Biện pháp giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi C2 tại trường Mầm non Quang Châu

docx17 trang | Chia sẻ: Thảo Hoa | Ngày: 03/02/2026 | Lượt xem: 8 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Biện pháp giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi C2 tại trường Mầm non Quang Châu, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ỦY BAN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TRƯỜNG MẦM NON QUANG CHÂU TÊN SÁNG KIẾN “ Biện pháp giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 3- 4 tuổi C2 tại trường Mầm non Quang Châu”. Tác giả: Nguyễn Hồng Vân Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường mầm non Quang châu Lĩnh vực nghiên cứu: Phát triển tình cảm- Kỹ năng xã hội. 2. Bìa phụ(đánh máy, in khổ giấy trắng A4), nội dung giống như Bìa cứng.- Tháng 5 năm 2025 Tháng 5 năm 2025 2 1. Phần mở đầu 1.1. Lý do viết sáng kiến Trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của đất nước. Mọi trẻ em sinh ra đều có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, tồn tại và phát triển. Khi xã hội ngày càng phát triển thì giá trị con người ngày càng được nhận thức đúng đắn và được đánh giá toàn diện. Vì một tương lai tươi sáng, trẻ em sẽ trở thành chủ nhân hữu ích của tương lai, thì ngay từ tuổi ấu thơ trẻ phải được hưởng nền giáo dục phù hợp, hiện đại và toàn diện về mọi mặt: Đức, Trí, Thể, Mỹ. Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên nhưng lại mang nền tảng rất quan trọng đối với việc giáo dục sau này. Tuy nhiên ở lứa tuổi này nếu như không biết uốn nắn trẻ không đến nơi thì sẽ gây khó khăn cho các cấp học sau này. Người lớn chúng ta cần phải rèn luyện cho trẻ những thói quen tốt ngay từ nhỏ. Như ông bà nói “Dạy trẻ từ thủa còn thơ” Thật vậy, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế rất nhiều bậc phụ huynh có ít thời gian để quan tâm và hướng dẫn con cái chính vì vậy trẻ thường hay ỷ lại và không tự lo cho bản thân. Trẻ em ngày nay đã thông minh hơn, hoạt bát, lém lỉnh hơn nhiều so với trẻ ngày xưa. Tuy nhiên các con lại rất thiếu kĩ năng sống, thiếu khả năng tự lập thường hay dựa dẫm vào người lớn. Khi gặp khó khăn chúng tìm ngay đến người lớn mà không tìm cách giải quyết. Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển nhận thức, tình cảm của trẻ. Vì thế để đạt được mục tiêu của ngành của nhà trường thì giáo viên cần tìm cách hướng dẫn chỉ bảo cho trẻ kĩ năng giao tiếp, kĩ năng sống, kĩ năng tự phục vụ ngay từ bây giờ. Nếu trẻ biết tự phục vụ, trẻ sẽ thấy quí trọng bản thân nuôi dưỡng những giá trị sống và hình thành kĩ năng sống tích cực trong trẻ, giúp trẻ cân bằng cuộc sống trên bốn lĩnh vực nền tảng: Thể trạng, tâm hồn, trí tuệ, tinh thần từ đó xây dựng cho trẻ những kĩ năng sống hòa nhập với môi trường xung quanh. Chính vì vậy tôi luôn quan tâm đến biện pháp rèn kĩ năng tự phục vụ cho trẻ đặc biệt ở lứa tuổi mẫu giáo 3- 4 tuổi. Ở lứa tuổi này bước đầu trẻ có khả năng giao tiếp, có thể học những bài học tự phục vụ đơn giản rồi dần dần đến phức tạp. Qua tìm tòi nghiên cứu, nhận thức sâu sắc ý nghĩa vai trò quan trọng của kĩ năng tự phục vụ với sự phát triển của trẻ tôi đã lựa chọn “ Biện pháp giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 3- 4 tuổi C2 tại trường Mầm non Quang Châu”. 