Một số giải pháp tạo dựng bầu không khí lớp học ấm áp trong công tác chủ nhiệm

docx28 trang | Chia sẻ: Thảo Hoa | Ngày: 29/01/2026 | Lượt xem: 19 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang mẫu tài liệu Một số giải pháp tạo dựng bầu không khí lớp học ấm áp trong công tác chủ nhiệm, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BẮC GIANG PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO SƠN ĐỘNG BÁO CÁO BIỆN PHÁP THAM GIA HỘI THI GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM GIỎI CẤP TỈNH CHU KỲ 2020 - 2024 Tên biện pháp: “MỘT SỐ GIẢI PHÁP TẠO DỰNG BẦU KHÔNG KHÍ LỚP HỌC ẤM ÁP TRONG CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM” Họ và tên: Thân Hương Trang Đơn vị công tác: Trường THCS Thị trấn An Châu – Sơn Động – Bắc Giang Sơn Động, tháng 02 năm 2024 2 MỤC LỤC PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ .....................................................................................3 PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ .....................................................................4 I. Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở trường THCS Thị trấn An Châu – Sơn Động – Bắc Giang. ................................................................................4 1. Ưu điểm .........................................................................................................4 2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế..................................................................4 2.1. Xã hội .....................................................................................................4 2.2. Giáo viên ................................................................................................5 2.3. Tâm sinh lý lứa tuổi................................................................................5 II. Các giải pháp và biện pháp thực hiện ......................................................6 1. Quan điểm về công tác tổ chức lớp chủ nhiệm tạo dựng bầu không khí lớp học ấm áp. .........................................................................................................6 2. Các giải pháp ................................................................................................6 3. Biện pháp tổ chức thực hiện..........................................................................6 3.1. Tìm hiểu về học sinh và gia đình học sinh .............................................6 3.2. Động viên, hỗ trợ HS khi các em gặp khó khăn và đang đối mặt với những thách thức trong cuộc sống. .............................................................10 3.3. Công nhận những cố gắng, sự thành công của học trò........................13 3.4. Thể hiện cho HS thấy rằng các em được tôn trọng ngay cả khi mắc lỗi. .....................................................................................................................15 3.5. Lắng nghe, xem xét sự việc từ quan điểm của HS................................17 3.6. Dành thời gian vui chơi cùng HS. ........................................................21 3.7. Xây dựng tập thể học sinh tự quản.......................................................21 PHẦN C. MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA GIẢI PHÁP.....................26 PHẦN D. CAM KẾT.........................................................................................26 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................27 BẢNG DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT......................................................28 3 PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ Trong xu thế hội nhập toàn cầu cùng với sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, GD&ĐT đóng vai trò ngày càng quan trọng, trở thành kim chỉ nam cho sự phát triển bền vững của mọi quốc gia, dân tộc. Công cuộc đổi mới đất nước hiện nay đòi hỏi phải đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo hướng “xây dựng nền tảng giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lí, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống GD&ĐT”; chuyển nền giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển năng lực và phẩm chất người học. Chính những đổi mới căn bản, toàn diện của GD&ĐT đã đặt GVCN trước những thách thức to lớn, đòi hỏi họ phải có trí tuệ và bản lĩnh để vượt qua, để khẳng định mình. Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, vai trò của GVCN có sự thay đổi căn bản, từ chỗ là người quản lý hành chính lớp học sang đóng vai trò của người chịu trách nhiệm chính trong “Phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh”. Với vai trò mới này, GVCN phải chăm lo sự phát triển toàn diện nhân cách của HS lớp mình phụ trách để các em không chỉ phát triển về trí năng mà còn được phát triển cả về thể năng và tâm năng; không chỉ được phát triển về mặt năng lực mà còn được phát triển cả về mặt phẩm chất. Trong nhà trường THCS công tác chủ nhiệm có vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng và duy trì nề nếp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh. Công tác chủ nhiệm quyết định không nhỏ đến chất lượng dạy và học. Đồng thời công tác chủ nhiệm còn có ý nghĩa rất lớn trong việc bồi dưỡng đạo đức và hoàn thiện nhân cách của HS. Công tác này đòi hỏi sự khéo léo, linh hoạt và nhiệt tâm của mỗi GV. Đặc biệt trong nhà trường, vai trò của người GVCN hết sức quan trọng. GVCN thay mặt nhà trường quản lý, điều hành lớp, trực tiếp giáo dục tư tưởng đạo đức, hình thành nhân cách cho học sinh, là cầu nối giữa ba môi trường giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội. Làm tốt công tác chủ nhiệm tức là người giáo viên đã hoàn thành tốt việc giảng dạy các bộ môn và tổ chức giáo dục, rèn luyện đạo đức cho học sinh.... Không phải GVCN nào cũng có được một phương pháp tốt để quản lý lớp học của mình, thậm chí có giáo viên còn tỏ ra lúng túng trong một số tình huống sư phạm. Thêm nữa, nhìn lại chặng đường đã qua của công tác giáo dục xã hội nói chung và các thầy cô giáo nói riêng, không khỏi băn khoăn về một số phương pháp quản lí lớp học trước đây tỏ ra thiếu hiệu quả, thậm chí còn gây tổn hại lâu dài và nặng nề về thể chất cũng như tinh thần của học sinh. 4 Ngày nay “trách nhiệm của GVCN không thay đổi nhiều nhưng vai trò, tính chất của GVCN thì ngày càng thay đổi”. Chính những thay đổi đó đã tạo ra thách thức đối với GVCN trường trung học nói chung, trường THCS nói riêng. Qua xác định được những yêu cầu, thách thức đối với GVCN để thấy rõ vai trò của người GVCN là cần biết chú trọng đến những biện pháp trong công tác chủ nhiệm lớp nhằm nâng cao chất lượng về mọi mặt của học sinh, cùng với kinh nghiệm nhiều năm làm công tác chủ nhiệm, tiếp xúc với nhiều đối tượng học sinh. Tôi nhận thấy giải pháp để đạt được hiệu quả tốt trong công tác giảng dạy cũng như công tác chủ nhiệm là tạo dựng một bầu không khí lớp học ấm áp. Sau đây Tôi xin phép được chia sẻ “Một số giải pháp tạo dựng bầu không khí lớp học ấm áp trong công tác chủ nhiệm” mà tôi đã thực hiện trong quá trình làm công tác chủ nhiệm những năm học vừa qua tại trường THCS Thị trấn An Châu – Sơn Động – Bắc Giang nơi tôi đang công tác và giảng dạy. PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở trường THCS Thị trấn An Châu – Sơn Động – Bắc Giang. 1. Ưu điểm Trường THCS Thị trấn An Châu là trường Trung tâm của huyện Sơn Động, hàng năm đều đạt được nhiều thành tích về chất lượng giáo dục cũng như các phong trào thể dục thể thao, văn nghệ, uy tín của nhà trường được nâng cao, phụ huynh an tâm, tin tưởng vào sứ mệnh giáo dục của nhà trường. Đạt được những thành tích đó chính nhờ vào sự tâm huyết, yêu nghề và công hiến của lực lượng giáo viên bộ môn và đặc biệt sự góp phần của GVCN phát huy tốt vai trò của mình trong công tác giáo dục đạo đức, lối sống, rèn ý thức tự học cho học sinh. Học sinh đa số là con em cán bộ, công chức, viên chức có ý thức tương đối tốt trong việc thực hiện nội quy nề nếp cũng như học tập. Đa số phụ huynh học sinh dành nhiều thời gian, công sức đặc biệt quan tâm, thường xuyên phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong việc rèn luyện ý thức, đạo đức cho con em mình. Trường tổ chức nhiều buổi hoạt động tập thể giúp học sinh được trải nghiệm trong ứng xử, giao tiếp, các em được tích lũy nhiều kỹ năng sống. Cơ sở vật chất tương đối đầy đủ đảm bảo cho việc dạy và học cũng như tổ chức các hoạt động tập thể. 2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế 2.1. Xã hội Sự phát triển của xã hội, phát triển của công nghệ luôn mang lại những ưu điểm không thể phủ nhận, làm cho đời sống vật chất tinh thần của người dân được 5 nâng cao nhưng đi cùng với sự phát triển đó sẽ kéo theo là những mặt trái, những cái xấu của xã hội đang len lỏi vào đời sống làm cho nhân cách đạo đức bị suy thoái, làm cho lý trí của con người bị lu mờ. Nhiều phụ huynh mải miết với công việc, chăm lo về kinh tế gia đình mà quên đi trách nhiệm với con, phó mặc việc giáo dục trẻ cho nhà trường và thầy cô giáo. 2.2. Giáo viên - Giáo viên làm công tác chủ nhiệm vẫn còn thụ động, chạy theo đuôi các vụ việc, chưa thật sự tâm huyết, sáng tạo, linh hoạt trong công tác, lệ thuộc vào nhắc nhở, chỉ đạo của ban giám hiệu nhà trường, trông chờ, ỷ lại, chưa thể hiện sự chủ động của mình trong công tác chủ nhiệm. - Nhận thức của một số giáo viên về vai trò công tác chủ nhiệm chưa toàn diện. Không rõ ràng về các quy định của lớp cũng như các qui định của chính bản thân họ và của các giáo viên khác. Thường bỏ qua những vi phạm nhỏ các qui định của lớp học để sau này chúng trở thành những vấn đề lớn hơn. - Một số ít GVCN chưa tạo điều