nghiệp “ trồng người”, là tấm gương sáng cho học sinh noi theo, đáp ứng tốt những yêu cầu của sự nghiệp GD-ĐT trong thời kì mới. Chính vì thế tôi chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên Trường PTCS Vĩnh Ninh trong thời kì mới” làm tiểu luận tốt nghiệp. II/MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI. Thông qua khảo sát, đánh giá thực trạng cán bộ, giáo viên nhà trường, từ đó đề xuất các giải pháp quản lí nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và tạo ra bước phát triển mới cho nhà trường. III/ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI. 1.Đối tượng nghiên cứu: Những biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên Trường PTCS Vĩnh Ninh . 2.Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu và đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên Trường PTCS Vĩnh Ninh giai đoạn từ 2006 đến 2012. 3.Nhiệm vụ nghiên cứu: 3.1. Nghiên cứu những nguyên lí của chủ nghĩa Mác-Lê nin, quan điểm của Đảng ; cơ sở lí luận về quản lí, quản lí giáo dục, quản lí nhà trường về giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên Trường PTCS Vĩnh Ninh - xã Lục Sơn - Huyện Lục Nam - Tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2012 - 2020. 3.2.Khảo sát, đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên Trường PTCS Vĩnh Ninh. 3.3.Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên Trường PTCS Vĩnh Ninh trong thời kì mới. 9 Ng­êi thùc hiÖn: NguyÔn §øc Thanh - Tr­êng PTCS VÜnh Ninh TiÓu luËn tèt nghiÖp líp TC LLCT - HC khãa X huyÖn Lôc Nam IV.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu Luật Giáo dục, các Văn kiện của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, nghiên cứu sách, báo, tài liệu có liên quan đến các vấn đề cần nghiên cứu. 2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra, tổng kết kinh nghiệm, lấy ý kiến chuyên gia, phỏng vấn, trao đổi.v.v...để khảo sát, đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên Trường PTCS Vĩnh Ninh. 3.Nhóm phương pháp nghiên cứu hỗ trợ: Phân tích thống kê, tổng hợp, toán học, bảng biểu. V.KẾT CẤU TIỂU LUẬN: Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị - đề xuất, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục. Tiểu luận được cấu trúc thành 3 phần: * Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên trong sự nghiệp phát triển giáo dục thời kì mới. * Chương II: Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên và công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên Trường PTCS Vĩnh Ninh trong giai đoạn hiện nay. * Chương III: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên Trường PTCS Vĩnh Ninh trong thời kì mới. 10 Ng­êi thùc hiÖn: NguyÔn §øc Thanh - Tr­êng PTCS VÜnh Ninh TiÓu luËn tèt nghiÖp líp TC LLCT - HC khãa X huyÖn Lôc Nam B. PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, GIÁO VIÊN TRONG SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC THỜI KÌ MỚI. I/. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC. Mác - Lê nin đã chỉ rõ: Ý thức là một phạm trù triết học, một hiện tượng tâm lí phức tạp, bao gồm tri thức, tình cảm, nghị lực, lòng tin...Trong đó quan trọng nhất là tri thức, “Tri thức là phương thức tồn tại của ý thức”, đó là toàn bộ hiểu biết của con người về thế giới, càng hiểu biết nhiều thì ý thức của con người về thế giới càng cao mà muốn có hiểu biết thì con người nhất thiết phải học tập và rèn luyện để trở thành những con người phát triển toàn diện, như ông cha ta đã dạy: “Ngọc bất trác bất thành khí, Nhân bất học bất tri lí” . Hơn nữa, thế giới rộng lớn, tri thức nhân loại là vô tận. Vì vậy, Lê nin đã dạy con người phải : “ Học, học nữa, học mãi”. Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, công tác giáo dục nói chung, vai trò của người thầy giáo nói riêng luôn được coi trọng “Không thầy đố mày làm nên”. Nhà bác học Lê Quý Đôn đã tổng kết: “Phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt, phi trí bất hưng”, khẳng định trình độ dân trí là điều kiện cho một quốc gia phát triển và hưng thịnh.Trong “Chiến lập học”, Quang Trung và Ngô Thì Nhậm khẳng định: “Muốn xây dựng đất nước, trước hết phải phát triển giáo dục. Muốn trị nước phải trọng dụng người tài”. Quan điểm đó đồng nghĩa với việc khẳng định vai trò của giáo dục trong việc nâng cao dân trí, tức là “ Nâng cao trình độ trí tuệ, trình độ văn hóa chung, trình độ xử lí khôn khéo các vấn đề của một tập hợp dân cư, một cộng đồng, một dân tộc”. Ngày nay, để thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, vấn đề nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài càng được quan tâm hơn bao giờ hết. Ủy ban Quốc tế về giáo dục của UNESCO khẳng định: Người dân có tri thức, có hiểu biết để phát triển toàn diện bản thân với toàn bộ sự phong phú của nhân cách, có khả năng thể hiện mình, chống lại sự tha hóa con người, khẳng định sự phát triển bền vững của con người. Chính vì lẽ đó mà Đảng và Bác Hồ rất quan tâm đến công tác giáo dục, nâng cao trình độ dân trí cho nhân dân. Ngay từ khi mới giành được chính 11 Ng­êi thùc hiÖn: NguyÔn §øc Thanh - Tr­êng PTCS VÜnh Ninh TiÓu luËn tèt nghiÖp líp TC LLCT - HC khãa X huyÖn Lôc Nam quyền,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: Một trong những công việc cấp tốc trong lúc này là phải nâng cao dân trí. Chính phủ đã đề ra biện pháp cấp bách: Trong một năm tất cả mọi người Việt Nam đều phải biết chữ Quốc ngữ, lập ra Nha bình dân học vụ để trông nom việc học của dân. (Hồ Chí Minh vì độc lập tự do, vì Chủ nghĩa xã hội- Nhà xuất bản Sự thật, năm 1976) Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà giáo dục lớn, Người luôn coi trọng công tác giáo dục và bản thân đã nêu một tấm gương sáng về việc học tập. Người nói: “Hiền dữ đâu phải là tính sẵn, Phần nhiều do giáo dục mà nên”. Do vậy mong muốn lớn nhất của Người là: “Làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Người đã dạy: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Nền giáo dục của nước Việt Nam là nền giáo dục phục vụ nâng cao dân trí, vấn đề dân trí trở thành quốc sách, xây dựng một nền giáo dục trở thành bộ phận gắn bó với sự nghiệp cách mạng”.Người cũng khẳng định: “Muốn xây dựng Chủ nghĩa xã hội trước hết phải có con người Xã hội chủ nghĩa”. Nền giáo dục nước ta là một bộ phận quan trọng của hệ thống chính trị, cho nên đó phải là một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, lấy Chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng. Như vậy, quan điểm coi sự nghiệp giáo dục là của toàn dân, do dân và vì dân đã được Đảng và Bác Hồ quán triệt ngay từ những ngày đầu tiên khai sinh nước Việt Nam dân chủ công hòa. Từ đó đến nay, quan điểm đó vẫn là mục tiêu, là nền tảng để phát triển đất nước, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đổi mới và hội nhập, Đảng ta đặc biệt coi trọng giáo dục và đào tạo, coi “ Giáo dục - đài tạo là quốc sách hàng đầu”, trong đó việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, phát huy nhân tố con người, phát triển nguồn nhân lực là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết. Mọi đường lối, Chủ trương, Chính sách của Đảng đều thể hiện tập trung chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người và phát huy nguồn nhân lực đã trở thành mục tiêu lớn và vô cùng quan trọng trong sự nghiệp phát triển của đất nước. Nhân loại đang bước sang kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của nền kinh tế tri thức, nếu chúng ta không có sự chuẩn bị chu đáo cho thế hệ trẻ ý chí, niềm tin, kĩ năng cần thiết, chúng ta sẽ rơi vào nguy cơ tụt hậu. Chính vì thế, lới dạy và mong muốn của Bác Hồ: “ Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn vào công học tập của các em” (Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi học sinh, sinh viên nhân ngày 12 Ng­êi thùc hiÖn: NguyÔn §øc Thanh - Tr­êng PTCS VÜnh Ninh TiÓu luËn tèt nghiÖp líp TC LLCT - HC khãa X huyÖn Lôc Nam khai trường năm 1945), đã trở thành lời nhắc nhở đến các cấp, các ngành, đến toàn Đảng, toàn dân phải luôn quan tâm đến giáo dục, đên thế hệ trẻ, những người chủ tương lai của đất nước. II.VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, GIÁO VIÊN TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HIỆN NAY. II.1. Về "Cán bộ": Trong "Đại từ điển tiếng Việt" của Nguyễn Như Ý chủ biên, xuất bản năm 1999, "Cán bộ" được định nghĩa là: 1. Người làm việc trong cơ quan nhà nước ; 2. Người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ trong các cơ quan, tổ chức nhà nước". Trong Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng của Viện ngôn ngữ học đưa ra khái niệm "Cán bộ" như sau: 1. Người làm công tác có nghiệp vụ, chuyên môn trong cơ quan Nhà nước; 2. Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường không có chức vụ . Hai định nghĩa này so với định nghĩa trong một số từ điển khác có sự phát triển và hợp lí hơn. Dù cách dùng, cách hiểu trong các trường hợp, các lĩnh vực có khác nhau, nhưng về cơ bản từ "cán bộ" bao hàm nghĩa chính của nó là nòng cốt, là chỉ huy . Tuy nhiên cũng cần làm rõ nội hàm của khái niệm "cán bộ" . - Thứ nhất, Cán bộ là người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn không chỉ trong cơ quan Nhà nước mà cả ở hệ thống chính trị. Với đặc trưng này, cán bộ khác với nhân viên thường được hình thành qua con đường đào tạo là nhà trường. - Thứ hai, Cán bộ là người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức của cả hệ thống chính trị. Với đặc trưng này thì cán bộ sẽ phân biệt với người không có chức vụ. Bộ phận Cán bộ này được hình thành thường thông qua con đường bầu cử dân chủ hoặc đề bạt bổ nhiệm. - Thứ ba, nói đến cán bộ là nói đến con người và người cán bộ phải được đặt trong các mối quan hệ xác định: + Cán bộ quan hệ với đường lối và nhiệm vụ chính trị trong từng thời kỳ nhất định. + Cán bộ quan hệ với tổ chức và cơ chế chính sách. + Cán bộ quan hệ với thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân; Như vậy, có thể quan niệm một cách chung nhất về cán bộ như sau: 1. Cán bộ là người làm công tác chuyên môn trong một cơ quan, một tổ chức của hệ thống chính trị. 2. Cán bộ là người làm công tác có chức vụ trong một tổ chức lãnh đạo, quản lí để tổ chức và phối hợp hành động của thành viên trong một nhóm, một tập đoàn người nhằm giải quyết tốt mối quan hệ công tác và đạt mục tiêu đã đề ra. 13 Ng­êi thùc hiÖn: NguyÔn §øc Thanh - Tr­êng PTCS VÜnh Ninh TiÓu luËn tèt nghiÖp líp TC LLCT - HC khãa X huyÖn Lôc Nam II.2. Về “Giáo viên”: Điều lệ trường phổ thông ghi rõ: “Giáo viên là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, gồm: Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên bộ môn, giáo viên làm công tác Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (bí thư, phó bí thư hoặc trợ lý thanh niên, cố vấn Đoàn), giáo viên làm tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (đối với trường trung học có cấp tiểu học hoặc cấp THCS), giáo viên làm công tác tư vấn cho học sinh”. Giáo viên (nói chung) có nhiệm vụ : Dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục, kế hoạch dạy học của nhà trường theo chế độ làm việc của giáo viên do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định; quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giáo dục; tham gia nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng; tham gia công tác phổ cập giáo dục ở địa phương; rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục; vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học của học sinh; thực hiện Điều lệ nhà trường; thực hiện quyết định của Hiệu trưởng, chịu sự kiểm tra, đánh giá của Hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục; giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trước học sinh; thương yêu, tôn trọng học sinh, đối xử công bằng với học sinh, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp; tạo dựng môi trường học tập và làm việc dân chủ, thân thiện, hợp tác, an toàn và lành mạnh; phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác, gia đình học sinh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trong dạy học và giáo dục học sinh; thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở mục tiêu của giáo dục-đào tạo, gười thầy giáo có nhiệm vụ giáo dục, rèn luyện và hoàn thiện nhân cách cho học sinh, cụ thể: Có hiểu biết về thế giới quan Mác - Lê nin và nhân sinh quan công sản chủ nghĩa. Có hiểu biết về quá trình phát triển của lịch sử xã hội, của cách mạng Việt Nam, đất nước, con người Việt Nam. Bước đầu biết đánh giá các hiện tượng tự nhiên và xã hội theo quan điểm duy vật, biết phê phán quan điểm duy tâm, siêu hình, mê tín dị đoan.Có lí tưởng xã hội chủ nghĩa và tinh thần quốc tế vô sản, yêu quê hương, đát nước; hiểu biết các giá trị: Độc lập dân tộc, lao động, công bằng, dân chủ và hòa bình, hữu nghị. Từ nững nhận thức đó, xây dựng cho học sinh tình yêu quê hương, đất nước; có ý thức giữ gìn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc; sẵn sàng làm nghĩa vụ công dân, có ý thức làm chủ, tích cực hoạt động xã hội, phản đối thái độ bàng quan, lơ là, tác phong tùy tiện, vô kỉ luật...Xây dựng ý thức bảo vệ pháp luật; chấp hành tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Pháp luật của nhà nước, chống lại các hành vi vi phạm pháp luật.Tham gia ủng hộ phong trào cách mạng và phong trào bảo vệ hòa bình thế giới. 14 Ng­êi thùc hiÖn: NguyÔn §øc Thanh - Tr­êng PTCS VÜnh Ninh TiÓu luËn tèt nghiÖp líp TC LLCT - HC khãa X huyÖn Lôc Nam Có đạo đức xã hội chủ nghĩa, có kỉ cương, tự giác và cư xử có văn hóa; có quan niệm đúng đắn về sự thống nhất giữa hạnh phúc, nghĩa vụ và lương tâm; giữa cống hiến và hưởng thụ; có quan niệm đúng đắn về tình bạn, tình yêu, tình đồng chí; có động cơ đúng đắn trong học tập, lao động, rèn luyện...có ý thức trách nhiệm với gia đình, xây dựn gia đình văn hóa mới; hướng tới các giá trị đạo đức cao đẹp, tôn trọng danh dự và thành quả lao động của con người, coi trọng công bằng xã hội, có ý thức phê bình và lắng nghe phê bình, tự sửa chữa, kiên quyết chống lại các tệ nạn xã hội, chống lại thói ích kỉ và lối sống buông thả, lười biếng, kiên quyết bảo vệ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Có văn hóa khoa học kĩ thuật. Bao gồm hệ thống kiến thức cơ bản, kĩ thuật tổng hợp, thiết thực, hiện đại. Nắm được các kiến thức cơ bản và phương pháp khoa học của từng môn học, phương pháp nhận thức khoa học, có kiến thức về thực hành, kinh nghiệm hoạt động, tìm tòi, sáng tạo; bước đầu hiểu được một số nội dung của công cuộc xây dựn CNXH, mục tiêu trước mắt và lâu dài về kinh tế - xã hội của đất nước và địa phương; có kiến thức phổ thông về kinh tế, kĩ thuật. Có kĩ thuật lao động tổng hợp để hướng nghiệp, chuẩn bị nghề cho tương lai. Hiểu rõ vai trò của nền sản xuất trong quá trình phát triển xã hội, giá trị lao động nghề nghiệp trong sinh hoạt xã hội và đời sống cá nhân. Xây dựng đức tính lao động cần cù, tích cực, tự giác, chính xác, linh hoạt, sáng tạo, tương trợ hợp tác trong lao động theo phong cách lao động công nghiệp, biết khắc phục khó khăn, phát huy sáng kiến, cải tiến kĩ thuật và hợp lí hóa lao động, nâng cao năng xuất, chất lượng, hiệu quả lao động, có ý thức tiết kiệm và ý thức trách nhiệm trong lao động. Có ý thức rèn luyện thể chất, thể lực, luyện tập quân sự. Nắm các phương pháp luyện tập nhằm hình thành kĩ năng, kĩ xảo, vận động và phát triển các tố chất thể lực; hiểu biết một số kiến thức quân sự phổ thông, thể thao, quốc phòng; chấp hành tốt quy