1.2. Mục đích nghiên cứu Trẻ chủ động tích cực tham gia các hoạt động Cung cấp kiến thức, kỹ năng giúp trẻ kỹ năng tự phục vụ bản thân. Giup trẻ mạnh dạn hơn. Trẻ thực hiện theo mong muốn, đưa ra ý kiến bản thân 3 1.3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu 1.3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng tôi tập trung nghiên cứu vào trẻ lớp tôi, trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi C2 trường mầm non Quang Châu, số lượng 25 trẻ tại lớp tôi phụ trách. 1.3.2. Phạm vi nghiên cứu. Tại lớp mẫu giáo 3-4 tuổi C2 Thời gian từ đầu năm học tháng 9/2024 đến tháng 4/2025 1.4. Nhiệm vụ nghiên cứu Tìm ra một số biện pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi. 1.5..Phương pháp nghiên cứu Chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mầm non Nghiên cứu qua tài liệu Phương pháp quan sát Phương pháp đàm thoại, trao đổi trực tiếp. Phương pháp dùng lời nói. Phương pháp thực hành. 1.6. Những đóng góp mới của sáng kiến Những yếu tố tạo nên tính tự phục vụ ở mỗi cá nhân là khả năng tin tưởng vào những đánh giá của bản thân, cũng như là tự vạch ra con đường cho mình mà không ỷ lại hay tìm kiếm sự giúp đỡ từ người khác. Có được khả năng này là một điều tuyệt vời, bởi nó sẽ giúp trẻ hạnh phúc hơn, thu hút được sự chú ý của mọi người xung quanh, từ đó khuyến khích trẻ tạo ra những cơ hội để trẻ thể hiện mình. Những đứa trẻ biết tự phục vụ từ nhỏ thì nhanh nhẹn hoạt bát, nổi trội hơn hẳn trẻ khác. Còn đối với trẻ mầm non còn rất nhiều trẻ dưa dẫm, ỷ lại, được nuông chiều một cách thái quá dẫn đến không biết làm một số việc đơn giản như không biết gấp quần áo, không biết tự đi giày, không thích tự đi mà thích người lớn bế . trẻ không biết chăm sóc bản thân, không biết vệ sinh lười nhác,không giúp đỡ người khác. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó thiếu tự lập là một nguyên nhân trọng tâm nhất. 2 .Phần nội dung 2.1 Cơ sở viết sáng kiến 2.1.1. Cơ sở lý luận Yếu tố tạo nên tính tự phục vụ ở mỗi cá nhân là khả năng tin tưởng vào những đánh giá của bản thân, cũng như là tự vạch ra con đường cho mình mà không ỷ lại hay tìm kiếm sự giúp đỡ từ người khác. Có được khả năng này là 4 một điều tuyệt vời, bởi nó sẽ giúp trẻ hạnh phúc hơn, thu hút được sự chú ý của mọi người xung quanh, từ đó khuyến khích trẻ tạo ra những cơ hội để trẻ thể hiện mình. Những đứa trẻ biết tự phục vụ từ nhỏ thì nhanh nhẹn hoạt bát, nổi trội hơn hẳn trẻ khác. Còn đối với trẻ mầm non còn rất nhiều trẻ dưa dẫm, ỷ lại, được nuông chiều một cách thái quá dẫn đến không biết làm một số việc đơn giản như không biết gấp quần áo, không biết tự đi giày, không thích tự đi mà thích người lớn bế . trẻ không biết chăm sóc bản thân, không biết vệ sinh lười nhác,không giúp đỡ người khác. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó thiếu tự lập là một nguyên nhân trọng tâm nhất. 2.1.2 Cơ sở thực tiễn Trường mầm non Quang Châu có Cơ sở vật chất đầy đủ đã được sự quan tâm của các cấp lãnh đầu tư xây dựng mới hoàn toàn. Nhà trường nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các cấp lãnh đạo đặc biệt là UBND Thị xã Việt Yên về việc giáo dục tự phục vụ cho trẻ mầm non. 2. Thực trạng công tác tổ chức: 2.2.1. Ưu điểm: Cơ sở vật chất đầy đủ đã được sự quan tâm của các cấp lãnh đầu tư xây dựng mới hoàn toàn. Nhà trường nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các cấp lãnh đạo đặc biệt là UBND Thị xã