kiện thuận lợi để các em tự giác, chủ động, tích cực gây dựng niềm tin, động lực để có ý thức quyết tâm tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu trở thành người tốt. - Giáo viên chưa tìm hiểu và nắm rõ đặc điểm tình hình lớp, học sinh cũng như gia đình học sinh. - Chưa biết lập kế hoạch giáo dục cho năm học phù hợp với đặc điểm tình hình lớp. - Công tác chủ nhiệm lớp của 1 số giáo viên chưa đạt được hiệu quả: Chất lượng học tập chưa cao, học sinh chưa chăm chỉ học tập, ý thức đạo đức của nhiều em chưa tốt, các em chưa phát huy hết năng lực bản thân; nhiều em nhút nhát, rụt rè, kĩ năng giao tiếp còn nhiều hạn chế, 2.3. Tâm sinh lý lứa tuổi Trường THCS là cơ sở GDPT thực hiện nhiệm vụ GD&ĐT HS từ lớp 6 đến lớp 9 có độ tuổi từ 11 đến 15. Đây là lứa tuổi “dậy thì” - giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành, là lứa tuổi được các nhà tâm lí học đặt cho nhiều tên gọi như: “thời kì quá độ”, “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất trị”, “tuổi nổi loạn” Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành) tạo nên nội dung cơ bản và sự phát biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức, HS có nhu cầu mạnh mẽ khẳng định bản thân, thường khó kiềm chế cảm xúc và hành vi, có thể dẫn đến những lời nói và hành động bạo lực trong giao tiếp ứng xử, ảnh hưởng xấu đến mối quan hệ với người thân, thầy cô và bạn bè. 6 II. Các giải pháp và biện pháp thực hiện 1. Quan điểm về công tác tổ chức lớp chủ nhiệm tạo dựng bầu không khí lớp học ấm áp. Nhà sư phạm lỗi lạc A.X. Makarencô cho rằng: “Tập thể lớp là một cơ thể xã hội sinh động thể hiện sức mạnh tổng hợp của các thành viên của nó. Sức mạnh của các thành viên một khi đã được liên kết lại một cách có mục đích, có tổ chức thì sẽ tạo ra sức mạnh chung của tập thể mạnh gấp nhiều lần tổng số sức mạnh của các thành viên riêng lẻ, đồng thời lại có tác dụng làm tăng thêm sức mạnh của các thành viên riêng lẻ”. Vì vậy, muốn tổ chức tốt công tác giáo dục học sinh, GVCN phải chăm lo tổ chức, xây dựng lớp thành một tập thể đoàn kết, nhất trí, biết tự quản lí các công việc của tập thể lớp, với phương châm “quyền lợi và trách nhiệm phải đi đôi với nhau” để đảm bảo mọi hoạt động của lớp được thực hiện một cách nhất quán, công bằng và hiệu quả. “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui” đã trở thành khẩu hiệu quen thuộc của mỗi nhà trường, đây cũng là mục tiêu mà ngành Giáo dục hướng tới trong quá trình xây dựng "Trường học hạnh phúc". Trong bầu không khí lớp học ấm áp, học sinh sẽ cảm thấy được hỗ trợ, thoải mái và sẽ có động lực học tập; HS chắc chắn sẽ có tinh thần hợp tác nhiều hơn và có ít đi những hành vi “có vấn đề”. Bầu không khí ấm áp làm tăng hoạt động học, khuyến khích sự hợp tác, HS có thể hiểu và nắm được các kiến thức, giá trị một cách lâu dài. 2. Các giải pháp 2.1. Tìm hiểu về học sinh và gia đình học sinh. 2.2. Động viên, hỗ trợ HS khi các em gặp khó khăn đối mặt với những thách thức trong cuộc sống. 2.3. Công nhận những cố gắng, sự thành công của học trò. 2.4. Thể hiện cho HS thấy rằng các em được tôn trọng ngay cả khi mắc lỗi. 2.5. Lắng nghe, xem xét sự việc từ quan điểm của HS. 2.6. Dành thời gian vui chơi cùng HS. 2.7. Xây dựng tập thể học sinh tự quản. 3. Biện pháp tổ chức thực hiện 3.1. Tìm hiểu về học sinh và gia đình học sinh “Hiểu hoàn cảnh, tăng tương tác” Dù trong lớp có nhiều hay ít học sinh thì thử thách đối với mỗi GVCN là khả năng và nỗ lực tìm hiểu rõ về từng HS của mình. Chúng ta cần nhớ rằng, mỗi HS là một cá thể. Mỗi cá nhân các em lại có hoàn cảnh sống, xuất thân khác nhau, 7 có phản ứng khác nhau đối với việc học tập và tìm hiểu từ thế giới bên ngoài, có ước mơ khác nhau cho tương lai. GVCN muốn giáo dục HS hiệu quả thì phải hiểu HS. Để hiểu HS, GVCN phải có hệ thống trí thức về tâm lý, sinh lý lứa tuổi, hiểu những vấn đề xã hội liên quan đến HS. Bằng việc dành thời gian tìm hiểu về học sinh và gia đình để biết được đặc điểm cũng như tìm hiểu về sức học và hoàn cảnh của từng em để có biện pháp phù hợp, nhằm giúp các em phát huy các năng lực sở trường đã có sẵn và ngăn chặn những hành vi không tốt xảy ra trong năm học mới. Ngay khi nhận lớp chủ nhiệm, tôi suy nghĩ làm thế nào để nhớ tên học sinh nhanh nhất, hiểu các em nhanh nhất. Việc đầu tiên tôi làm là tìm hiểu học sinh và làm quen với HS bằng cách giới thiệu, chia sẻ tất cả các thông tin về bản thân mình với các em HS từ đó cũng yêu cầu các em lần lượt chia sẻ thông tin về bản thân các em (họ tên, nơi ở, thành viên gia đình, sở thích, ) để cô – trò, các bạn trong lớp làm quen và hiểu nhau hơn. Tôi cố gắng nhanh chóng nắm được tâm lý từng em để có biện pháp giáo dục tích cực, giúp học sinh khắc phục điểm yếu, phát huy mặt mạnh. Sau đó trong quá trình các em học tập và rèn luyện tôi chia sẻ thông tin của HS mà mình có được