Phương pháp sửa lỗi khi thực hành nói và viết tiếng Anh - Đỗ Thị Hoan
Bạn đang xem trước 20 trang mẫu tài liệu Phương pháp sửa lỗi khi thực hành nói và viết tiếng Anh - Đỗ Thị Hoan, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC 1
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 3
I. LÝ DO VIẾT SÁNG KIẾN 3
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3
III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1. Đối tượng nghiên cứu 3
2. Phạm vi nghiên cứu 4
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊM CỨU 4
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA SÁNG KIẾN 4
PHẦN II: NỘI DUNG 4
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1. Cơ sở lý luận 4
2. Cơ sở thực tiễn 5
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 5
1. Thuận lợi 5
2. Khó khăn 5
III. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 7
1. Biện pháp 1: Định hướng phương pháp học từ vựng một cách khoa học 9
thông qua lập sơ đồ tư duy.
2. Biện pháp 2: Phát triển kỹ năng thuyết trình nhóm thông qua việc lập sơ 11
đồ tư duy.
3. Biện pháp 3: Lập dàn ý để viết 1 đoạn văn ngắn bằng sơ đồ tư duy 13
IV. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CỦA SÁNG KIẾN 14
V. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN 15
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 16
I. KẾT LUẬN 16
II. KIẾN NGHỊ 16
1 1. Đối với BGH nhà trường 16
2. Đối với phòng GD&ĐT thị xã Việt Yên 17
2 PHẦN I. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO VIẾT SÁNG KIẾN
Trong những năm gần đây, đổi mới lớn nhất của nền giáo dục Việt Nam là
việc dạy học tập trung vào phát triển năng lực cho người học. Thay vì việc đặt
trọng tâm vào việc “học sinh sẽ học những gì” thì cần đặt trọng tâm vào việc “học
sinh sẽ làm được những gì?”. Dạy học theo hướng phát triển năng lực là mô hình
tập trung vào việc phát triển tối đa khả năng của người học. Trong đó, năng lực là
tổng hòa của 3 yếu tố: Kiến thức, kỹ năng, thái độ. Qua đó, việc thiết kế hoạt động
dạy và học có sự đan xen, liên quan, nhằm mục đích giúp người học chứng minh
khả năng học tập thực sự của mình. Từ đây, người học có thể phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động và tinh thần tự học để không ngừng nâng cao năng lực học
tập. Dạy học phát triển năng lực và phẩm chất là hướng dẫn, hỗ trợ để mỗi học sinh
có thể khám phá và tự rèn luyện những năng lực còn tiềm ẩn, đồng thời tích tụ ở
học sinh các phẩm chất. Vì vậy, dạy học cần tuân thủ các nguyên tắc sau: Lấy việc
học làm gốc, người học là chủ thể của quá trình dạy học, kiến thức và năng lực bổ
sung cho nhau.
Trong năm năng lực chính mà người học cần đạt được thì năng lực giải quyết
vấn đề và sáng tạo (NLGQVĐ-ST) là một trong những năng lực quan trọng và cần
thiết đối với học sinh lớp 7 trong việc học môn tiếng Anh. Bởi NLGQVĐ-ST là
khả năng cá nhân học sinh sử dụng hiệu quả kiến thức trong quá trình nhận thức để
giải quyết các tình huống mà ở đó không có sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp thông
thường. Trong quá trình giải quyết vấn đề, người học giải quyết vấn đề thường phải
trải qua các giai đoạn cơ bản: khám phá vấn đề, tổ chức quá trình giải quyết vấn đề,
thực hiện giải pháp (giải quyết các vấn đề nhỏ hơn ở từng lĩnh vực/nội dung cụ thể;
chuyển đổi ý nghĩa của kết quả thu được về bối cảnh thực tiễn) và đánh giá giải
pháp vừa thực hiện, hoặc tìm kiếm giải pháp khác. NLGQVĐ thể hiện khả năng
của mỗi cá nhân (khi làm việc một mình hoặc làm việc cùng một nhóm) trong việc
tư duy, tìm kiếm, thực hiện giải pháp giải quyết vấn đề đó. Tính sáng tạo là tính
mới của phương án giải quyết vấn đề.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng học sinh về năng lực
và phẩm chất. Học sinh tự giác, tích cực là một việc làm cần thiết đối với bất kì
giáo viên nào cũng phải tư duy thay đổi cách nghĩ cách làm để nâng cao chất lượng
của học sinh của mình. Rèn cho học sinh kĩ năng tự giác học tập, tự học tự sáng tạo
trong các môn học.