Việt Yên, Lớp được nhà trường đầu tư cơ sở vật chất có đủ tủ đựng đồ dùng cá nhân, giá để giầy dép, giá ca cốc, giá để đồ dùng dạy học, đồ chơi... Trẻ trong lớp ngoan thích hoạt động. Là giáo viên, có nhiều năm công tác và đã đạt giáo viên giỏi, tôi thường xuyên tham gia các hoạt động dự giờ rút kinh nghiệm lẫn nhau. Các giáo viên trong lớp đều có kinh nghiệm chăm sóc, giáo dục trẻ. Các cô đều nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, có khả năng sáng tạo, tổ chức nhiều hình thức trò chơi phong phú, tổ chức cho trẻ chơi hàng ngày. Đa số phụ huynh nhiệt tình có nhận thức về việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, học tập của con em mình ở trường, sẵn sàng hỗ trợ nhà trường và giáo viên trang bị đầy đủ đồ dùng các nhân cho trẻ. 2.2.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 2.1.2. Giáo viên * Tồn tại và hạn chế: Chưa nắm bắt được khả năng của từng trẻ, chưa biết trẻ nào có kỹ năng, trẻ nào chưa có kỹ năng, dụt dè, nhút nhát. 5 Giáo viên chưa có nhiều thời gian để tìm tòi, trau dồi các biện pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ. - Nguyên nhân: 100% trẻ bắt đầu đi học, chưa được tiếp xúc nhiều với cô, với bạn. Không ưu tiên cho việc giáo dực kỹ năng tự phục vụ. 2.1.3.Trẻ em - Tồn tại, hạn chế: Một số trẻ nhận thức chậm, một số trẻ chậm nói, có trẻ nhát, có trẻ tăng động Một số cháu nói vẫn chưa thạo nên gây khó khăn cho các con trong việc thể hiện ý muốn của mình đối với cô giáo. Một số cháu nghe nhưng chưa hiểu được các yêu cầu của cô, thích làm theo ý mình nên sẽ gây khó khăn cho giáo viên việc rèn nếp cho các cháu. Trẻ chưa có nề nếp thói quen tự phục vụ Nhiều em khả năng tự phục vụ còn rất yếu, còn rụt rè nhút nhát. Một số trẻ không có hứng thú với kỹ năng tự phục vụ. - Nguyên nhân: Khả năng nhận thức của các con không đồng đều Do trẻ bắt đầu đi học còn lạ lẫm với cô giáo và trường, lớp Trẻ còn bị ảnh hưởng do cuộc sống hiện đại như: Thích xem tikTok, ti vi, chơi các trò chơi điện tử trên điện thoại, máy tính. 2.1.4. Phụ huynh (cha mẹ/người chăm sóc trẻ) - Tồn tại, hạn chế: Nhiều phụ huynh chưa hiểu và quan tâm đến việc giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ. Một số phụ huynh chưa dành thời gian phối hợp với giáo viên trong việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ. Việc rèn trẻ thói quen tự phục vụ không thực hiện thường xuyên, liên tục. - Nguyên nhân: Một là vì phụ huynh nuông chiều con quá mức chỉ biết hưởng thụ sau này trở thành người ích kỉ, vụng về, thiếu tự tin trong cuộc sống. 6 Thứ hai là không tin vào khả năng của trẻ, trẻ muốn làm nhưng thấy trẻ làm nóng ngóng, chậm chạp thì tỏ ra khó chịu nên người lớn thường sốt ruột và làm thay trẻ, dẫn đến trẻ có sự bướng bỉnh dần dần ỷ lại, lười biếng thiếu tự tin ở trẻ. 90% phụ huynh đều là công nhân đi làm cả thứ 7, lúc rảnh thì cha mẹ cho trẻ làm, lúc bận thì làm hộ trẻ luôn cho nhanh. 2.1.5. Cơ sở GDMN - Tồn tại, hạn chế: Trang bị đồ dùng phục vụ cho trẻ chưa đồng bộ, đồ dùng rèn kỹ năng cho trẻ trong lớp chưa phong phú, hạn chế về số lượng. - Nguyên nhân: Nhà trường đã rất quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị nhưng kinh phí hạn hẹp. II. ĐỀ XUẤT 1. Các biện pháp giải quyết vấn đề 1.1.Biện pháp 1: Xây dựng nội dung rèn kĩ năng tự phục vụ 1.1.1. Nội dung biện pháp Giáo viên xây dựng nội dung rèn trẻ những kĩ năng tự phục vụ cần thiết để giáo dục tính tự lập, tự phục vụ cho trẻ và các nội dung cần rèn nề nếp thói quen cho trẻ. 1.