với GVBM, khuyến khích các thầy cô tham khảo để phối hợp và có phương pháp giáo dục phù hợp cùng tạo dựng bầu không khí lớp học ấm áp. Hình ảnh tập thể lớp chủ nhiệm các năm học Tập thể lớp 8A1 – năm học 2019 – 2020 8 Cô và trò lớp 6A1 – năm học 2020 - 2021 Tập thể lớp 7A1 – năm học 2021 – 2022 Tập thể lớp 8A1 – năm học 2022 - 2023 9 Việc xây dựng mối quan hệ tích cực giữa GV và HS giúp ngăn ngừa những hành vi xử sự sai lệch của HS, sự quan tâm, tham gia và đồng lòng giữa phụ huynh và GVCN là điều không thể thiếu. Bất kỳ gia đình có hoàn cảnh thế nào thì từ trong sâu thẳm suy nghĩ của các bậc làm cha mẹ đều mong sự tốt đẹp cho con mình. Tôn trọng và bao dung với HS, đồng cảm với phụ huynh, chắc chắn phụ huynh sẽ đồng hành tốt cùng nhà trường trong việc giáo dục HS. Để tạo mối quan hệ gắn kết với PHHS tôi thường xuyên liên lạc, trao đổi (qua zalo, điện thoại, gặp gỡ trực tiếp), kịp thời thông báo cho phụ huynh biết những thành tích nổi bật trong học tập, những việc làm tốt của học sinh để PHHS kịp thời khen ngợi con em mình. Đặc biệt là đối với các em HS có những hành vi, biểu hiện bất thường tôi chủ động trao đổi với phụ huynh để tìm hiểu hoàn cảnh của các em từ đó đưa ra những góp ý, chia sẻ để giúp các em HS có thái độ tích cực và cách xử sự đúng đắn hơn, giúp các em học tập chuyên cần hơn, đạt kết quả học tập tốt hơn. Việc cập nhật thông tin của con em luôn là mối quan tâm hàng đầu của các bậc cha mẹ. Ngay từ buổi họp phụ huynh học sinh đầu năm, chúng tôi đã cùng nhau thảo luận và đi đến thống nhất những tiêu chí để xếp loại năng lực, phẩm chất, những biện pháp phối hợp giữa nhà trường và gia đình để giáo dục học sinh. Bằng sự quan tâm và sự hiểu biết về hoàn cảnh của HS tôi đã nhận được sự đồng tình ủng hộ rất cao từ phía các bậc PHHS, họ sẵn sàng lắng nghe những nhận xét, phản hồi khác nhau về con em mình và cùng phối hợp với GVCN, nhà trường để đưa ra biện pháp giáo dục tốt nhất. Phối hợp với PHHS tổ chức cho các em HS lớp 7A1 (2021 – 2022) đi báo công tại đền Xương Giang – TP Bắc Giang 10 Phối hợp với PHHS tổ chức cho các em HS lớp 8A1 (2022 – 2023) đi trải nghiệm tại Thiên Đường Bảo Sơn – Hà Nội. 3.2. Động viên, hỗ trợ HS khi các em gặp khó khăn và đang đối mặt với những thách thức trong cuộc sống. “Hãy vui cùng thành tích nhỏ bé của học trò và hãy chia sẻ những thất bại của các em” GVCN vừa là thầy vừa là bạn của học trò. Trong lớp học, GVCN là người để các em noi theo. Cách hành động, suy nghĩ, cư xử của GV sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến quan niệm của học sinh và phụ huynh về giáo viên. Bên cạnh đó GVCN phải biết thông cảm và chia sẻ những khó khăn, vướng mắc của các em đang gặp phải, nhất là đối với đối tượng học sinh chưa ngoan. Trả lời những câu hỏi của các em một cách thấu đáo. Hỏi các em về những khó khăn trong đời sống, những khó khăn ở trường... giúp các em giải quyết những khó khăn này. Trong lớp học hay ngoài lớp học, thầy cô còn phải đóng vai người anh, người chị mà các em có thể tin tưởng, nhờ cậy được. Qua đó, các em sẽ biết sống nhẫn nại, kiên trì và giàu lòng nhân ái. Ngoài ra mỗi GVCN cần phải học hỏi, trau dồi kinh nghiệm, vốn sống, năng lực chủ nhiệm luôn được nâng cao. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, quan tâm đến tất cả các hoạt động của học sinh lớp mình chủ nhiệm. Đặc biệt quan tâm nhiều đến các HS yếu kém, cá biệt, HS có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt. 11 Tìm hiểu hoàn cảnh của HS để có hình thức động viên phù hợp Điều gì cần thiết đối với các HS ở trong lớp? Câu trả lời đó chính là sự động viên. Đây là điều mà tất cả HS luôn cần đến. Trong học tập cũng như trong cuộc sống HS gặp vô vàn những khó khăn, thách thức mà các em phải đối mặt (VD: Không thể học được môn tiếng Anh, khó khăn trong giao tiếp với bạn bè, tự ti, xấu hổ về bản thân, ). Nỗi lo lắng thất bại nếu như không kìm lại kịp thời sẽ gây ra nhiều hậu quả bất lợi đối với HS về cả tinh thần lẫn kết quả học tập. Khi đối mặt với những khó khăn như thế, thầy cô là người có khả năng giúp cho học trò của mình vượt qua chúng. Chỉ với những lời động viên nho nhỏ thôi cũng giúp tâm lý của HS có chuyển biến tích cực hơn. Câu chuyện thứ nhất: Năm học 2019 – 2020 Tôi được phân công chủ nhiệm lớp 8A1, Bảo An (tên nhân vật đã được thay đổi) là 1 HS rất ngoan nhưng lại gặp khó khăn về mặt ngôn ngữ nói (có thể coi là một dạng khuyết tật), em thường hay mặc cảm và tự ti về mặt hạn chế của bản thân mình, thường tự tách mình ra khỏi tập thể lớp và rất ít khi cười, mặc dù các thầy cô và bạn bè không một ai có ý nghĩ, thái độ coi khinh, cô lập bạn. Bản thân mới nhận nhiệm vụ làm công tác chủ nhiệm tôi đã gặp không ít khó khăn trong việc cố gắng giúp An hòa đồng với bạn bè, tôi đã tìm hiểu và thông qua gia đình, các thầy cô giáo bộ môn cũng như các bạn trong lớp tôi