Một số biện pháp rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 1
Bạn đang xem trước 20 trang mẫu tài liệu Một số biện pháp rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 1, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“ Một số biện pháp rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 1 ”.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn giải pháp:
Trong bốn kĩ năng: Nghe, nói, đọc, viết thì kỹ năng nói có vị trí thứ hai trong yêu
cầu cơ bản cần đạt của học sinh. Kỹ năng nói góp một phần quan trọng đáng kể
giúp học sinh Tiểu học nói chung, học sinh lớp 1 nói riêng học tốt các môn học
khác. Kỹ năng nói tốt sẽ giúp chúng ta chiếm được tình cảm của mọi người, giúp
chúng ta tự tin hơn khi diễn đạt một vấn đề gì đó trước tập thể. Học sinh đầu cấp
nói tốt sẽ giúp các em diễn đạt rõ ràng, mạch lạc, trình bày suy nghĩ của mình cũng
như trong việc phát biểu ý kiến xây dựng bài. Với phương pháp mới: phát huy tính
tích cực của học sinh phải trình bày lời nói trong giải thích, mô tả...rất cần đến kỹ
năng nói. Trong sinh hoạt, kỹ năng nói là một phần quan trọng trong kỹ năng giao
tiếp, là một kỹ năng sống rất cần cho mỗi học sinh. Ngày nay trong sự phát triển
của nền kinh tế tri thức, thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, ngôn ngữ nói được
thay bằng ngôn ngữ viết qua máy tính (gửi Email, chát, nhắn tin...trên mạng). Các
em là một thế hệ trẻ chập chững mới bước vào đời lại không có ý thức trong việc
sử dụng ngôn ngữ, khả năng giao tiếp còn hạn chế, chưa đáp ứng được theo chuẩn
kiến thức, kĩ năng của bậc học. Các em còn nhút nhát, chưa tự tin, tìm tiếng, tìm từ
còn chậm trong khi nói, nói không thành câu. Nói không rõ lời, chưa phát âm đúng,
nhiều học sinh nói còn kéo dài, chưa trôi chảy, chưa lưu loát, chưa biểu cảm, nói
không đủ ý. Đó là những vấn đề bức xúc của những giáo viên dạy lớp 1 nói riêng,
giáo viên Tiểu học và những người làm công tác giáo dục nói chung.
Dạy nói cho học sinh lớp 1 phải gắn với cả việc dạy đọc, dạy viết, dạy nghe. Vì vậy
khi dạy nội dung này người giáo viên phải có nhiều sáng tạo, linh hoạt, biết kết hợp
nhiều phương pháp dạy học trong quá trình lên lớp, biết điều chỉnh những nội dung
cần thiết để giờ học đạt kết quả tốt.
Chính vì vậy, là một giáo viên dạy lớp 1 tôi đã mạnh dạn nghiên cứu: “ Một số
biện pháp rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 1 ”.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
-Giúp cho học sinh có ý thức trong việc sử dụng ngôn ngữ khi giao tiếp, rèn cho
học sinh nói đủ câu, lưu loát, suy nghĩ mạch lạc, diễn đạt rõ ràng, trong sáng, có
khả năng làm chủ được tiếng nói và chữ viết của mình.
1 - Giúp cho học sinh biết ứng xử các tình huống khi giao tiếp một cách nhạy bén, lễ
phép hơn.
- Tạo cơ hội cho các em mạnh dạn, tự tin khi giao tiếp, khám phá, diễn đạt ý tưởng
trước đám đông, thành công trong công việc. Đồng thời góp phần phát triển nhân
cách toàn diện cho học sinh, giúp các em có được kỹ năng sống tốt để trở thành
người có ích cho xã hội.
Tôi nhận thấy để giúp học sinh phát triển lời nói, giáo viên cần:
Thứ nhất, phải tạo được nhu cầu hội thoại cho học sinh. Việc tạo ra nhu cầu nói
năng cho học sinh hết sức quan trọng. Khi có nhu cầu biểu đạt, các em sẽ mạnh
dạn, hứng thú, trình bày những suy nghĩ riêng của mình. Để tạo ra nhu cầu giao
tiếp cho học sinh, giáo viên cần tạo ra những tình huống giao tiếp giả định nhưng
phải gần gũi và có sức hấp dẫn, kích thích nhu cầu nói của các em. Khi đã hoà
mình vào hoàn cảnh đã nhập vai giao tiếp thì khi ấy các em sẽ thể hiện hết mình.