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Vào đầu năm học 2024-2025 khi tôi mới nhận lớp tôi thấy khả năng nhận thức của cháu chưa tốt, khả năng tự phục vụ còn hạn chế. Có một số cháu nói chưa tốt chưa biết một số thói quen tự phục vụ đơn giản như các cháu khát nước chưa biết tự lấy cốc uống nước vẫn cần tới sự giúp đỡ của cô. Có một số cháu có nhu cầu vệ sinh nhưng không biết cởi quần như thế nào,cháu thì chưa biết xúc cơm hoặc cầm thìa sai tay (tay trái), cháu ăn xong chưa biết cất bát hoặc ghế đúng nơi quy định, chưa biết đi giầy, cất đồ của mình vào tủ, không biết giúp đỡ bố mẹ, bạn bè, cô những công việc vừa sức . Bên cạnh còn một số cháu nghe chưa kịp và chưa hiểu hiệu lệnh của cô “Các con hãy giúp cô lấy ghế về bàn ngồi” chính vì các con chưa hiểu nên trẻ không thực hiện được. Tuy nhiên có một số kĩ năng phục vụ rất tốt nhưng thiếu tính chủ động trẻ luôn chờ người lớn nhắc nhở thì trẻ mới tự làm. Từ những nhận thức của mình về vấn đề giáo dục tính tự lập cho trẻ, tôi định hướng được nhiệm vụ của mình trong công việc và để gặt hái được nhiều thành quả tốt trong quá trình thực hiện nên ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành 7 khảo sát trẻ theo những kĩ năng cần thiết mà tôi đã xác định trên qua các hoạt động trong ngày: Giờ đón, trả trẻ, giờ hoạt động học, hoạt động vui chơi, hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh và lao động của trẻ 3 - 4 tuổi lớp 3C2 tôi trực tiếp giảng dạy với tổng số 25 học sinh để biết được khả năng tự phục cụ của trẻ gồm các nội dung sau Khảo sát thực tế về khả năng tự phục vụ của trẻ đầu năm, kết quả nhận được như sau: Thực hiện Thực hiên tốt chưa tốt STT Nội dung khảo sát Số Số Tỉ lệ Tỉ lệ % lượng lượng % 1 - Tự lấy nước và cầm cốc uống nước 8 47% 17 53% 2 -Sử dụng bát, thìa, cốc đúng cách 10 34% 15 66% 3 - Tự xúc cơm, cất bát, ghế sau khi ăn 5 25% 20 75% 4 - Tự đi giầy dép, cởi mặc quần áo, đội 15 25% 10 75% mũ, đi tất 5 - Tự cất chăn, gối sau khi ngủ dậy 8 47% 17 53% 6 -Tự biết rửa tay, lau mặt, súc miệng 8 47% 17 53% 7 - Tự cất đồ dùng học tập, đồ chơi 10 34% 15 66% 8 - Tự vứt rác đúng nơi quy định 8 47% 17 53% 9 - Tự đi vệ sinh đúng nơi quy định, tự 5 20% 20 75% biết rửa tay sau khi đi vệ sinh 10 - Khả năng trẻ tự làm mà không cần cô 8 47% 17 53% nhắc nhở 1.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp Bản thân tôi sau khixây dựng được nội dung giáo dục trẻ kỹ năng tự phục vụ tôi đã tiến hành khảo sát trẻ biết được một cách chính xác nhất khả năng của trẻ, tôi đưa ra các biện pháp giáo dục phù hợp với khả năng, điều kiện và tình hình thực tế của lớp tôi. 8 2. Biện pháp 2: Xây dựng môi trường giáo dục kĩ năng tự phục vụ trong lớp học. 2.1.1. Nội dung biện pháp Xây dựng môi trường giáo dục xanh- an toàn- thân thiện trong lớp học đó là việc bố trí, sắp xếp các góc hoạt động trong lớp, sắp xếp đồ dùng, đồ chơi của lớp khoa học, dễ lấy, dễ sử dụng tạo cơ hội cho trẻ chủ động tích cực tham gia 2.