III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 7A trường THCS Tiên Sơn.
3 2. Phạm vi nghiên cứu:
Để thực hiện được đề tài này bản thân tôi đã nghiên cứu đối tượng học sinh
lớp 7A của trường THCS Tiên Sơn.
Thời gian nghiên cứu: Năm học 2023-2024.
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Xác định cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của việc đổi mới phương pháp dạy
học tiếng Anh, Đặc biệt phát huy năng lực tự giải quyết vấn đề và sáng tạo của học
sinh.
- Điều tra, quan sát thực tế việc dạy học tiếng Anh ở trường nói chung, và
việc phát huy năng lực tự giải quyết vấn đề và sáng tạo.
- Đề xuất giải pháp phát huy năng lực tự giải quyết vấn đề và sáng tạo.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trên tình hình thực tế có rất nhiều biện pháp giúp học sinh khắc phục những
khó khăn trên. Tuy nhiên, một mặt dựa vào việc nghiên cứu năng lực của đối tượng
học sinh của mình, mặt khác dựa vào mục tiêu muốn phát triển năng lực tự giải
quyết vấn đề và sáng tạo mà tôi đã chọn phương pháp lập Sơ đồ tư duy làm công cụ
giúp học sinh của mình chủ động chiếm lĩnh được kiến thức và vận dụng kiến thức
đó một cách có hiệu quả hơn.
VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA SÁNG KIẾN
Tôi nhận thấy, sơ đồ tư duy chính là công cụ, là bí quyết để giúp cho học
sinh t rung học cơ sở nhanh tiến bộ trong việc viết văn. Khi lập sơ đồ các em sẽ dễ
dàng nắm bắt được trọng tâm của đề bài, có thể tập trung suy nghĩ những chỗ khó,
dễ dàng hình dung bố cục của bài văn. Không những vậy, sơ đồ tư duy còn giúp
cho các em giải tỏa áp lực trong giờ học văn, khơi dậy năng khiếu viết văn, phát
triển khả năng tư duy, tạo cho các em thói quen tích cực suy nghĩ và cảm giác tự tin
khi viết văn, đồng thời mang đến cho các em niềm hứng thú thông qua biến những
kiến thức thành hình ảnh sống động theo sự sáng tạo của các em.
PHẦN II. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ VIẾT SÁNG KIẾN
1. Cơ sở lý luận:
Ngày nay, tiếng Anh là một ngôn ngữ phổ biến và thông dụng trên toàn thế
giới. Tại Việt Nam, tiếng Anh ngày càng được chú trọng và là một môn học gây
được nhiều hứng thú đối với học sinh. Tuy nhiên, trong quá trình học, các em chưa
phá huy tối đa tư duy của mình trong các bài học, còn lúng túng giải quyết các vấn
đề. Vì vậy, là giáo viên, chúng ta cần quan tâm và dạy cho học sinh hiểu đúng, thực
4 hành chuẩn những kiến thức cơ bản. Tạo cơ hội tối đa cho học sinh phát huy năng
lực của mình vào bài học.
2. Cơ sở thực tiễn:
Với chủ đề của năm học: Chủ động- Kỉ cương- An toàn- Chất lượng, đòi
hỏi mỗi giáo phải thay đổi phương pháp cách tổ chức dạy học linh hoạt trong các
tiết học. Đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng học sinh về năng
lực và phẩm chất. Học sinh tự giác, tích cực là một việc làm cần thiết đối với bất kì
giáo viên nào cũng phải tư duy thay đổi cách nghĩ cách làm để nâng cao chất lượng
của học sinh của mình. Rèn cho học sinh kĩ năng tự giác học tập, tự học tự sáng tạo
trong các môn học.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT
1. Thuận lợi
Năm học 2023-2024, tôi được phân công làm công tác giảng dạy môn tiếng
Anh lớp 7A. Tôi luôn nhận được sự động viên, khích lệ kịp thời từ phía Ban giám
hiệu cũng như các đồng nghiệp trong tất cả các hoạt động giáo dục của mình nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh. Về cơ sở vật chất và các giáo cụ dạy
học cũng là một trong những mặt thuận lợi giúp cho hoạt động dạy và học diễn ra
thuận tiện hơn. Nhằm phát huy tối đa tính tự chủ và tự sáng tạo cho các em. Và hơn
hết là, giáo viên luôn nhận được sự đồng hành, phối hợp có hiệu quả từ phía cha mẹ
học sinh thông qua các hoạt động trong và ngoài lớp học. Về phía học sinh, các em
là học sinh đầu cấp học chính vì vậy các em rất hào hứng, hứng thú và tự chủ trong
quá trình học tập của bản thân.