biết được rằng dù có khiếm khuyết về ngôn ngữ nói nhưng An lại vẽ rất đẹp, rất thích nấu ăn và nấu rất ngon, An luôn luôn cố gắng để học tập thật tốt. Biết được ưu điểm của An, tôi thường gần gũi, tâm sự, chia sẻ, động viên em đồng thời nhờ các thầy cô giáo bộ môn quan tâm, khuyến khích em tham gia các hoạt động, các cuộc thi để em có cơ hội thể hiện, khẳng định bản thân mình. Sau một thời gian tôi đã nhìn thấy những nụ cười vui vẻ trên môi em, đã thấy em vui đùa bên bạn bè. Mẹ em đã từng nói với tôi rằng: “Chỉ có cô Trang mới làm An cười, và chỉ cô Trang mới bảo An chụp ảnh cùng được”. Có lẽ đây là sự thành công lớn nhất của tôi trong công tác chủ nhiệm. Đến bây giờ khi đã học đến lớp 12, vào những ngày lễ lớn An và các bạn lớp 8A1 ngày ấy vẫn cứ đến nhà, vẫn cứ đùa vui không có khoảng cách cô – trò mà chỉ giống như những người bạn lâu ngày gặp lại và hơn cả tôi luôn thấy trên môi An là nụ cười thật tươi. 12 Một số hình ảnh An và các bạn Vui đùa cùng các bạn Cùng các bạn về thăm cô Cùng các bạn về thăm lại trường An (đứng thứ 4 hàng đầu từ phải sang trái) cười thật tươi khi chụp ảnh cùng cô và các bạn trong buổi tổng kết năm học 13 3.3. Công nhận những cố gắng, sự thành công của học trò. “Tri thức bắt đầu từ niềm tin của học trò” Để đổi mới toàn diện giáo dục, tạo nên lớp học hạnh phúc cho học trò thì cần sự đổi mới từ mỗi người thầy. Người thầy phải biết làm mới mình, chấp nhận cái mới, khuyến khích cái mới. Người thầy cần nâng cao chính mình bằng tri thức, kỹ năng và bản lĩnh, nhưng biết “hạ” mình khi cần thiết để có thể lắng nghe, chia sẻ và làm bạn với học trò. Học sinh sẽ hình thành những suy nghĩ, tình cảm tốt đẹp, tiếp nhận tri thức và phấn đấu học tập tốt hơn khi có sự khích lệ và niềm tin từ người thầy. Chính vì vậy, gây dựng niềm tin với học trò không chỉ là phương pháp giáo dục hiệu quả, mà còn giúp học sinh cảm nhận niềm vui, hạnh phúc mỗi ngày đến trường. Gây dựng niềm tin với học trò – đó là điều không hề đơn giản, đặc biệt khi các em không cảm nhận được sự quan tâm, chia sẻ thực lòng từ người thầy thì hành trình giáo dục càng trở nên khó khăn hơn. Có thể nói gây dựng niềm tin với học sinh là một trong những bí quyết giáo dục tạo nên không khí lớp học ấm áp. Từ sự tin tưởng vào thầy cô sẽ giúp học trò tin tưởng vào năng lực của mình. Những lời uốn nắn của thầy cô có sức mạnh thuyết phục và sự chuyển hóa nhanh chóng theo chiều hướng tích cực ở HS. Các em sẽ hợp tác, chia sẻ và đồng hành cùng người thầy. Tôi luôn hướng học sinh đến 5 tự: Tự tin, tự trọng, tự học, tự chủ và tự chịu trách nhiệm và gieo cho học sinh đó một niềm tin rằng: “Em có thể làm được” hoặc “Em sẽ làm được”. Chỉ khi học trò có niềm tin vào chính mình, tin vào thầy cô mới có động cơ để thay đổi. Và một điều hết sức quan trọng là giáo viên phải kiên trì và nhẫn nại bởi không có học sinh nào có khó khăn mà thay đổi trong một sớm một chiều. Quá trình thay đổi phải có thời gian, phải đi từ nhận thức đúng rồi đến điều chỉnh hành vi đúng và từ đó phải rèn luyện để trở thành một thói quen. Câu chuyện thứ 2: Năm học 2022 – 2023 tôi được phân công tiếp tục làm GVCN lớp 8A1. Ngọc Quang Huy là HS phải chuyển sang lớp 8A2 do năm học 2021 – 2022 em chỉ đạt danh hiệu HS tiên tiến, không đủ điều kiện để ở lại lớp 8A1. Quang Huy là một HS ngoan ngoãn, có ý thức tuy nhiên em thường sống khép kín, ít giao tiếp và chưa thực sự hòa đồng với bạn bè. Khi biết tin mình không được tiếp tục học cùng lớp với các bạn em đã rất buồn và hụt hẫng, mấy ngày đầu của các buổi tập trung năm học mới em gần như tách mình ra khỏi các bạn, không vào lớp mà chỉ ngồi thu mình ở ghế đá. Bằng tình cảm của GVCN cũ tôi đã xin với BGH nhà trường tạo điều kiện cho Huy được trở lại lớp 8A1 và hứa sẽ động viên Huy phấn đấu học tập, thay đổi bản thân đồng thời gặp gỡ riêng, nhẹ nhàng nói chuyện với Huy để em biết mình phải cố gắng, phải thay đổi như thế nào để 14 không phụ niềm tin, sự kỳ vọng của thầy cô, bạn bè và gia đình. Tôi đã nói với Huy rằng: “Em đang không bằng các bạn vì xuất phát điểm của em khác các bạn, chính vì thế em cần phải cố gắng nhiều hơn nữa và cô tin em sẽ làm được!”. Bằng sự cố gắng không mệt mỏi, Huy đã có sự thay đổi tích cực hàng ngày, em đã hòa đồng với bạn bè hơn, đã biết vui đùa cùng các bạn trong các giờ ra chơi, giờ hoạt động ngoại khóa và cuối năm em đã đạt danh hiệu “Học sinh giỏi”. Quang Huy (đeo kính) vui vẻ trao đổi bài với các bạn trước khi vào học Quang Huy (đứng thứ 4 từ trái qua phải) cùng các bạn nhận giấy khen danh hiệu “Học sinh giỏi” năm học 2022 – 2023 Dạy cũng là cách học. Học trò có niềm tin với thầy cô, cảm nhận sự hào hứng với trường lớp thì sự sáng tạo và tinh thần nhiệt huyết sẽ mạnh mẽ và dễ bộc lộ hơn. Khi đó những ý tưởng của thầy cô cùng với “gia vị” mà học trò “nêm vào” sẽ thúc đẩy người giáo viên không ngừng học hỏi, sáng tạo để đáp ứng sự tin tưởng của HS. Nếu không có niềm tin giữa thầy và trò thì khó có được sự hợp tác trong hành trình giáo dục. Trong quá trình xây dựng trường học hạnh phúc, tạo dựng không khí lớp học ấm áp, việc gây dựng niềm tin với học trò của mỗi người thầy là vô cùng cần thiết và quan trọng. 