định, luật lệ trong luyện tập, thi đấu thể thao; có tinh thần tương trợ, ý thức tổ chức kỉ luật, trung thực, linh hoạt, trách nhiệm, bền bỉ, dũng cảm. Có ý thức thẩm mĩ. Hiểu biết phổ thông về văn hóa, thẩm mĩ trong sinh hoạt xã hội cũng như trong đời sống cá nhân; có quan điểm thẩm mĩ lành mạnh, trong sáng; hiểu tính Đảng, tính dân tộc trong nghệ thuật; biết giữ gìn, nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Như vậy, đội ngũ cán bộ, giáo viên là lực lượng chính yếu quyết định chất lượng dạy học trong nhà trường, là những người trực tiếp thực thi các ý đồ, dự định, kế hoạch và mục tiêu chiến lược đã đề ra. Chất lượng của cán bộ, giáo viên bao gồm cả những nhân tố tiềm ẩn, sẵn có ( năng khiếu sư phạm, tình yêu nghề nghiệp, hiểu biết nhanh nhậy, trình độ đã được đào tạo...) và cả những nhân tố luôn được bổ sung để tích hợp lại thành nội lực của người thầy. 15 Ng­êi thùc hiÖn: NguyÔn §øc Thanh - Tr­êng PTCS VÜnh Ninh TiÓu luËn tèt nghiÖp líp TC LLCT - HC khãa X huyÖn Lôc Nam Nhà giáo là một chủ thể có vai trò quan trọng hàng đầu trong quan hệ giữa người dạy và người học - mối quan hệ trọng tâm của giáo dục. Mục tiêu của nền giáo dục nước ta là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện: có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân. Nhà giáo là người trực tiếp tác động đến quá trình phát triển về đạo đức, tri thức và nhân cách của người học. Từ ngàn đời nay, nhà giáo luôn được coi trọng. “Tôn sư trọng đạo” là một truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta và không ngừng được vun đắp, phát triển. Xuất phát từ truyền thống của dân tộc, nhà giáo có một vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong xã hội. Và cũng vì lẽ đó, nhà giáo có một trọng trách hết sức to lớn trong sự nghiệp “trồng người”. Theo Hồ Chí Minh: Nhiệm vụ giáo dục là rất quan trọng và vẻ vang vì nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục. Nếu không có thầy giáo dạy dỗ con em nhân dân, thì làm sao xây dựng Chủ nghĩa xã hội được. Vì vậy nghề Thầy giáo là nghề luôn được cả xã hội tôn vinh, nhưng vấn đề đặt ra là cần phải xây dựng đội ngũ thầy giáo tốt, xứng đáng với sự quan tâm của toàn xã hội. Để nâng cao chất lượng giáo dục, đòi hỏi có nhiều nhân tố như: gia đình, nhà trường, xã hội, cơ sở vật chất, trang thiết bị, sách giáo khoa...Nhưng một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đó là vai trò của người cán bộ quản lý, người thầy trong việc truyền thụ kiến thức để nâng cao chất lượng giáo dục học sinh. Người cán bộ quản lý giáo dục hay người thầy giáo đứng lớp trước hết phải tận tuỵ với nghề, có tâm với người. Trong mối tương quan giữa chất lượng và các điều kiện bảo đảm thì vai trò của người cán bộ quản lí và người giáo viên là quan trọng nhất, quyết định nhất. Nói một cách dễ hiểu là có chương trình, sách giáo khoa, sách giáo viên tốt, thiết bị đầy đủ, thời lượng học tập hợp lý, nhưng người cán bộ quản lí và giáo viên năng lực quản lí, năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức còn hạn chế thì không thể quản lí tốt, dạy tốt và sẽ không có chất lượng tốt. Do đó, giải pháp hàng đầu có tính chất đột phá là xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên có chất lượng. Cần nâng cao chất lượng toàn diện của đội ngũ cán bộ, giáo viên, khắc phục những bất hợp lý về số lượng và cơ cấu đội ngũ, tạo động lực để thu hút họ tự phấn đấu vươn lên, nâng cao trình độ chuyên môn, toàn tâm, toàn ý phục vụ sự nghiệp giáo dục. Mỗi cán bộ, giáo viên cũng cần thấy được trách nhiệm vô cùng to lớn - “Trách nhiệm trồng người” của mình mà xã hội đã giao phó. Mỗi cán bộ, giáo viên phải thật sự tâm huyết với nghề, cần đặt chữ “Tâm” lên hàng đầu, phải có trách nhiệm, nhiệt thành với công việc, sống và làm việc nghiêm túc, phải thật sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo, xem trường là nhà, không