2. Khó khăn
Tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai, về cấu trúc, cấu tạo hình thành từ và câu có
nhiều điểm trái ngược chính vì thế đã gây rất nhiều khó khăn cho học sinh trong
quá trình tiếp thụ ngôn ngữ. Qua khảo sát thực tế đầu năm học, tôi nhận thấy hầu
hết các em gặp một số vấn đề nổi bật dưới đây:
Nguyên nhân thứ nhất: nhiều em chưa xác định được phương pháp học
thuộc từ vựng hiệu quả cho bản thân mình. Đối với những HS của tôi đa số các em
đều có ý thức về nhà ôn tập lại các từ vựng đã học trên lớp. Tuy nhiên, hầu hết các
em coi việc học thuộc tự vựng như một nhiệm vụ bắt buộc bởi cô giáo. Bởi vậy,
các em không tìm thấy hứng thú trong việc học từ vựng. Từ vựng đóng một vai trò
lớn trong việc tiếp thu ngôn ngữ của học sinh. Người học phát triển từ vựng là một
khía cạnh quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ. Vì vốn từ vựng hạn chế, sẽ
cản trở giao tiếp thành công. Điều này nhấn mạnh rằng kiến thức từ vựng là trọng
tâm của năng lực giao tiếp. Nó đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành
các văn bản nói và viết hoàn chỉnh. Chính vì vậy, việc học và ghi nhớ từ vựng đóng
một vai trò hết sức quan trọng trong việc học tiếng Anh. Học sinh chỉ học thông
qua việc nghe và viết từ vào vở trong quá trình trên lớp, mà không luyện tập lại các
5 từ vựng đó để khắc sâu ghi nhớ. Học sinh học từ vựng một cách thụ động không có
tư duy sáng tạo để liên tưởng, gắn kết những từ vựng đó thì vấn đề quên từ vựng đó
là cách dễ hiểu.
Phương thức học thuộc từ vựng truyền thống - HS không thể ghi nhớ từ vựng dài
hạn
Nguyên nhân thứ hai: Đa số học sinh còn thiếu tự tin trong các hoạt động
thuyết trình. Các em còn lúng túng trong việc sử dụng câu từ phù hợp để diễn đạt.
Hay nói cách khác, sau khi học xong một chủ điểm các con chưa linh hoạt trong
việc sắp xếp ý tưởng câu từ và hệ thống lại kiến thức để thuyết trình một vấn đề
trong nội dung bài học.
HS lúng túng trong việc trình bày 1 vấn đề
Nguyên nhân thứ ba: học sinh gặp khó khăn trong việc lập dàn ý để viết
một đoạn văn ngắn trong kỹ năng viết. Đa phần các em chỉ quen viết với những
6 hoạt động dựa vào câu hỏi có sẵn, viết dạng điền từ còn thiếu để hoàn thành một
đoạn văn viết về một vấn đề nào đó. Mà các em chưa hình dung được việc phải viết
câu mở đầu như thế, phát triển các ý ra làm sao hay kết thúc đoạn văn viết nội dung
gì. Từ đó, dẫn đến việc các em chưa phát huy được năng lực tự chủ trong hoạt động
viết một đoạn văn ngắn.
Nhận thức được những nguyên nhân nêu trên, tôi luôn trăn trở tìm tòi để đổi
mới phương pháp dạy học phù hợp với học sinh của mình và đáp ứng được mục
tiêu của chương trình giáo dục phổ thông mới hiện nay. Chính vì vậy tôi mạnh dạn
viết lên sáng kiến: “Phát huy năng lực tự giải quyết vấn đề và sáng tạo thông qua
phương pháp sơ đồ tư duy cho học sinh lớp 7A trường THCS Tiên Sơn”.
III. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
Trên tình hình thực tế có rất nhiều biện pháp giúp học sinh khắc phục những
khó khăn trên. Tuy nhiên, một mặt dựa vào việc nghiên cứu năng lực của đối tượng
học sinh của mình, mặt khác dựa vào mục tiêu muốn phát triển năng lực tự giải
quyết vấn đề và sáng tạo mà tôi đã chọn phương pháp lập Sơ đồ tư duy (SĐTD)làm
công cụ giúp học sinh của mình chủ động chiếm lĩnh được kiến thức và vận dụng
kiến thức đó một cách có hiệu quả hơn. Sau đây, tôi xin đưa ra ba biện pháp áp
dụng phương pháp lập sơ đồ tư duy nhằm khắc phục những nguyên nhân đã nêu
trên.