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Trong năm học 2024- 2025 với sự chỉ đạo của ban giám hiệu nhà trường để thực hiện tốt công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ; thực hiện tốt chủ đề năm học “ Xây dựng trường mầm non xanh, sạch- an toàn và thân thiện”. Căn cứ vào lớp học 3-4 tuổi C2 mà tôi phụ trách việc xây dựng môi trường trong lớp học được bố trí đảm bảo an toàn, gọn gàng, khao học thuận tiện cho trẻ tham gia các hoạt động. Đồ dùng, đồ chơi được sắp xếp gọn gàng theo góc chơi, được thay đổi theo chủ đề và thường xuyên vệ sinh lau rửa sạch sẽ; trang trí lớp theo chủ đề lớn (mảng tường chính), chủ đề nhánh (các góc chơi). Hình ảnh lớp học 9 Hình ảnh: Bố trí góc hoạt động cho trẻ: Góc trải nghiệm khám phá, góc thiên nhiên - Khu vực nhà vệ sinh. + Biển phân khu vệ sinh nam – nữ: Treo trước cửa nhà vệ sinh, vừa tầm mắt của trẻ; bằng hình ảnh bé trai - bé gái kết hợp với chữ tiếng Việt hoặc tiếng Anh để trẻ nhận biết đi vệ sinh đúng nơi quy định + Khu rửa tay: ở cửa nhà vệ sinh tại phía sau lớp. - Khu vực phòng ngủ. + Khu để đồ dùng: Gồm tủ đựng đồ dùng phòng ngủ (chăn, gối, chiếu) để trẻ ngủ dậy tự cất chăn gối, chiếu vào tủ. + Khu kê sạp ngủ: Kê cố định sạp, thảm, đệm ngủ cho trẻ. 2.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp Với môi trường trong lớp thuận lợi trẻ rất hào hứng tham gia vào các hoạt động mà cô triển khai, trẻ được thực hành, trải nghiệm, kèn kĩ năng ở tất cả các nội dung thông qua hoạt động học, hoạt động chơi, hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh... ở trong lớp. Các kỹ năng tự phục vụ của trẻ được nâng cao và tiến bộ rõ rệt. Kết quả là trẻ thực hiện nhanh nhẹn, thuần thục các kỹ năng. 3; Biện pháp 3: Giáo dục kỹ năng tự phục vụ thông qua hoạt động vui chơi. 3.1.1. Nội dung biện pháp Tăng cường cho trẻ rèn luyện kỹ năng tự phục vụ thông qua hoạt động vui chơi: Rèn kỹ năng tự phục vụ ở góc phân vai, góc khám phá trải nghiệm, góc xây dựng, góc thiên nhiên... 10 3.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Hoạt động vui chơi là một trong các loại hình hoạt động của trẻ ở trường mầm non, là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo được người lớn tổ chức, hướng dẫn, nhằm giúp trẻ thỏa mãn các nhu cầu vui chơi và nhận thức, đồng thời nhằm giáo dục và phát triển toàn diện cho trẻ. Bên cạnh đó hoạt động vui chơi còn là phương tiện giáo dục và phát triển trí tuệ cho trẻ góp phần củng cố, làm phong phú vốn hiểu biết của trẻ về thế giới xung quanh. Trong giờ hoạt động vui chơi trẻ được thực hành trải nghiệm nhiều vai chơi khác nhau trong cuộc sống của người lớn góp phần hình thành kĩ năng xã hội cho trẻ. Đây thực sự là điều kiện tuyệt vời giúp trẻ hình thành kĩ năng tự phục vụ có hiệu quả Tôi tiến hành lồng ghép giáo dục kĩ năng tự phục vụ vào vui chơi, qua đó trẻ được rèn luyện các kỹ năng, giáo viên theo dõi quan sát trẻ để kịp thời sửa đổi cho trẻ những kỹ năng chưa tốt Ở phần mở đầu trẻ được tự nhận chơi trò chơi trẻ thích, tự phân vai cho nhau, cùng nhau thảo luận, tự lấy đồ chơi để chơiỞ phần quá trình chơi trẻ được sắm vai người lớn làm cô bán hàng, làm bác sĩ, làm bố, mẹ, lãm kĩ sư xây dựng... Hình ảnh trẻ chơi ở góc: Bé sáng tạo + Ví dụ: Góc phân vai chơi trò chơi gia đình: Mẹ dạy các con cách mặc áo, cài khuy, bón cho con ăn, uống...rèn kỹ năng sử dụng bát, thìa, cốc; kỹ năng, lấy nước và cầm cốc uống nước. + Ví dụ: Góc thiên nhiên khoa học: Trẻ chăm sóc cây cối, tưới nước, nhặt lá vàng...Rèn kỹ năng tự vứt rác đúng nơi quy định. 11 Trẻ tích cực tham gia vào góc chơi, thi đua với nhau tạo sự hào hứng phấn khởi cho trẻ khi trẻ được thi đua với bạn: Thi ai cài khuy nhanh hơn, ai buộc dây giày nhanh hơn, bạn nào kéo khóa áo giỏi nhất, ai xếp gối đẹp nhất, tay bạn nào sạch và thơm hơn... Bằng hình thức thi đua phát huy tính tích cực của trẻ, trẻ không còn e dè, nhút nhát mà gần gũi với cô, thân thiện đoàn kết với bạn, tích cực tham gia thực hành tất cả các kỹ năng mà cô đưa ra với sự động viên, khuyến khích của cô trẻ tự tin thực hiện các kỹ năng. 3.