Thứ hai, phải tạo ra được hoàn cảnh giao tiếp tốt. Hoàn cảnh giao tiếp trong giờ
Tiếng Việt chính là điều kiện lớp học trong giờ luyện nói, gồm: không khí lớp học,
tư thế của giáo viên, các hoạt động nghe của học sinh, trật tự lớp học và một số
hoạt động khác có ảnh hưởng gián tiếp đến việc nói năng của học sinh.
Bởi vì học sinh không thể nói trong hoàn cảnh lớp học ồn ào hoặc các em sẽ khó
diễn đạt trước cặp mắt nghiêm khắc của giáo viên. Các em sẽ tự tin hơn, phấn khởi
hơn trước sự chú ý lắng nghe của các bạn, trước ánh mắt trìu mến hoặc những lời
động viên khích lệ của cô giáo.
Khi học sinh đang nói giáo viên không nên ngắt lời, bởi sự gián đoạn trong lời nói
thường làm các em lúng túng, giáo viên chỉ nên sửa sai hoặc uốn nắn khi các em đã
kết thúc phần nói của mình.
3. Đối tượng nghiên cứu
- Qua trao đổi, dự giờ thăm lớp đồng nghiệp tôi nhận thấy vấn đề luyện nói cho các
em vẫn chưa thực sự được quan tâm sâu sát và thói quen của học sinh địa phương
đã quen với cách nói tự do, nói câu rút gọn ( thiếu chủ ngữ ) gây cảm giác khó
nghe, ít gây thiện cảm, thêm vào đó là thái độ rụt rè, ít cởi mở trong giao tiếp,
không mạnh dạn khi bày tỏ ý kiến của mình. Cho nên tôi tập chung vào nghiên cứu
“ Một số giải pháprèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 1 ”.
4. Phạm vi nghiên cứu
Qua kinh nghiệm tự đúc rút của bản thân, trực tiếp quan sát tực tế học sinh, học hỏi
những kinh nghiệm quý báu của các đồng chí đồngnghiệp trong tổ khối và trong
2 Hội đồng nhà trường.Nghiên cứu thực trạng học sinh trong lớp 1A2 trường Tiểu
học Quế Sơn- Sơn Động- Bắc Giang, năm học 2020- 2021.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình hình thành và rèn kỹ năng nói cho học sinh tôi đã kết hợp các
phương pháp sau:
- Phương pháp trực quan, phương pháp quan sát, giảng giải để giải quyết vấn đề.
- Phân tích những nguyên nhân dẫn đến yếu kém trong việc rèn kĩ năng nói của học
sinh.
- Thực hành, luyện tập. Tiến hành trên lớp chủ nhiệm, lồng ghép trong các môn học
khác, các tiết sinh hoạt ngoại khoá, sinh hoạt lớp...
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí luận của giải pháp
Nhân dân ta từ rất lâu đã có câu: “ Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho
vừa lòng nhau ”. Qua câu nói cho ta thấy ông cha ta đã xác định lời nói rất quan
trọng. Trong giao tiếp lời lẽ phải có sự lựa chọn, cân nhắc vì một khi đã nói ra thì
không sao rút lại được. Chính vì thế để giúp học sinh có được ý thức nói năng rõ
ràng, đủ ý và phù hợp trong mọi tình huống là rất cần thiết. Thông qua hoạt động
nói các em sẽ phát huy được vốn ngôn ngữ mẹ đẻ, nói đúng cấu trúc ngữ pháp, mở
rộng thêm vốn từ, làm cơ sở cho việc tiếp thu tri thức sau này. Cũng nhằm hình
thành thói quen, ý thức giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt. Góp phần
hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam. Vì ngoài việc cung cấp cho học sinh hệ
thống câu từ, lời nói còn rèn luyện cho các em tính cẩn thận, tự chủ, trách nhiệm
với bản thân và tôn trọng người tham gia giao tiếp.
Thế nhưng trong thực tế hiện nay ở những giờ luyện nói tình trạng học sinh nói
không đủ ý, ngôn ngữ diễn đạt còn lộn xộn, chưa lô gíc. Nhiều học sinh nhút nhát
không muốn trình bày, chia sẻ với các bạn những điều mình nghĩ, mình biết hoặc
có nói thì cũng nói trống không, không rõ nghĩa, chưa trôi chảy. Đây là vấn đề
nhiều giáo viên gặp khó khăn cần có hướng khắc phục.
Trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 1, nội dung dạy luyện nói cho học sinh
được coi như một nội dung độc lập, giúp học sinh bước đầu hình thành và rèn luyện
kỹ năng nói đây là một trong những kỹ năng quan trọng của con người để học sinh
luyện nói lưu loát, đạt hiệu quả giáo viên cần có cách tổ chức dạy học để khơi gợi,
kích thích học sinh có khả năng hứng thú bộc lộ cảm xúc, ý nghĩ của mình nhằm
phát huy kỹ năng nói cho các em. Trong thực tế, học sinh đầu cấp chưa có thói
3 quen rèn kỹ năng nói, còn nói theo người lớn. Đa số học sinh nói không thành câu,
rút gọn câu nói, không có sự liên kết trong bài nói, thiếu tự tin, có khi còn dùng
những câu nói thiếu văn hóa, không lễ phép khi giao tiếp.
- Tình trạng này còn kéo dài sẽ dẫn đến các em ngại tiếp xúc, ngại giao tiếp. Do
biến đổi về mặt tâm lí, khi chưa đi học, trẻ nói một cách tự do không chủ định
nhưng khi vào lớp 1 các em phải nói theo từng chủ đề.
- Các em rụt rè, sợ hãi khi đứng trước đám đông.
- Tư duy học sinh lớp 1 là tư duy trực quan, hình ảnh, tư duy cụ thể qua tranh ảnh
minh họa nhưng khả năng quan sát chi tiết kém.
- Bên cạnh đó người giáo viên chưa ý thức được vai trò của việc rèn luyện kĩ năng
nói, nên đã quá coi trọng hai kĩ năng đọc, viết mà bỏ qua kĩ năng nói, dần dần trở
thành thói quen “lướt qua” dạy kỹ năng này hoặc có dạy nhưng
không thường xuyên liên tục.
- Một số giáo viên chưa biết vận dụng tích hợp nội dung dạy - học kỹ năng nói với
các kỹ năng còn lại (nghe, viết, đọc ) vào các môn học khác.
2. Thực trạng vấn đề
a. Thuận lợi :
Đa số học sinh vào lớp 1 các em đều có được vốn ngôn ngữ nhất định. Nội dung
dạy luyện nói lớp 1 đã bám sát trình độ chuẩn và quán triệt những định hướng đổi
mới mục tiêu dạy học ở Tiểu học. Nên việc dạy luyện nói cho học sinh sẽ được
thuận lợi hơn.
Trong môn Tiếng Việt 1, hoạt động luyện nói được cấu trúc chặt chẽ hợp lí, sắp đặt
xen kẽ vào cuối tiết học thứ hai môn Tiếng Việt. Nội dung các bài luyện nói đa
dạng phong phú về mọi lĩnh vực và tương đối gần gũi với học sinh và được tăng
dần ở mức độ theo các chủ đề giúp học sinh dễ tiếp thu bài. Sách giáo khoa trình
bày hình ảnh rõ ràng, đẹp, gây hứng thú học tập cho học sinh.
b. Khó khăn:
* Về gia đình học sinh
Với lớp tôi chủ nhiệm có 23/30 học sinh là con em dân tộc thiểu số còn nhiềuthiếu
thốn. Phụ huynh đa số sống bằng nghề nông, kinh tế còn khó khăn nhiều gia đình
cả bố mẹ đi công ty, để con ở nhà với ông bà nên việc tiếp xúc, dạy dỗ con cái còn
hạn chế. Chưa dành nhiều thời gian quan tâm đến việc học của con em mình, chưa
4 cho con đi chơi, giải trí trong những dịp lễ tết để các em có điều kiện giao tiếp với
mọi người.
* Về giáo viên
Quan niệm của một số giáo viên còn xem nhẹ hoạt động nói của học sinh trước lớp,
chỉ chú trọng đến kĩ năng đọc, viết mà trong giờ học Tiếng Việt thời lượng dành
cho hoạt động nói của học sinh quá ít. Chính vì thời lượng ít nên số lượng học sinh
tham gia nói về nội dung bài không được nhiều mà chỉ qua loa một vài em mạnh
dạn, hay phát biểu mà thôi.
Giáo viên chưa tập trung tìm hiểu về đặc điểm tâm lý, môi trường sống của học
sinh, chưa thật sự thông cảm với những khó khăn mà học sinh gặp phải nên khi tiến
hành hỏi đáp chỉ yêu cầu những học sinh tích cực nói trước lớp.
Ít quan tâm đến những học sinh ít nói, nhút nhát, rụt rè, nói ngọng vì sợ gọi
những em này trả lời sẽ làm mất nhiều thời gian. Vấn đề này vô tình giáo viên đã
làm cho những học sinh rụt rè ngày càng trở nên nhút nhát hơn.