Trước khi trình bày về các biện pháp, tôi xin đề cấp đến quy trình tiến hành
lập sơ đồ tư duy:
7 a. Công cụ: HS chuẩn bị giấy khổ A4 hoặc A3 (sử dụng khổ ngang), ½ khổ
A0( khi hoạt động nhóm), bút chì, bút mực, bút mầu.
b. Từ khóa: GV hướng dẫn HS xác định:
- Loại từ: chọn các loại từ: danh từ, động từ, tính từ, trạng từ, số từ.
- Từ khóa: chọn lọc các từ cốt lõi, súc tích và cô đọng.
- Thứ tự: sắp xếp các từ quan trọng theo thứ tự ở nhánh chính rồi chuyển
sang nhánh phụ, nhánh nhỏ.
- Sử lý thông tin: rút gọn thông tin
c. Các nhánh:
- Sử dụng các đường cong sẽ giúp dễ ghi nhớ hơn.
- Kích cỡ: sắp xếp các ý chính ở các nhánh lớn; các thông tin chi tiết ở các
nhánh nhỏ dần.
- Trình bày 1 từ, 1 hình ảnh, 1 ý trên 1 nhánh. (độ dài của nhánh vừa đủ với
nội dung thông tin)
d. Hình ảnh minh họa:
- Hình thức đơn giản, mang tính chất minh hoạ, gợi nhớ.
- Sử dụng tranh ảnh, poster hoặc sticker
8 - Mầu sắc: mỗi nhánh trình bày 1 màu riêng biệt(dễ phân biệt tránh bị dối
mắt)
1. Biện pháp 1: Định hướng phương pháp học từ vựng một cách khoa
học thông qua lập sơ đồ tư duy.
Nội dung áp dụng: Từ Unit 1 đến Unit 11 sách tiếng Anh lớp 7 – Global
Success.
a. Cách thức tiến hành:
Giai đoạn 1: Mô phỏng (giáo viên hướng dẫn lập sơ đồ tư duy)
Gv hưỡng dẫn lập sơ đồ tư duy
Giai đoạn 2: Luyện tập thực hành cá nhân (học sinh thực hành lập SĐTD)
Các em miệt mài sáng tạo nội dung bài vừa học
9 Giai đoạn 3: Thu thập và trình bày kết quả (giáo viên thu thập bài và cùng
học sinh phân tích kết quả)
Sản phẩm của các em để ôn từ vựng
Học sinh tích cực chủ động trình bày sản phẩm của mình.
Giai đoạn 4: Đánh giá kết quả thực nghiệm.(GV cùng HS)
10 Giáo viên đánh giá biểu dương hs xuất sắc
b. Ưu điểm: SĐTD là phương pháp giúp HS ghi nhớ nhanh. Bởi sự kết hợp
giữa các từ khóa ở não trái và hình ảnh ở não phải giúp Hs tư duy toàn não. Điểm
cộng lớn nhất cho sơ đồ tư duy là giúp cho HS nâng cao khả năng ghi nhớ từ vựng,
tăng tính sáng tạo và tư duy khoa học. Sơ đồ tư duy là công cụ khá hoàn hảo giúp
HS phát huy tối đa năng lực tự giải quyết vấn đề và sáng tạo. Bởi sau khi tiếp thu
kiến thức trên lớp, HS sẽ tự gợi nhớ lại chủ đề đã được học và trình bày lại bằng
SĐTD. HS dễ dàng ghi nhớ được các từ vựng thông qua việc giải thích, trình bày,
sáng tạo thông qua các hình ảnh minh họa.
2. Biện pháp 2: Phát triển kỹ năng thuyết trình nhóm thông qua việc lập
sơ đồ tư duy.
Theo như nghiên của nhà tâm lí học Howard Gardner_ cha đẻ của “thuyết đa
trí tuệ”. Có 8 loại trí thông minh khác nhau, mỗi một cá nhân có một trí thông minh
khác nhau. Không phải tất cả các em trong cùng một nhóm lớp đều có khả năng
tương đồng nhau. Dựa theo hiểu biết, quan sát và đánh giá của cá nhân, tôi đã nhận
ra rằng việc liên kết, tạo các hoạt động nhóm nhằm phát huy tối đa khả năng của
mỗi học sinh trong nhóm đó để đạt mục tiêu học tập cao nhất.