ngừng học tập để nâng cao trình độ. Nếu tụt hậu, không theo kịp với sự phát triển, đổi mới của giáo dục, chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn. Thiết nghĩ rằng mỗi một cán bộ, giáo viên phải tự đánh giá năng lực, cách sống, cách làm việc của chính mình để từ đó có cách khắc phục hạn chế. Đó chính là con đường tối ưu nhất để nâng cao uy tín, danh dự 16 Ng­êi thùc hiÖn: NguyÔn §øc Thanh - Tr­êng PTCS VÜnh Ninh TiÓu luËn tèt nghiÖp líp TC LLCT - HC khãa X huyÖn Lôc Nam của bản thân, đồng thời đã trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường. Giáo dục là công cụ đào tạo hiền tài cho đất nước và giữ gìn, phát triển nhân tâm, thế đạo. Bởi “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Giáo dục là một hoạt động khó khăn, gian khổ mà cả người dạy lẫn người học phải tiến hành một cách nghiêm túc, thường xuyên và khiêm tốn. Suy cho cùng, mục đích của giáo dục là phải đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước và niềm mong mỏi của nhân dân ta. Do đó, hơn ai hết mỗi thầy cô giáo phải tự nỗ lực không ngừng, phấn đấu rèn luyện, trau dồi năng lực chuyên môn, cách sống, cách làm việc để tự hoàn thiện mình. Có như vậy, người thầy giáo Việt Nam mới đáp ứng được những nhiệm vụ mới đang đặt ra trong sự nghiệp giáo dục nước nhà. III. NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, GIÁO VIÊN - MỘT YÊU CẦU CẤP BÁCH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY. III.1. Chất lượng: Là một phạm trù Triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật. Chỉ rõ nó là cái gì. Nó biểu thị tính ổn định tương đối của sự vật để phân biệt nó với các sự vật khác. Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật. Chất lượng biểu thị ra bên ngoài các thuộc tính. Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại là một, gắn bó với sự vật nư một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật trong khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất chất lượng của nó. Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi căn bản của sự vật. Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính quy định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính quy định ấy. Mỗi sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất của số lượng và chất lượng. Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, sự việc. Đó là tổng thể các thuộc tính cơ bản khẳng định sự tồn tại của một sự vật và phân biệt nó với sự vật khác. Chất lượng giáo dục là trình độ và khả năng thực hiện mục tiêu giáo dục, đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của người học và sự phát triển ngày càng cao của xã hội. Chất lượng dạy học liên quan mật thiết với hiệu quả dạy học. Nói tới hiệu quả dạy học tức là nói tới các mục tiêu đã đạt được ở mức độ nào, sự đáp ứng kịp thời yêu cầu của nhà trường và chi phí tiền của, sức lực, thời gian ít nhất nhưng đem lại hiệu quả cao nhất. III.2.Chất lượng dạy học. Là một phạm trù động, thay đổi theo thời gian và theo bối cảnh. Chất lượng được nhìn dưới góc độ của sự nổi tiếng, dưới góc độ nguồn lực, dưới góc độ nội dung, từ góc độ điều tra. Chất lượng dạy hoc được nhìn từ góc độ là giá trị tổng thể, cách nhìn này muốn nói đến tác động ảnh hưởng của nhà trường hay hệ thống giáo dục đối với người học. Nghĩa là, chất lượng giáo dục, chất lượng dạy học ngày càng cao thì càng làm phong phú kiến thức, thái độ, giá trị và hành vi của người học. Chất lượng giáo dục - đào tạo của nước ta đã có nhiều chuyển biến tích cực, 17 Ng­êi thùc hiÖn: NguyÔn §øc Thanh - Tr­êng PTCS VÜnh Ninh TiÓu luËn tèt nghiÖp líp TC LLCT - HC khãa X huyÖn Lôc Nam nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và nâng cao dân trí trong giai đoạn hiện nay. Chất lượng giáo dục còn thấp, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác giáo dục còn nghèo nàn, trang thiết bị thiếu và lạc