Nêu câu hỏi chưa phù hợp với từng đối tượng học sinh trong lớp. Dạy phần luyện
nói chỉ đơn giản là gọi học sinh trả lời 2, 3 câu hỏi: chưa hướng dẫn học sinh biết
liên kết các câu thành một đoạn đơn giản đúng chủ đề. Có sửa sai nhưng chưa kiên
trì, uốn nắn trong mọi tình huống, mọi hoạt động của bài cũng như ở những giờ học
khác.
Chưa sáng tạo, linh hoạt, chưa biết kết hợp nhiều phương pháp dạy học trong quá
trình lên lớp và điều chỉnh những nội dung cần thiết, phù hợp để hoạt động luyện
nói đạt kết quả tốt.
* Về học sinh
Chưa chú ý lắng nghe một cách tích cực khi giáo viên nêu yêu cầu đến lúc trình bày
thường câu trả lời không đúng mục đích hoặc chưa hết ý. Một số trường hợp chỉ trả
lời một tiếng là “có” hoặc “không” chứ chưa giải thích được theo ý mình là vì sao
có, vì sao không ?
Còn ỷ lại hoặc nói theo các bạn chứ chưa chịu khó tự tìm ra câu trả lời hay cho
chính mình.
Do tâm lí rụt rè e ngại: Học sinh lớp 1 khả năng giao tiếp, giao lưu trò chuyện với
mọi người xung quanh còn rất ít. Mặt khác do tâm lí sợ nói sai ý của giáo viên, sợ
bạn bè chê cười khi nói không đúng hoặc nói ngọng nên học sinh cũng rất ít thể
hiện mình, rất ít nói thậm chí đến giờ luyện nói có học sinh còn không nói được câu
nào.
5 Học sinh lớp 1 đa số rất hiếu động, dễ nhớ nhưng lại mau quên nên việc ghi nhớ
lời thầy cô dạy là chưa vững chắc.
3. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
a. Giải pháp 1: Dạyrèn kỹ năng nói cho học sinh trong phân môn Tiếng Việt.
* Bước 1:
Trong giờ dạy Tiếng Việt lớp 1, giáo viên nên phân chia thời lượng rõ ràng phù
hợp với các hoạt động của bài để đảm bảo nội dung kiến thức bài học, đủ và vừa
sức đối với học sinh. Khi tiến hành soạn giáo án cho hoạt động luyện nói nên thiết
kế hệ thống câu hỏi theo cấu trúc từ dễ đến khó phù hợp với năng lực học tập của
học sinh trong lớp. Khi tổ chức đàm thoại ở lớp, trước tiên là giáo viên nên yêu cầu
một cách rõ ràng cho mọi đối tượng đều hiểu được vấn đề mà giáo viên đặt ra. Khi
nêu câu hỏi thì phải chọn học sinh có trình độ phù hợp để trả lời, không chỉ tập
trung vào những học sinh hoàn thành tốt mà phải tạo điều kiện cho mọi đối tượng
(Hoàn thành tốt, hoàn thành, chưa hoàn thành) trả lời.
Ví dụ:
Khi dạy hoạt động nói ở bài 43: au, âu, êu giáo viên xác định yêu cầu dành cho
mọi đối tượng trong lớp như sau:
+ HĐ đọc:
-Tìm tiếng chứa vần au, âu, êu (Dành cho học sinh Hoàn thành và chưa hoàn
thành).
-Tìm từ chứa vần au, âu, êu (Dành cho học sinh Hoàn thành và chưa hoàn thành).
- Nói câu chứa tiếng có vần au /âu, êu/ (Dành cho học sinh Hoàn thành tốt).
- Nếu HS trả lời đúng nhưng chưa thành câu, giáo viên chú ý uốn nắn sửa chữa
ngay và cho học sinh nói lại.
Cần lưu ý để tạo nên ấn tượng tốt cho các em khi giảng dạy nói chung và khi
đàm thoại nói riêng giáo viên phải thực sự gương mẫu trong việc nói năng, nói đủ
ý, cách diễn đạt và trong quá trình rèn luyện cho học sinh qua từng câu, từng bài
nên kiên trì, không nóng vội mà quát nạt, giận dỗi hay trách mắng học sinh. Phải
hết sức cởi mở, nhã nhặn với các đối tượng trong lớp tạo không khí vui vẻ, phấn
6 khởi giúp các em có cảm giác thoải mái thì hoạt động nói mới diễn ra một cách
thuận lợi.
Nên chú trọng tìm hiểu đặc điểm tâm lý, những khó khăn của học sinh trong lớp để
có sự chia sẻ, thông cảm động viên các em nói nhiều và mạnh dạn hơn bắt đầu từ
những điều đơn giản nhất, dần dần tăng mức độ khó lên theo thời gian.
* Bước 2: Hướng dẫn học sinh thực hành luyện nói trong nhóm.