Multiple intelligences
Nội dung áp dụng:
Unit 2: Healthy living . Skills 1 _ Speaking _ Activity 4 _ 5.
Unit 5: Food and drink . Skills 1_ Speaking _ Activity 4 _ 5
Unit 6: A visit to a school . Skills 1 _ Speaking _ Activity 3.
Uni 9: Festival around the world Skills 1 _ Speaking _ Activity 4.
Unit 10: Energy sources. Skills 1_ Speaking _ Activity 4 _ 5.
a. Cách thức tiến hành:
11 Giai đoạn 1: Thực nghiệm (HS thực hành lập SĐTD theo nhóm dựa theo quy
trình lập SĐTD)
Các em thảo luận cùng lập sơ đồ tư duy theo nhóm
Giai đoạn 2: Thuyết trình sản phẩm theo nhóm.
Học sinh thuyết trình theo nhóm
Giai đoạn 3: Thu thập và phân tích kết quả (GV thu thập bài và cùng HS
nhóm bạn phân tích kết quả)
12 Giai đoạn 4: Đánh giá kết quả thực nghiệm.(GV cùng HS)
b. Ưu điểm:
- Tăng cường kĩ năng hợp tác làm việc nhóm, từ đó giúp HS trao đổi nhằm
phát huy điểm mạnh của mỗi cá nhân.
- Phát huy năng lực tự nêu và giải quyết vấn đề nhằm kích thích khả năng
sáng tạo.
- Nâng cao kĩ năng giao tiếp giữa các cá nhân nhằm phát huy, bổ sung và hỗ
trợ lẫn nhau.
3. Biện pháp 3: Lập dàn ý để viết 1 đoạn văn ngắn bằng sơ đồ tư duy
Nội dung áp dụng:
Unit 1: Hobbies. Skills 2_ Writing _ Activity 4.
Unit 4: Music and arts. Skills 2_ Writing _ Activity 4.
Unit 7: Traffic . Skills 2_ writing _ Activity 4.
Unit 8: Films. Skills 2_ writing _ Activity 5.
Unit 11: Travelling in the Future. Skills 2_ writing _ Activity 5.
a. Cách thức tiến hành:
Giai đoạn 1: Học sinh đọc hiểu Sample mà giáo viên cung cấp
Giai đoạn 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng sơ đồ tư duy lập dàn ý
cho đoạn văn dựa vào việc phân tích sample.
Giai đoạn 3: Học sinh tự lập dàn ý cho bài văn.
Giai đoạn 4: Học sinh dựa vào dàn ý để viết 1 đoạn văn hoàn chỉnh
Giai đoạn 5: Thu thập sản phẩm và đánh giá(học sinh- học sinh; giữa giáo
viên với học sinh)
13 Thư khen học sinh
b. Ưu điểm:
- Học sinh không còn cảm thấy áp lực đối với kĩ năng viết mà trái lại các em
hứng thú với các hoạt động viết, một trong những kĩ năng thường gây nhàm chán
cho học sinh.
- Các em hệ thống được tổng thể những nội dung mình cần đưa vào bài viết
tránh thiếu ý, sót ý, phân chia lượng kiến thức giữa các ý đều nhau.
- Phát triển tư duy tự giải quyết vấn đề và lôgic của các em thông qua việc xử
lí thông tin. Bố cục tương thích với chủ đề, tránh lạc đề. Đảm bảo sự mạch lạc rõ
ràng trong từng câu từ.
IV. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CỦA SÁNG KIẾN
Khi làm chuyên đề này, tôi đã tiến hành thực nghiệm ở lớp 7A, tôi thấy rằng
sau thời gian áp dụng các phương pháp phát huy năng lực tự giải quyết vấn đề và
sáng tạo thông qua phương pháp sơ đồ tư duy cho học sinh đã tiến bộ rõ rệt rong
việc sử dụng ngôn ngữ này.
Qua quá trình giảng dạy, tôi sẽ tích lũy thêm kinh nghiệm, đồng thời luôn
luôn học hỏi đồng nghiệp, tự học và rèn luyện thường xuyên bằng cách:
- Tìm tòi nghiên cứu tài liệu tham khảo
- Áp dụng thường xuyên vào các tình huống khác nhau
14 - Chú ý tới cách học sinh hiểu và vẽ được sơ đồ tư duy theo nội dung yêu cầu
của bài học.
V. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN
Tôi nhận thấy, sau 18 tuần áp dụng những biện pháp lập sơ đồ tư duy trong
quá trình dạy và học, chất lượng học sinh lớp 7A(40 em) đã có những thay đổi rõ
dệt.
So sáng đánh giá kết quả trước và sau khi áp dụng sơ đồ tư duy
Thứ nhất, tất cả 40 học sinh đã nắm vững và áp dụng sơ đồ tư duy vào các
hoạt động học tập một cách linh hoạt. Các em học từ vựng không còn thụ động mà
đã tự chủ và tự sáng tạo trong khi học và ghi nhớ từ vựng. Sơ đồ tư duy giúp cho
các em một cái nhìn tổng quan nhất về nội dung bài học. Thông qua sơ đồ tư duy,
các em có thể ngay lập tức ghi nhớ được các chi tiết như nội dung chính, các vấn đề
xung quanh và các yếu tố trong từng vấn đề cụ thể.
Thứ hai, các em biết cách tóm tắt khái quát, chắt lọc từ khóa và lựa chọn
ngôn ngữ để diễn đạt thuyết trình một vấn đề. Hay nói các khác, các em biết các
liên kết các thông tin với nhau một cách có hệ thống, điều này giúp học sinh ghi
nhớ được nhiều thông tin, hình ảnh liên quan một cách nhanh chóng và khoa học
nhất. Từ đó, các em đã tự tin thuyết trình mà không còn lúng túng và e dè vì sợ
trình bày thiếu sự mạch lạc hệ thống.
Thứ ba, quá trình xây dựng sơ đồ tư duy sẽ yêu cầu não bộ phải vận dụng rất
nhiều kiến thức từ cách chắt lọc thông tin quan trọng, hình hóa thông tin văn bản,
cách thể hiện bằng biểu tượng, sử dụng màu sắc, cách liên kết các thành phần trong
15 sơ đồ giúp kích thích não bộ của học sinh phải tư duy nhiều. Từ đó, học sinh nắm
vững được các lập dàn ý trước khi viết một đoạn văn. Dẫn đến các em không còn bị
động trong kĩ năng viết. Học sinh được vừa học vừa chơi, tâm lý thoải mái, không
áp lực, buồn chán. Đó là một hình thức giảm tải mà không làm giảm yêu cầu cần
đạt được.
Tôi nhận thấy, sơ đồ tư duy chính là công cụ, là bí quyết để giúp cho học
sinh trung học cơ sở nhanh tiến bộ trong việc viết văn. Khi lập sơ đồ các em sẽ dễ
dàng nắm bắt được trọng tâm của đề bài, có thể tập trung suy nghĩ những chỗ khó,
dễ dàng hình dung bố cục của bài văn. Không những vậy, sơ đồ tư duy còn giúp
cho các em giải tỏa áp lực trong giờ học văn, khơi dậy năng khiếu viết văn, phát
triển khả năng tư duy, tạo cho các em thói quen tích cực suy nghĩ và cảm giác tự tin
khi viết văn, đồng thời mang đến cho các em niềm hứng thú thông qua biến những
kiến thức thành hình ảnh sống động theo sự sáng tạo của các em.
Sau quá trình áp dụng các biện pháp đổi mới này mà học sinh của tôi đã tự
tin, chủ động và tích cực để tham gia các cuộc thi HSG cấp huyện đạt được 2 giải
ba và 2 giải khuyến khích.
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN
Trên đây là bài viết về “Phát huy năng lực tự giải quyết vấn đề và sáng tạo
thông qua phương pháp sơ đồ tư duy cho học sinh lớp 7A” mà bản thân tôi đã áp
dụng trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học trong môn tiếng Anh tại lớp 7A
nhằm giúp các em học tốt bộ môn này hơn.
II. KIẾN NGHỊ
1. Đối với BGH nhà trường
Triển khai rộng rãi đến các khối 6, 7, 8, 9.
Tạo điều kiện để các giáo viên tham gia các lớp học tìm hiểu thêm về
phương pháp giảng dạy môn Tiếng Anh.
Trang bị thêm các đầu sách, băng đĩa, tài liệu về các phương pháp dạy học Tiếng
Anh để giáo viên có cơ hội tham khảo nghiên cứu phục vụ cho công tác giảng dạy.