15 3.4. Thể hiện cho HS thấy rằng các em được tôn trọng ngay cả khi mắc lỗi. “Tôn trọng học sinh để đạt hiệu quả giáo dục cao hơn” GVCN không chỉ là người truyền thụ kiến thức mà còn là người gắn kết tập thể lớp, là cầu nối giữa nhà trường, thầy cô với phụ huynh và học sinh. Những năm mới vào ngành tôi đã được nhà trường phân công làm công tác chủ nhiệm. Đó là nhiệm vụ không dễ dàng gì với cô giáo trẻ về cả tuổi đời lẫn kinh nghiệm sư phạm và các mối giao tiếp. Với áp lực đó, tôi đã từng ép bản thân nghiêm khắc, áp đặt với học sinh. Ví dụ, việc học sinh nghịch ngợm, vi phạm nội quy trường lớp là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, tôi đã rất nguyên tắc, chỉ biết “cấm” học sinh, buộc các em thực hiện một cách máy móc. Và với cách quản lý này, học sinh có thể làm theo nhưng âm thầm tỏ thái độ đối kháng. Sau này, tôi cũng nhận ra cái sai của mình và tôi đã bắt đầu điều chỉnh, ứng xử với học sinh như “bạn với bạn”. Khi việc thực hiện nề nếp của lớp không tốt, tôi chỉ nhắc chung. Sau đó, gặp riêng từng em vi phạm để tìm hiểu lý do và giải quyết. Cách mà tôi làm khi học sinh mắc lỗi là thay vì xử phạt công khai trước trường, lớp, tôi giữ bí mật với nhiều lỗi lầm của học sinh - điều đó không có nghĩa bao che. Đơn giản chỉ để chọn ra phương pháp giáo dục phù hợp nhất và hướng tới đích cuối cùng là giáo dục hiệu quả. Mỗi khi HS có lỗi, tôi gọi riêng học trò ra cùng to nhỏ phân tích, tìm cách giải quyết. Nếu nhận thức được vấn đề HS sẽ tự điều chỉnh là chính. Tôi không biến sự việc trở nên to tát hơn, bởi khi bị xử lý “thẳng tay” và công khai khi chưa cần thiết sẽ khiến học trò xấu hổ mà nảy sinh tâm lý đối phó. Với phương pháp giáo dục này HS sẽ tránh được cảm giác xấu hổ trước nhà trường, bè bạn đồng thời cảm nhận được sự tin cậy với cô giáo và từ đó tiến bộ. Với cách giáo dục gieo niềm tin đến học trò nên không ít HS chưa ngoan đã được tôi cải biến. Nhiều HS từng được xếp vào diện “đặc biệt” ở trường lớp đến nay đã có sự tiến bộ rõ rệt và đạt được nhiều thành tích cao trong học tập. Đối với các thầy cô giáo dù có kinh nghiệm dạy học dày dặn, thì mỗi ngày lên lớp đối với GVCN là những tình huống chưa từng có trong sách vở. “Có rất nhiều câu chuyện các em không thể chia sẻ với bố mẹ, với bạn bè nhưng lại chia sẻ riêng với GVCN. Đối với giáo viên điều đó là niềm hạnh phúc, bởi được các em tin tưởng, gửi gắm. Câu chuyện thứ 3: Trong năm học 2022 – 2023, một PHHS gọi điện chia sẻ và nhờ tôi nói chuyện, tâm sự với con của họ vì họ tình cờ đọc được nhật ký của con mình, trong nhật ký có viết rằng “Con ghét bà! Ghét mẹ! vì bà, mẹ không giờ công nhận những gì con đã làm mà chỉ biết mắng, chửi và so sánh con với 16 người khác Nhiều lúc con muốn mình chết đi!...”. Tôi đã rất bất ngờ khi nhận được chia sẻ của PH, bởi vì em đó là một HS rất ngoan, có ý thức học tập, rèn luyện tốt. Mượn lí do tuần học đó HS có mắc lỗi đi học muộn và không chú ý học bài, Tôi đã gọi riêng em ra hỏi lí do tại sao mắc lỗi và dần dẫn dắt câu chuyện để em HS mở lòng và em đã kể hết những bức xúc, những buồn bực trong lòng giống như những gì em đã viết trong nhật kí (theo lời kể của PH), Tôi cũng đã kể câu chuyện của chính bản thân mình cho em nghe (Tôi cũng đã từng rất “ghét” bố của mình – ông là một người rất nghiêm khắc đối với tôi, tôi từng ước tôi không phải là con của ông mà là con của người khác vì người đó rất chiều chuộng, yêu thương tôi chứ không nghiêm khắc như ông thế rồi khi lớn lên và trưởng thành tôi nhận ra rằng: Tôi có được như ngày hôm nay chính là nhờ có sự nghiêm khắc đó!). Cô và trò đã có một khoảng thời gian để tâm sự, chia sẻ cởi mở và kết quả sau buổi nói chuyện ấy là sự vui vẻ trở lại của HS, ngay sau đó tôi nhận phản hồi tích cực từ phía PHHS rằng em HS đó đã không còn có suy nghĩ tiêu cực nữa, đã hiểu và yêu thương bà, mẹ mình hơn. Với kinh nghiệm 14 năm công tác trong ngành, đã cho tôi cách nhìn nhận thấu đáo hơn trong đánh giá học trò. Một lớp học bao giờ cũng có học sinh cá biệt, có thế mạnh, điểm yếu riêng. Nhưng tôi quan niệm “có thể các em “cá biệt” nhưng không có học sinh hư”. Theo cá nhân tôi học sinh cá biệt cũng cần phải được tôn trọng như những học sinh khác. Nhưng GVCN cũng phải có cách tiếp cận một cách “cá biệt”, phù hợp. Thay vì ác cảm, hãy hiểu rằng lứa tuổi học trò có nhiều bất ổn tâm sinh lý, dễ tổn thương, cần tâm sự nhiều hơn, khích lệ nhiều hơn. Có như vậy, các em mới dần mở lòng và xóa bỏ khoảng cách. Ở lứa tuổi THCS, học sinh đã bắt đầu định hình và bộc lộ cá tính của mình. Các