Bài giảng Ngữ văn lớp 12: Các vị La Hán chùa Tây Phương - Huy Cận

1. TÁC GIẢ:

a. Tiểu sử:

 Tên thật là Cù Huy Cận

 (1919 – 2004) quê ở Hà Tĩnh.

 Từng học trường Cao đẳng Canh Nông.

 Tham gia cách mạng năm 1942.

 Sau Cách mạng tháng Tám, ông giữ nhiều chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo nhà nước.

 

ppt33 trang | Chia sẻ: quynhsim | Ngày: 16/12/2016 | Lượt xem: 29 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang mẫu tài liệu Bài giảng Ngữ văn lớp 12: Các vị La Hán chùa Tây Phương - Huy Cận, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Các vịLa HánchùaTâyPhươngHuy Cận Tên thật là Cù Huy Cận (1919 – 2004) quê ở Hà Tĩnh. Từng học trường Cao đẳng Canh Nông. Tham gia cách mạng năm 1942. Sau Cách mạng tháng Tám, ông giữ nhiều chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo nhà nước. 1. TÁC GIẢ:a. Tiểu sử:I. VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ – TÁC PHẨM:HUY CẬN – XUÂN DIỆUHUY CẬN VÀ PHU NHÂNHUY CẬNb. Sự nghiệp sáng tác:+ Trước Cách mạng tháng Tám: Là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào Thơ Mới. Thơ ông nói về nỗi buồn cuộc đời, kiếp người, về quê hương đất nước. Tác phẩm tiêu biểu: Lửa thiêng, Kinh cầu tự, Vũ trụ ca.+ Sau Cách mạng tháng Tám: Gắn liền với cuộc sống lao động và chiến đấu của nhân dân, tràn đầy tinh thần lạc quan. Tác phẩm tiêu biểu: Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa, Bài thơ cuộc đờia. Xuất xứ:2. XUẤT XỨ – HOÀN CẢNH RA ĐỜI BÀI THƠ: Bài thơ được viết ngày 27 - 12 -1960, in trong tập thơ “Bài thơ cuộc đời”.b. Hoàn cảnh ra đời: Bài thơ ra đời sau nhiều lần tác giả đến thăm chùa Tây Phương ( trước và sau cách mạng tháng Tám) 8 khổ thơ đầu: Miêu tả các pho tượng La Hán. 5 khổ thơ tiếp: Suy tưởng của tác giả về quá khứ – thời đại của các pho tượng. 2 khổ thơ cuối: Lời giải đáp cho những trăn trở của cha ông trong quá khứ. Bài thơ là những suy tưởng và niềm cảm thông, xúc động của nhà thơ trước những khổ đau,bế tắc của cha ông trong quá khứ và niềm vui trước lời đáp, hướng đi của cuộc sống hôm nay.4. CHỦ ĐỀ:3. BỐ CỤC: Phật điện chính Thái tử Kỳ Đà (Thích Ca)Tuyết SơnTổ Thứ2: Mã Minh Tôn giảTổ thứ 3: Thương Na Hoà Tu Tôn giảTổ thứ 4: Ư Ba Cúc Đa Tôn giảTổ thứ 5: Đề Ca Đa Tôn giảTổ thứ 8: Phật Đà Nan Đề Tôn giảTổ thứ 14: Long Thụ Tôn giả Tổ thứ 17: Tăng Già Nan Dề Tôn giảTổ thứ 20: Xà Dạ Đa Tôn giảKim Cương (số 5.A)Kim Cương (số 7.A)Kim Cương ( số 10.A)Kim Cương (số 11.A)Các vị La Hán chùa Tây PhươngTôi đến thăm về lòng vấn vươngHá chẳng phải đây là xứ PhậtMà sao ai nấy mặt đau thương?ẤN TƯỢNG CHUNG CỦA TÁC GIẢ VỀ CÁC PHO TƯỢNG LA HÁN:II. PHÂN TÍCH: “Vấn vương”:“Mà sao ai nấy mặt đau thương” câu hỏi tu từ thể hiện sự ngạc nhiên trước vẻ mặt đau thương của các vị La Hán. từ láy gợi tả tâm trạng thắc mắc, nghĩ ngợi, ám ảnh, băn khoăn Ấn tượng nổi bật nhất, ám ảnh nhà thơ chính là nỗi đau thương được biểu lộ qua nét mặt của các pho tượng.Đây vị xương trần chân với tayCó chi thiêu đốt tấm thân gầyTrầm ngâm đau khổ sâu vòm mắtTự bấy ngồi y cho đến nay.a. Pho tượng thứ nhất:2.. ĐẶC TẢ CÁC PHO TƯỢNG:Xương trần chân với tayTấm thân gàySâu vòm mắtThế ngồi bất động “ngồi y”Thân hình: Biện pháp liệt kê, từ ngữ gợi tả: đặc tả sự gầy gò, khô héo.Nội tâm: Trầm ngâm Đau khổ Thiêu đốt Nội tâm nung nấu, sục sôi như thiêu đốt cả hình hài. Hình thể khô héo + Nội tâm quằn quại, khổ đau.Có vị mắt giương, mày nhíu xệchTrán như nổi sóng biển luân hồiMôi cong chua chát, tâm hồn héoGân vặn bàn tay mạch máu sôi.b. Pho tượng thứ hai: Động từ, tính từ giàu chất tạo hình thể hiện trạng thái căng thẳng, dồn nén cao độ của cơ thể . Suy nghĩ nung nấu, trăn trở dữ dội sục sôi như muốn đứt tung, vọt trào khỏi thể xác nhưng bế tắc, vô phương.Hình thể :(khuôn mặt, bàn tay) Mắt giương Mày nhíu xệch Trán như nổi sóng Môi cong chua chát Gân vặn bàn tayNội tâm : Tâm hồn héo Chua chát Mạch máu sôiCó vị chân tay co xếp lạiTròn xoe tựa thể chiếc thai nonNhưng đôi tai rộng dài ngang gốiCả cuộc đời nghe đủ chuyện buồn.c. Pho tượng thứ ba:Tư thế: Chân tay co xếp Tròn xoe tựa thể chiếc thai non Lánh thế: cách biệt với cuộc sống trong dáng ngồi an bằng, tĩnh tại. Đôi tai dài rộng Nghe đủ chuyện buồn Nhập thế: đón nhận những tiếng dội, mọi nỗi khổ đau của chúng sinh. Những tính từ, động từ, giàu giá trị tạo hình được sử dụng chính xác thể hiện cả 3 pho tượng với dáng vẻ, tư thế khác nhau nhưng đều giống nhau ở nội tâm trăn trở dữ dội, quằn quại tìm lối ra trong nỗi đau của kiếp người nhưng bế tắc.

File đính kèm:

  • pptCac Vi La Han Chua Tay Phuong(7).ppt