Tạo điều kiện để giáo viên có điều kiện đi dự giờ trao đổi kinh nghiệm với
các giáo viên trường khác, dự các tiết dạy thi giáo viên giỏi cấp huyện, cấp tỉnh để
được học hỏi thêm.
2. Đối với phòng GD&ĐT thị xã Việt Yên
Mở một số lớp học về các chuyên đề vận dụng các phương pháp dạy học
trong dạy học Tiếng Anh.
16 Phòng Giáo dục cần thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn để
giáo viên các trường có cơ hội trao đổi đổi học tập kinh nghiệm. Làm giàu thêm
phương pháp dạy học tích cực và kiến thức bộ môn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng GD& ĐT thị xã Việt Yên, cảm ơn BGH
trường THCS Tiên Sơn, các bạn đồng nghiệp, tập thể học sinh lớp 7A của nhà
trường đã tạo điều kiện về mọi mặt để giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này. Trong
quá trình xây dựng nghiên cứu và triển khai đề tài này chắc chắn sẽ còn những
mặt hạn chế và thiếu sót. Vì vậy tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của hội
đồng khoa học và các bạn đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Tôi cam đoan những điều trên đây là sáng kiến của bản thân tôi viết, không sao
chép nội dung hoặc vi phạm bản quyền của người khác.
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Tiên Sơn, ngày 20 tháng 04 năm 2024
( Kí tên và đóng dấu) Người viết
Đỗ Thị Hoan
17 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC
THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN
SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: “Phương pháp sửa lỗi khi thực hành nói và viết tiếng Anh”
2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:
Thực hiện từ 15/9/2023
3. Các thông tin cần bảo mật: Không
4. Mô tả giải pháp cũ thường làm:
- Giáo viên chữa ngay trong quá trình học sinh đang nói hoặc giáo viên là người
trực tiếp sửa lỗi trong cả khi học sinh nói hoặc học sinh viết sai.
5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp.
- Sáng kiến này trước tiên giúp cho giáo viên không còn băn khoăn khi sửa lỗi cho
bài nói hoặc viết của học sinh.
- Thứ 2 giúp cho học sinh nói và viết Tiếng Anh hiệu quả, hạn chế mắc lỗi.
6. Mục đích của giải pháp sáng kiến:
- Nhằm đem lại hiệu quả dạy và học bộ môn đặc biệt hạn chế việc mắc lỗi
cho học sinh ở 2 kĩ năng nói và viết, và nâng cao chất lượng giáo dục, tạo hứng thú
học tập, niềm tin và tình cảm của học sinh được nâng cao. Làm cho các em yêu
thích bộ môn Tiếng Anh hơn.
- Hơn nữa, khi học sinh sử dụng tiếng Anh, dù là viết hay nói thì các em đều
muốn biết là mình có mắc lỗi nào trầm trọng hay không, do đó việc sửa lỗi là rất
cần thiết.
7. Nội dung
7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến
1. Sửa lỗi với kĩ năng nói
Đối với mỗi yêu cầu của giáo viên, không phải lúc nào học sinh cũng đáp ứng
được ngay. Vì vậy, khi học sinh lúng túng, giáo viên phải nhạy cảm nắm bắt, hiểu ý
muốn nói để chủ động sửa hoặc gợi ý cho các em nhằm mục đích cuối cùng là các
em biết vận dụng vào thực tế.
Chúng ta có thể tìm hiểu thêm thông qua hai tình huống khác nhau sau:
1.1. Giáo viên giúp học sinh tự sửa
18 Đây là phương pháp tốt nhằm tạo cơ hội cho học sinh phát huy tính chủ động
của mình khi sửa lỗi. Với phương pháp này, người giáo viên phải là người nghệ sĩ
tài ba vì phải linh hoạt sử dụng các kĩ năng về cử chỉ, điệu bộ hay những quy ước
sẵn có đối với học sinh của mình.
Ví dụ 1: Sử dụng ngữ điệu: sai về thứ tự từ
Teacher: Is he a hot boy?
Student: No. He is a teacher hot.
Trong trường hợp này, giáo viên có thể dùng ngữ điệu của mình để khiến cho học
sinh nhận ra chỗ sai và tự sửa lại.
Giáo viên có thể nhấn vào chỗ sai học sinh: “a teacher hot?”