hậu, nội dung, phương pháp chậm đổi mới, một bộ phận không nhỏ cán bộ, giáo viên có kinh nghiệm, trình độ sư phạm nhiều năm không được chăm lo, bồi dưỡng đúng mức. Đội ngũ giáo viên mới ra trường thuộc nhiều loại hình đào tạo: Chính quy, chuyên tu, tại chức...còn nhiều bất cập. Chất lượng chuyên môn- nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo có mặt chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và phát triển kinh tế - xã hội. Vấn đề nổi cộm là chất lượng giáo dục toàn diện.Việc kết hợp giữa giáo dục trong nhà trường với gia đình và xã hội, lao động sản xuất và đời sống, học đi đôi với hành còn hạn chế. Nội dung giảng dạy nặng về lí thuyết, phương pháp giảng dạy có sự đổi mới nhưng hiệu quả chưa cao, sự chênh lệch về chất lượng giáo dục giữa các vùng miền khá rõ rệt. Nguyên nhân của những tồn tại nêu trên theo đánh giá của Hội nghị TW2 khóa VIII đó là: Công tác quản lí giáo dục có những yếu kém, bất cập; nhiều chủ trương mới chưa được nghiên cứu và chuẩn bị kĩ nên khi tổ chức áp dụng còn nhiều thiếu sót; cơ chế quản lí giáo dục - đào tạo còn ôn đồm, sự vụ, buông lỏng chức năng quản lí nhà nước. Nội dung đào tạo vừa thiếu, vừa thừa, nhiều phần chưa gắn với cuộc sống. Giáo dục - đào tạo chưa gắn bó chặt chẽ với lao động sản xuất, nhà trường chưa gắn với gia đình và xã hội. Chính phủ và các cơ quan nhà nước chưa có những quyết sách đủ mạnh về cơ chế chính sách và biện pháp tổ chức thực hiện để thể hiện đầy đủ quan điểm coi giáo dục và đào tạo là “Quốc sách hàng đầu”. III.3. Vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên trong nhà trường. Nhà trường là “ Một thiết chế chuyên biệt” của xã hội trong hệ thống giáo dục của Quốc gia, ở đó, hoạt động chủ yếu là hoạt động dạy và hoạt động học. Lao động của người Thầy là dạng lao động có tính đặc thù, họ vừa là nhà sư phạm, vừa là nhà tổ chức, vừa phải tham gia hoạt động chính trị - xã hội. Phương tiện lao động của họ cũng là loại công cụ đặc thù: Phẩm chất, nhân cách và trí tuệ của chính họ. Người đánh giá năng lực lao động và độ tin cậy của họ trước hết là học sinh. Trong quá trình lao động đó, người thầy giáo phải sử dụng nững tri thức, phẩm cách mẫu mực của mình, tác động lên tình cảm, trí tuệ, năng lực tư duy của học sinh, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, hoàn thiện nhân cách người học. Trong trường học, cán bộ quản lí và giáo viên là vấn đề mấu chốt và là trung tâm của sự nghiệp giáo dục nói chung, của các trường phổ thông nói riêng. Việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới và phát triển của sự nghiệp giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt, luôn luôn là một yêu cầu, một nhiệm vụ cấp bách, một giải pháp có tính chiến lược, nhất là trong thời kì mới. Điều 19, Luật giáo dục ghi rõ: “ Công tác xây dựng, quản lí, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giáo viên có vai trò quyết định sự thành công trong việc nâng cao chất lượng 18 Ng­êi thùc hiÖn: NguyÔn §øc Thanh - Tr­êng PTCS VÜnh Ninh TiÓu luËn tèt nghiÖp líp TC LLCT - HC khãa X huyÖn Lôc Nam giáo dục và đào tạo, là nhân tố quyết định sự đổi mới giáo dục, nhân tố cơ bản tạo nên sự phát triển của một nhà trường”. Như thế, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giáo viên là sự cần thiết, khách quan để nâng cao chất lượng công tác giáo dục - đào tạo. Nhà trường XHCN có nhiệm vụ thực hiện mục tiêu giáo dục, đó là: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và CNXH; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.Muốn đạt được mục tiêu quan trọng đó thì trước hết đội ngũ cán bộ, giáo viên trong nhà trường phổ thông phải không ngừng nâng cao chất lượng, nâng cao trình độ, cụ thể là củng cố và mở rộng hiểu biết về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiến thức chuyên môn - nghiệp vụ, về khoa học giáo dục, lí luận dạy học, về tâm lí