em muốn được thể hiện, khẳng định mình, và được sự công nhận từ những người xung quanh. Vì vậy, nếu HS có lỗi nhưng gia đình, thầy cô trách móc, nhắc lại sai lầm của các em nhiều lần, thì dễ nảy sinh ra tâm lý phản kháng tiêu cực. Khi giáo viên tôn trọng học trò, cho các em cơ hội được giãi bày, tháo gỡ khó khăn, thì ngược lại cũng yêu cầu học trò phải có cư xử phù hợp. Tôi vẫn nói “cô tôn trọng các em, và mong các em cũng tôn trọng cô”. Sự tôn trọng lẫn nhau giữa cô và trò, coi nhau như bạn, không làm giáo viên mất đi sự tôn nghiêm, vai trò và vị thế. Người thầy, cô trong mắt học trò lại càng được yêu quý, nể trọng hơn”. Câu chuyện thứ 4: Năm học 2019 - 2020 tôi được phân công làm GVCN lớp 8A1 – là một trong những lớp chất lượng cao của trường THCS Thị trấn An Châu, các em HS đa số là học giỏi, ngoan ngoãn nhưng có 1 em HS trong quá trình tìm hiểu, quan sát cũng như nghe phản ánh từ các thầy cô bộ môn thì em đó là một HS “hư”, không tôn trọng thầy cô, thường có phát ngôn, hành vi mang tính 17 chống đối (đặc biệt là đối với cô giáo dạy môn Âm nhạc) làm lớp thường xuyên bị trừ điểm sổ đầu bài. Tôi đã tìm hiểu và biết rằng sở dĩ em ấy có thái độ như vậy là vì em không biết hát, hát không hay không thích môn học và cô giáo bộ môn có yêu cầu quá cao đối với em ấy. Sau khi tìm hiểu và biết được nguyên nhân tôi đã gặp riêng HS, nhẹ nhàng hỏi chuyện, phân tích để em tự nhận thức, nói ra suy nghĩ về hành động của mình sai ở đâu? Vì sao sai? Tôi không cần HS nói ra lời hứa thay đổi, sửa chữa tức thì, mà chỉ động viên và trao tới HS sự tin tưởng em sẽ tiến bộ trong thời gian tới. Thời gian sau của năm học em HS đã có sự thay đổi tích cực, không còn có thái độ chống đối, nghiêm túc học tập và đạt được sự công nhận của giáo viên bộ môn. 3.5. Lắng nghe, xem xét sự việc từ quan điểm của HS “Hiểu và lắng nghe học sinh – Vũ khí bí mật của giáo viên” “Lắng nghe học sinh nói để xây dựng môi trường học đường thân thiện” Mỗi GV nói chung, GVCN nói riêng hãy trở thành “Nhà giáo dục biết lắng nghe”. Trong cuộc sống, biết lắng nghe người khác là một kỹ năng cần phải có đối với mỗi người khi giao tiếp. Còn trong môi trường sư phạm, lắng nghe học sinh là một yếu tố vô cùng quan trọng để giữa thầy và trò luôn có sự đồng cảm, chia sẻ, cảm thông lẫn nhau. Từ đó, môi trường sư phạm luôn có năng lượng tích cực, tạo động lực cho việc dạy và học gặt hái nhiều hiệu quả hơn. Một số vụ việc đáng tiếc xảy ra gần đây trong nhà trường, theo tôi phần nào lỗi là do GV chưa gần gũi, chưa biết lắng nghe, chưa có sự tương tác, hợp tác và chưa có niềm tin lẫn nhau giữa thầy và trò. Một lời tâm sự, một cử chỉ thân mật, yêu thương, người thầy có thể hóa giải nhiều tình huống sư phạm một cách êm đẹp, có tình, có lý và tâm phục khẩu phục. Nhiều học sinh đã có những trải nghiệm không mấy thú vị trong trường vì chúng cảm thấy thầy cô không lắng nghe chúng. Tất cả học sinh đều xứng đáng được lắng nghe, được chia sẻ. Đó là sức mạnh và là công cụ hiệu quả để kết nối giáo viên và học sinh, tạo dựng không khí lớp học ấm áp. Muốn giáo dục nhân cách tốt cho học sinh, thầy cô phải có phẩm chất và năng lực sư phạm tốt. Không nên áp đặt mà hãy thực sự tôn trọng, lắng nghe để thấu hiểu tâm lý của các em. Thời gian qua, tất cả những chuyện xảy ra ở trường này, trường kia, những căng thẳng giữa thầy cô và học trò kéo dài hay các vụ bạo lực học đường đều có một phần nguyên nhân từ lối giáo dục quyền uy, áp đặt từ người thầy. Thầy cô luôn cho là mình đúng, có người còn khó chịu với những thắc mắc, tranh luận của học sinh, không hiểu tâm sinh lý lứa tuổi các em nên dễ mắc sai lầm về phương 18 pháp giáo dục. Thầy, cô chỉ là một cá thể, là người chịu trách nhiệm dẫn dắt học trò chứ không phải là chân lý. Thầy cô cần phải tôn trọng học trò, phải biết lắng nghe để thấu hiểu học trò hơn, tránh áp đặt. Câu chuyện thứ 5: Học sinh xảy ra “xung đột” với giáo viên bộ môn Vào thời điểm giữa học kì I năm học 2022 – 2023, GV bộ môn lịch sử đã rất bức xúc phản ánh với tôi về việc em N.M.N lớp tôi chủ nhiệm có thái độ không đúng khi cô trả bài KT giữa học kì (thắc mắc về điểm số và tranh luận, “cãi” nhau tay đôi với cô giáo), cô giáo có đề nghị tôi phải gọi điện trao đổi với PH của N.M.N về sự việc. Trước tiên tôi gọi điện cho PH truyền đạt lại nội dung mà GVBM muốn trao đổi và nhờ PH về thăm dò thái độ, quan điểm của HS sau sự việc xảy ra để cùng phối hợp đưa ra hướng giải quyết. Ngày hôm sau tôi đã lên lớp đề nghị 1 số bạn HS tường thuật lại toàn bộ sự việc để nắm bắt được nội dung. Tiếp theo tôi gặp riêng N.M.N để trao đổi, lắng nghe suy nghĩ, ý kiến của em, đồng thời phân tích và chỉ ra cho em thấy cái đúng, cái sai, cái được và cái chưa được; động viên HS cố gắng học tập để đạt thành tích tốt nhất vừa để thay cho lời xin lỗi, vừa để khẳng định bản thân mình (N nói rằng em