Ví dụ 2: Sử dụng cử chỉ, điệu bộ: sai về thiếu từ- ngữ pháp
He gets up 6.00 “at” is missing
Giáo viên giơ bàn tay lên đếm:
1 2 3 4 5
He gets up . 6.00
Học sinh sẽ phát hiện ra từ thiếu khi giáo viên cầm 4 ngón tay số lắc lắc. Khi học
sinh sửa được rồi, giáo viên nhắc lại và làm cử chỉ điệu bộ rồi yêu cầu học sinh
nhắc lại cho đúng.
1 2 3 4 5
He gets up at 6.00
1.2. Kết hợp nhiều phương pháp khi sửa lỗi
Không có một phương pháp nào là vạn năng, là tối ưu nhất, mà điều quan
trọng là giáo viên phải biết kết hợp khéo léo các phương pháp với yêu cầu đặt ra
của từng loại, từng đối tượng học sinh, mức độ hiểu bài và không khí của lớp.
Những ý trên được minh họa bằng ví dụ sau:
Giáo viên đưa ra một đoạn văn trích một lá thư của An viết cho người bạn
của cô ấy.Yêu cầu học sinh đọc và trả lời câu hỏi. Đoạn văn có nội dung như sau:
“Dear Minh,
I was very glad to get your letter and to hear about all the things you are
doing. Thank you for sending me the photographs of the dolls. They are very
beautiful and I have added them to my collection.
I am sending you a few photographs of mine. Little doll with curly brown hair is a
new one I have been given on my 15th birthday anniversary. I hope you will like it.”
Giáo viên đặt câu hỏi: “What does An do?”
19 Trong những tình huống sau giáo viên sẽ làm gì?
a. Học sinh A trả lời: An collects the photographs of the dolls.
b. Học sinh B trả lời: She collects
c. Học sinh C không trả lời được vì không biết.
d. Học sinh D, một trong những học sinh yếu trả lời: Sho collecting photographs of
the dolls.
Dễ dàng nhận thấy rằng tất cả các câu trả lời trên, không có câu nào đúng.
Nhưng để học sinh tự sửa để có câu trả lời đúng thì giáo viên có thể đưa ra những
gợi ý sau:
Trường hợp a: Chấp nhận câu trả lời gần đúng hoặc gợi ý học sinh tự sửa.
Teacher: It’s nearly correct. Just “photographs of the dolls” she collects
Student: She collects photographs of the dolls.
Trường hợp b: Giáo viên ra hiệu bằng cử chỉ để chỉ ra câu nói đó chưa hoàn thành
hoặc nói:
Teacher: Yes, she collects but she collects what?
Nếu cần thiết, giáo viên có thể đặt câu hỏi đó cho học sinh khác trả lời, sau đó, học
sinh B sẽ nhắc lại câu trả lời đúng của bạn B.
Tóm lại, để sửa lỗi trong khi học sinh thực hành nói hiệu quả thì giáo viên
cần phải biết kết hợp vận dụng thường xuyên các phương pháp sửa lỗi một cách
linh hoạt, phù hợp với tình huống và lỗi sai nhất định, giáo viên cần chủ động điều
chỉnh để học sinh luôn phát huy được tính tích cực của mình trong học tập.
2. Sửa lỗi với kĩ năng viết
Chương trình học của học sinh thời gian gần đây đã được giảm tải rất nhiều.
Những yêu cầu về kiến thức với kĩ năng viết tiếng Anh cũng được đơn giản hóa.
Tuy nhiên, việc viết đúng vẫn được chú trọng, đó là đúng về ngữ pháp và chính tả
trong câu. Cũng như chữa lỗi trong kĩ năng nói, việc sửa lỗi sai khi viết cần mang
tính khích lệ, động viên. Điều đó có nghĩa rằng, sau những lần chữa và được chữa
lỗi, học sinh sẽ hạn chế mắc sai và đồng thời cũng rút ra được bài học và khắc sâu
hơn những điều cần ghi nhớ từ những chỗ sai đó.
2.1. Một số phương pháp chữa lỗi
2.1.1 Xác định trọng tâm cần sửa trước
Ở chương trình kì 1 tiếng Anh lớp 8, học sinh được học cấu trúc liên quan đến các
động từ yêu thích hay ghét ví dụ: “enjoy + V-ing”. Giáo viên yêu cầu học sinh lên
bảng đặt câu hỏi về em đó hoặc người khác thích làm gì bằng cách sử dụng cấu trúc
trên. Học sinh viết như sau:
20
File đính kèm:
phuong_phap_sua_loi_khi_thuc_hanh_noi_va_viet_tieng_anh_do_t.docx