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp Qua hoạt động vui chơi trẻ có kỹ năng chơi, kỹ năng giao tiếp, đặc biệt là kỹ năng tự phục vụ thông qua các trò chơi như tự biết lấy đồ chơi ra, bầy đồ dùng đồ chơi gọn gàng, chơi xong trẻ biết cất đồ chơi vào đúng nơi quy định. Góc thao tác vai rèn cho trẻ kỹ năng tự phục vụ rất tốt: Kỹ năng mặc áo, cài khuy, kỹ năng cầm thìa, cầm bát... Qua hoạt động chơi trẻ “học mà chơi, chơi mà học” học một cách nhẹ nhàng linh hoạt, các kỹ năng của trẻ ngày một tốt hơn, thuần thục hơn. 4.Biện pháp 4. Giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ trong hoạt động chăm sóc nuôi dưỡngsức khoẻ 4.1.1. Nội dung biện pháp Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo3-4 tuổi không chỉ được tiến hành trong hoạt động giáo dục trẻ mà còn được tôi đưa vào hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. 4.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp + Giờ ăn trưa, ăn chiều : Chuẩn bị giờ ăn: Dạy trẻ kỹ năng kê bàn ăn giúp cô 2 trẻ kê 1 bàn, kê bàn ăn xong cô cho trẻ kê ghế vào bàn, ghế của bạn nào bạn ấy kê, kê ghế xong trẻ đi rửa tay, rửa mặt và ngồi vào bàn ăn Khi trẻ ăn: Cô hỏi trẻ tay nào cầm bát, tay nào cầm thìa xúc cơm, cô quan sát sửa lỗi cho trẻ cầm bát thìa đúng cách. 12 Hình ảnh: Giờ ăn của trẻ Sau khi ăn xong trẻ tự cất ghế đi, trẻ đi vệ sinh, rửa tay, xúc miệng nước muối. + Giờ ngủ trưa: Trẻ đi lấy gối, chăn các nhân của trẻ xếp vào vị trí trẻ nằm ngay ngắn thẳng hàng và lên giường ngủ, ngủ dậy trẻ lại cất chăn gối vào tủ, xếp gọn gàng. 4.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp Sau khi được cô áp dụng biện pháp trẻ có nề nếp, thói quen, có kỹ năng tốt: Nhanh nhẹn, mạnh dạn, tự tin, khéo léo. Trẻ kiên trì, mày mò, tìm tòi, tích cực, hứng thú tham gia vào hoạt động Đây đều là những công việc thường xuyên trẻ làm nên những kĩ năng này nhanh chóng trở thành kĩ xảo, trẻ tự giác thực hiện mà không cần cô giáo phải nhắc nhở. 5. Biện pháp 5: Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi( giờ đón, trả trẻ) 5.1.1. Nội dung biện pháp Giờ đón, trả trẻ cũng rất quan trọng để rèn kĩ năng tự phục vụ cho trẻ, khi đón trẻ ngoài trò chuyện với phụ huynh về trẻ thì giáo viên còn hướng dẫn trẻ cất đồ dùng các nhân của mình vào tủ đựng đồ dùng các nhân, cất dép, giầy. 5.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Để trẻ thực hiện tốt kĩ năng tôi đã tiến hành kê giá giầy dép, kê tủ đựng đồ dùng các nhân của trẻ ở hành lang phía trước lớp học gần cửa ra vào để thuận tiện cho trẻ cất và lấy đồ dùng của mình, mỗi ngăn tủ cô dán kí hiệu của 13 trẻ vào ngăn tủ, trẻ phải nhận biết được ký hiệu của mình để cất đúng vị trí. Giá, tủ của trẻ được vệ sinh sạch sẽ hàng ngày. Giờ đón trẻ tôi rất ân cần nhắc nhở trẻ cất giày dép, ba lô đúng cách và đúngchỗ. Ngoài ra giáo viên có thể hướng dẫn trẻ cách mặc, cởi áo, cất áo một cách gọn gàng. Ngoài những lúc đón trẻ thì thời gian trả trẻ cũng là thời điểm giúp trẻ được thực hành lại những kĩ năng này, giáo viên vừa trả trẻ vừa nhắc nhở nhẹ nhàng trẻ lấy đồ đạc, mặc áo khoác (áo chống nắng) trước khi về. Ngoài việc cổ vũ những cháu năng động tích cực phát huy khả năng, tôi chú ý đến những cháu còn chậm tiếp thu chưa tốt, rụt rè. Tôi cho trẻ thực hiện thường xuyên, liên tục để trở thành kĩ năng, kĩ xảo không cần cô nhắc nhở trẻ vẫn tự giác thực hiện. 5.