không thích học môn đó vì nó rất khó thuộc và em rất lo sợ rằng cô giáo sẽ “trù” mình). Sau đó N.M.N đã tự chấm lại bài làm của mình theo hướng dẫn chấm mà cô giáo cung cấp, chấp nhận với kết quả mình tự chấm (thấp hơn kết quả ban đầu) và xin lỗi cô giáo bộ môn trước cả lớp. Sau sự việc N.M.N không ngừng nỗ lực, cố gắng, kết quả cuối năm học em đã đạt điểm giỏi bộ môn và đạt danh hiệu học sinh giỏi, xếp thứ 3/37 tổng số HS của cả lớp. Đầu năm học 2023 – 2024 N.M.N đã đạt giải Nhất Cuộc thi “Tìm hiểu lịch sử Đảng bộ huyện Sơn Động giai đoạn 1945 -2020” cấp trường và xuất sắc giành giải Nhất Cuộc thi “Tìm hiểu lịch sử Đảng bộ huyện Sơn Động giai đoạn 1945 -2020” cấp huyện. Và điều bất ngờ là giáo viên hướng dẫn cũng chính là cô giáo bộ môn mà em đã “xung đột”. N.M.N nhận giấy khen đạt giải nhất cấp trường và nhất cấp huyện Cuộc thi “Tìm hiểu lịch sử Đảng bộ huyện Sơn Động giai đoạn 1945 – 2020” tháng 10&11/2023 19 Xây dựng mối quan hệ tích cực với học sinh bằng cách dành thời gian cho HS. Để làm được điều đó tôi thường dành thời gian mỗi ngày để nói chuyện với học sinh, dành thời gian để tìm hiểu xem các em đang làm gì, nghĩ gì và mong muốn điều gì. Điều này không phải lúc nào cũng dễ dàng. Nếu nhìn thấy một học sinh trông có vẻ mệt mỏi giống như có một điều gì đó không tốt đang xảy ra, tôi sẽ dành thời gian để dừng lại và hỏi “Hôm nay em có khỏe không? Nhìn em có vẻ buồn (mệt mỏi). Em có cần cô giúp đỡ gì không?”. Điều đó cho học sinh biết rằng tôi chú ý, tôi quan tâm, và tôi sẵn sàng dành thời gian để nói chuyện. Một số sẽ không muốn nói, nhưng số khác thì lại rất mong muốn và đó là tín hiệu để bắt đầu mối quan hệ. Việc dành thời gian để nói chuyện với HS và nhận biết mỗi một em là một cá nhân riêng biệt tôi đã tìm thấy rất nhiều cá tính khác nhau trong lớp chủ nhiệm của mình. Bằng cách tìm hiểu những tính cách của từng HS tôi có hiểu biết tốt hơn về cách học sinh tương tác với nhau. Sự hiểu biết đó đã giúp tôi trong việc lập kế hoạch nhóm, làm xoa dịu những tình huống có thể xảy ra và dễ dàng đương đầu với những vấn đề phát sinh ngoài ý muốn. Câu chuyện thứ 6: Ngăn ngừa và giải quyết những xung đột trong học sinh Một buổi sáng tháng 3 của năm học 2022 - 2023, em N đã tìm gặp tôi và đề nghị mời PHHS của M đến làm việc vì theo chia sẻ của N thì M đã có thái độ không đúng mực, có xu hướng dẫn đến bạo lực học đường (M đã xô đẩy N và hẹn N đánh nhau sau buổi học). Sau khi nghe N phản ánh, tôi đã gặp riêng M để hỏi chuyện, đồng thời gặp riêng một số bạn học sinh khác để tìm hiểu đầu đuôi câu chuyện. Đến tiết sinh hoạt cuối tuần tôi mời lần lượt N, M và các bạn khác liên quan trình bày lại toàn bộ câu chuyện, đưa ra quan điểm của mình trước lớp. Sau đó phân tích cái đúng, cái sai của từng bạn và yêu cầu các bạn xin lỗi nhau (ai sai trước thì xin lỗi trước), bắt tay nhau làm hòa và hứa cùng nhau xây dựng tập thể lớp đoàn kết. Nhờ sự can thiệp kịp thời, tôi đã giúp cho các em tránh được những xung đột trong học đường. N và M xin lỗi, bắt tay nhau làm hòa trước sự chứng kiến của các bạn trong lớp. 20 Câu chuyện thứ 7: Vào một ngày cuối tháng 11 năm học 2022 – 2023, thầy Hiệu trưởng nhà trường gọi tôi xuống phòng làm việc nói với tôi rằng lớp CN của tôi có 2 em HS đang “yêu” nhau và có một số hành động, cử chỉ dành cho nhau không phù hợp với lứa tuổi HS. Sau khi nghe phản ánh, đầu tiên tôi tìm gặp riêng 1 số bạn trong lớp để nắm bắt tình hình, sau đó khéo léo gặp riêng từng học sinh, nhắc nhở nhẹ nhàng, tế nhị để các em tránh những quan hệ thân mật, gần gũi, đi quá giới hạn cho phép.... Phân tích cho các em hiểu được những điều các em có thể đánh mất ở tình yêu học trò. Tôi đã nói với từng em rằng “Cô hiểu chuyện tình cảm ở lứa tuổi các em vì dù sao cô đã từng trải qua. Đó là nhu cầu tâm lý bình thường, nên cô không hề có ý cấm đoán hay lên án các em. Chỉ có điều cô mong muốn các em hãy giữ một tình cảm trong sáng của tuổi học trò, và cùng giúp đỡ, động viên nhau tiến bộ, tập trung thời gian cho việc học tập. Như thế tình cảm các em dành cho nhau mới thực sự có ý nghĩa và bền vững”. Sau đó tôi liên lạc, trao đổi và phối hợp với PH của cả 2 em để nhắc nhở, khuyên răn các em, tránh hậu quả đáng tiếc xảy ra. Bằng tình yêu thương chân thành, với quan điểm “Chạm đến trái tim để mở cửa trái tim”, 2 em HS đã cới mở, tin tưởng chia sẻ quan điểm của mình và có những thay đổi tích cực: không thể hiện tình cảm quá mức, không có hành động quan hệ thân mật, gần gũi, và cùng nhau phấn đấu học tập rèn luyện. Kết quả cuối năm học cả 2 em đều đạt danh hiệu Học sinh giỏi và đạt nhiều thành tích trong thể dục, thể thao, văn nghệ. Không mắc phải sai lầm và không gây ra hậu quả đáng tiếc. Hình ảnh minh họa – Tình yêu tuổi học trò

File đính kèm:

  • docxmot_so_giai_phap_tao_dung_bau_khong_khi_lop_hoc_am_ap_trong.docx
Giáo án liên quan