học.v.v...nhằm nâng cao chất lượng quản lí, chất lượng giờ lên lớp và các hoạt động giáo dục khác. Việc bồi dưỡng như thế cũng góp phần quan trọng bồi dưỡng nhân cách người thầy giáo. Các cơ quan quản lí giáo dục cần làm cho giáo viên ý thức đầy đủ rằng: không bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực thì khó có thể , thậm chí không thể hoàn thành nhiệm vụ của người giáo viên trước những yêu cầu mới của sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Đối với cán bộ quản lí giáo dục, mỗi người cần phải xác định: tích cực bồi dưỡng để có đủ năng lực lãnh đạo, năng lực của một nhà sư phạm số 1 trong nhà trường, năng lực quản lí các hoạt động giáo dục, năng lực kết hợp lí luận với thực tiễn, năng lực nhận thức sâu sắc về Pháp luật, Chỉ thị, Nghị quyết...nhất là các vấn đề liên quan đến giáo dục...sẽ mang lại hiệu quả cao trong hoạt động của bản thân và nhà trường. 19 Ng­êi thùc hiÖn: NguyÔn §øc Thanh - Tr­êng PTCS VÜnh Ninh TiÓu luËn tèt nghiÖp líp TC LLCT - HC khãa X huyÖn Lôc Nam CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, GIÁO VIÊN VÀ CÔNG TÁC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, GIÁO VIÊN TRƯỜNG PTCS VĨNH NINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY. I/ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH ĐỊA PHƯƠNG VÀ NHÀ TRƯỜNG. I.1. Tình hình địa phương. I.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội. Lục Sơn là xã vùng cao, xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn của huyện Lục Nam, nằm cách trung tâm huyện khoảng 36 km; tổng diện tích tự nhiên là 9662 ha, có 1653 hộ với 6929 nhân khẩu ( thống kê năm 2010), với 8 dân tộc anh em cùng chung sống trên địa bàn như : Kinh, Dao, Sán Chay ( nhóm người Cao Lan), Tày, Hoa, Sán Dìu...và có 01 tôn giáo là Đạo phật. Đơn vị hành chính được chia thành 17 thôn bản; Đảng bộ có 179 đảng viên, sinh hoạt ở 20 Chi bộ, trong đó có 16 Chi bộ nông thôn, 04 Chi bộ nhà trường; nền kinh tế chủ yếu là nông - lâm nghiệp; công nghiệp và dịch vụ cũng đang có chiều hướng phát triển. Trong những năm qua tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội đã có những chuyển biến tích cực như : tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân hàng năm khoảng 7%, sản lượng lương thực bình quân tăng 14%, tỉ lệ hộ nghèo giảm xấp xỉ 20%, cơ cấu kinh tế có bước chuyển biến căn bản, văn hóa - xã hội phát triển khá mạnh mẽ, quốc phòng - an ninh được giữ vững, công tác xây dựng Đảng, Chính quyền và các đoàn thể được quan tâm đúng mức. Tất cả đã tạo nên diện mạo mới cho địa phương. I.1.2.Tình hình giáo dục. * Ưu điểm: Sự nghiệp phát triển giáo dục - đào tạo ngày càng được quan tâm, công tác xã hội hóa giáo dục từng bước có hiệu quả rõ rệt, đến nay toàn xã có 4 trường học ( 1 trường Mầm non, 1 trường Tiểu học, 1 trường PTCS và 1 trường THCS), với 52 lớp, 1013 học sinh; đội ngũ cán bộ, giáo viên là 125, trong đó đạt trình độ chuẩn theo cấp học là 78%, trên chuẩn là 32%, không có cán bộ, giáo viên dưới chuẩn. Công tác xây dựng trường chuẩn Quốc gia đang được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả ( hiện nay đã có 1 trường đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn I; kế hoạch đến 2013 xây dựng thêm 1 trường chuẩn Quốc gia, 2014 thêm 1 trường). Cơ sở vật chất các nhà trường từng bước được tăng cường, công tác kiên cố hóa trường lớp được chỉ đạo thực hiện có hiệu quả. Chất lượng giáo dục thực chất được nâng lên rõ rệt, hàng năm tỉ lệ học sinh lên lớp đạt trên 98%, tốt nghiệp THCS đạt từ 92% - 95%, học sinh thi đỗ vào các trường THPT đạt từ 65% - 80%. Công tác khuyến học được phát triển từ xã đến các thôn bản, hoạt động đã đi vào cả chiều rộng lẫn chiều sâu. 20 Ng­êi thùc hiÖn: NguyÔn §øc Thanh - Tr­êng PTCS VÜnh Ninh

File đính kèm:

  • docde_tai_thuc_trang_va_giai_phap_nang_cao_chat_luong_doi_ngu_c.doc
Giáo án liên quan