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp Dành thời gian hướng dẫn trẻ trong những giờ đón, trả trẻ như vậy sẽ đem lại hiệu quả bất ngờ, trẻ sẽ hình thành các kĩ năng này một cách thuần thục, nhanh nhạy trong một thời gian ngắn bởi đó đều là những kĩ năng đơn giản mà trẻ ngày nào trẻ cũng được làm nên rất dễ dàng được hình thành ở trẻ. Được cô giáo và cha mẹ khen trẻ sẽ rất thích thú và hằng ngày tự thực hiện các kĩ năng đó một cách tự giác,nhanh chóng, thuần thục 6. Biện pháp 6: Tuyên truyền phối hợp với các bậc phụ huynh trong việc giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ. 6.1.1. Nội dung biện pháp Để thực hiện tốt kĩ năng tự phục vụ của trẻ cần tuyên truyền phối hợp với phụ huynh để dạy trẻ khi trẻ ở nhà 6.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Thường xuyên trao đổi thông tin giữa giáo viên và phụ huynh của trẻ. Giáo viên cần tìm hiểu thêm thông tin về trẻ từ phụ huynh: “ Ở nhà cháu có hay giúp đỡ ông bà không? Cháu thích làm những việc gì giúp bố mẹ, bố mẹ có đẻ cho cháu tự phục vụ bản thân những việc vừa sức không? Đi giày dép, xếp quần áo của mình, tự xúc ăn ..” Ngoài việc tìm hiểu từ phụ huynh thì tôi thường xuyên phản hồi thông tin về trẻ cho phụ huynh nắm. “Ở lớp cháu là người như thế nào? Cháu có hay giúp cô không? Những việc trẻ làm tốt khi ở lớp” để phụ huynh tiếp tục khuyến khích cho cháu làm tốt ở nhà nhằm tạo thói quen tốt cho trẻ. Ngoài ra tôi còn sưu tầm những bài viết, băng hình có nội dung giáo dục kỹ năng tự phục vụ để tuyên truyền cho phụ huynh ở góc tuyên truyền của lớp 14 Tuyên truyền phụ huynh dành thời gian quan tâm đến con cái nhiều hơn cho trẻ thực hiện kĩ năng tự phục vụ ở nhà thường xuyên để tạo thành thới quen cho trẻ không để trẻ chơi các trò chơi điện tử trên máy tính, điện thoại.Trong thời gian trẻ 6.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp Phụ huynh có tương tác tố với cô giáo qua góc tuyên truyền cũng như qua nhóm zalo của lớp, qua giờ đón, trả trẻ. Ban đầu nhiều phụ huynh chưa hiểu và quan tâm đến việc giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ thì giờ đây phụ huynh đã quan tâm đến việc giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ không làm thay trẻ, không nuông chiều trẻ nữa. Dù công việc bận rộn phụ huynh vẫn dành thời gian phối hợp với giáo viên trong việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ, đưa đón con đúng giờ, trao đổi với cô về tình hình học tập và sức khỏe của trẻ ở trường, kỹ năng thực hiện các bài tập, tính tự giác, tự phục vụ của trẻ. * Hiệu quả của sáng kiến *Về phía trẻ: Kết quả khảo sát khả năng tự phục vụ của lớp sau khi áp dụng đề tài Thực hiện chưa Thực hiên tốt tốt STT Nội dung khảo sát Số Số Tỉ lệ % Tỉ lệ % lượng lượng - Tự lấy lấy nước và cầm cốc uống 1 25 100% 0 0% nước 2 -Sử dụng bát, thìa, cốc đúng cách 25 100% 0 0% 3 - Tự xúc cơm, cất bát, ghế sau khi ăn 25 100% 0 0% - Tự đi giầy dép, cởi mặc quần áo, 4 25 100% 0 0% đội mũ, đi tất 5 - Tự cất chăn, gối sau khi ngủ dậy 25 100% 0 0% 6 -Tự biết rửa tay, lau mặt, súc miệng 25 100% 0 0% 7 - Tự cất đồ dùng học tập, đồ chơi 25 100% 0 0% 8 - Tự vứt rác đúng nơi quy định 25 100% 0 0% - Tự đi vệ sinh đúng nơi quy định, tự 9 25 100% 0% 0% biết rửa tay sau khi đi vệ sinh 15 Thực hiện chưa Thực hiên tốt tốt STT Nội dung khảo sát Số Số Tỉ lệ % Tỉ lệ % lượng lượng - Khả năng trẻ tự làm mà không cần 10 25 100% 0% 0% cô nhắc nhở * Về phía giáo viên: - Tạo được môi sạch sẽ an toàn với các đồ dùng đồ chơi đa dạng phù hợp với từng chủ đề giúp trẻ có cơ hội vui chơi và thể hiện những hành vi tốt - Có nhiều kinh nghiệm hơn trong chăm sóc giáo dục trẻ, được phụ huynh đồng nghiệp tin tưởng quý mến, học trò luôn yêu thương - Nhờ các biện pháp đó mà cô và trò đã ngày càng hiểu nhau hơn, nâng cao trình độ chuyên môn và khả năng quản lý lớp học. * Về phía phụ huynh Phụ huynh thấy rõ con mình nhanh nhẹn, mạnh dạn, tự tin thích đi học, yêu trường, yêu lớp, yêu cô, yêu bạn bè. Đặc biệt thấy con có nhiều kỹ năng tốt rất cần thiết cho cuộc sống nên thấy rất tin tưởng và yên tâm khi cho con đi học. Chính vì vậy các bậc cha mẹ rất nhiệt tình kết hợp với giáo viên cũng như nhà trường để rèn con mình ở nhà và mọi lúc mọi nơi. - Đa số phụ huynh hiểu được ý nghĩa tầm quan trọng của việc giáo dục hành vi văn minh cho trẻ, phụ huynh có ý thức cao trong lời nói và hành động. Là tấm gương tốt cho con trẻ noi theo. - Phụ huynh đã có sự phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Nhiệt tình ủng hộ sưu tầm tìm kiếm các nguyên vật liệu phế thải mang đến lớp để giáo viên cùng trẻ làm đồ dùng đồ chơi phục vụ trong các hoạt động dạy và học. 4. Thời gian áp dụng sáng kiến: - Thời gian thực hiện: Từ năm học 2024-2025 và các năm tiếp theo. - Thời gian bắt đầu áp dụng: Từ năm học 2024-2025 và các năm tiếp theo. III-ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ÁP DỤNG, KHẢ NĂNG NHÂN RỘNG CỦA SÁNG KIẾN 1. Về hiệu quả áp dụng + Về hiệu quả kinh tế: Tạo môi trường công bằng, an toàn, thân thiện, lành mạnh đối với trẻ em, kích thích tính chủ động, tích cực và kĩ năng tự phục 16 vụ của trẻ em, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục phát triển toàn diện trẻ em trong nhà trường. + Về hiệu quả xã hội: Nâng cao năng lực và ý thức trách nhiệm của cán bộ quản lý (CBQL), giáo viên mầm non (GVMN) và cha mẹ trẻ trong thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phát triển toàn diện trẻ em mầm non. 2. Về khả năng nhân rộng - Báo cáo của tổ mẫu giáo 3-4 tuổi về kết quả áp dụng “ Biện pháp giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 3- 4 tuổi C2 tại trường Mầm non Quang Châu”.Của giáo viên Nguyễn Hồng Vân thực hiện tại lớp mẫu giáo 3-4 tuổi C2 được nhà trường xác nhận có hiệu quả và đưa vào áp dụng tại các khối lớp mẫu giáo 3-4 tuổi trong trường mầm non Quang Châu. * Cam kết: Tôi cam đoan đây là sáng kiến của bản thân tôi viết, không sao chép nội dung hoặc vi phạm bản quyền của người khác. Xin chân thành cảm ơn. Quang châu., ngày. ..tháng....năm Quang châu, ngày tháng năm Thủ trưởng cơ quan, đơn vị Tác giả sáng kiến (Ký tên, đóng dấu) (Ký, ghi rõ họ tên) Nguyễn Thị Mến Nguyễn Hồng Vân 17

File đính kèm:

  • docxbien_phap_giao_duc_ki_nang_tu_phuc_vu_cho_tre_mau_giao_3_4_t.docx
Giáo án liên quan