Giáo viên chia nhóm đôi cho học sinh tự luyện nói theo cặp dưới sự hướng dẫn
gợi ý, bằng các câu hỏi của giáo viên. Có như vậy các em luyện nói nhiều hơn,
chính xác hơn và những em lười hay học yếu không đứng ngoài “ rìa ”của hoạt
động. Để đảm bảo về mặt thời gian, với những học sinh yếu, giáo viên khuyến
khích các em tập nói nhiều lần trong nhóm từ một câu rồi đến hai câu. Tạo cho các
em mạnh dạn, tự tin khi giao tiếp, bằng những lời xưng hô phù hợp với từng đối
tượng.Giáo viên theo dõi, quan sát để kịp thời uốn nắn, chữa từng tiếng, từng xoay
quanh chủ đề đangnói.
(Học sinh luyện nói theo cặp)
Ví dụ:
7 Chủ đề: Nói lời xin lỗi, Nói lời cảm ơn, Vâng lời cha mẹ, Nói lời xin phép, ...Với
các chủ đề này, giúp các em biết nói lời xin lỗi khi có lỗi, biết chào hỏi, cảm ơn,
biết xin phép, ... bằng những câu đơn giản làm cho người nghe có thiện cảm khi
giao tiếp trong cuộc sống.
* Bước 3. Luyện nói trước lớp.
Sau khi các em luyện nói trong nhóm, 1- 2 nhóm thực hành luyện nói trước lớp
để cả lớp cùng chia sẻ và đánh giá. Nếu để cho các tổ trưởng cử, thường thì các em
cử các bạn có năng lực luyện nói tốt. Tuy nhiên để tránh tình trạng chây lười, ỷ lại
cho các em học tốt, giáo viên có thể cho các em khác bất kì trong nhóm lên luyện
nói, đặc biệt là các em hay rụt rè, không dám nói trước đám đông.
* Bước 4. Hướng dẫn học sinh nhận xét.
Cho học sinh nhận xét cách luyện nói của bạn, không nhận xét chung chung, mà
yêu cầu các em khác nhận xét cụ thể về một nội dung luyện nói, tác phong luyện
nói có tự nhiên, đã thành câu, hay còn rụt rè, chưa thành câu... Với họcsinh này
giáo viên hướng dẫn các em khác nhận xét về mức độ tiến bộ của bạn nhằm giúp
các bạn đó tự tin, hứng thú và tiến bộ hơn.
* Bước 5. Giáo viên nhận xét, tổng kết.
Sau khi các em nhận xét về cách luyện nói của bạn mình, của nhóm này với
nhóm khác, Giáo viên đi đến tổng kết nhận xét chung. Nhận xét một cách cụ thể
cần khen ngợi, khuyến khích các em luyện nói tốt. Đồng thời chỉ ra những chi tiết,
những vấn đề mà các em chưa làm tốt, khuyến khích các em bổ sung sửa chữa vào
những bài luyện nói tiếp theo.
Ví dụ: Với những em nhút nhát chưa mạnh dạn (Hoàn thành và chưa hoàn thành)
nếu trình bày đúng chủ đề nhưng nói còn nhỏ, giáo viên có thể khen: Cô khen con
nói đủ ý, đúng chủ đề nhưng nếu con nói to hơn nữa thì sẽ rất hay.
Hoặc với những em ở mức hoàn thành và hoàn thành tốt, có thể khen: Cô khen con
nói đúng chủ đề, rõ ý, to rõ ràng nhưng nếu con biết kết hợp cử chỉ, điệu bộ trong
khi nói thì thật là tuyệt vời .
8 (HS thực hành luyện nói theo cặp)
9 (HS thực hành luyện nói theo cặp đôi trước lớp)
b. Giải pháp 2: Dạy luyện nói kết hợp với các môn học khác
Luyện nói có vai trò quan trọng và diễn ra trong nhiều môn học khác nhau. Cho
nên, trong bất kì một tiết học hay một môn học nào khác giáo viên đều cho học sinh
luyện nói. Bằng cách cho các em tập phát biểu khi xây dựng bài, hay trao đổi sôi
nổi khi tham gia thảo luận nhóm. Thực tế luyện nói không chỉ diễn ra trong môn
Tiếng Việt mà ở các môn Tự nhiên và xã hội, môn Đạo đức, môn Hoạt động trải
nghiệm,... cũng là môi trường rất tốt để các em luyện nói. Thông thường thời gian
luyện nói của môn Tự nhiên - Xã hội, môn Đạo đức diễn ra thường xuyên ở các
hoạt động: khám phá, luyện tập, vận dụng. Các hoạt động này giúp cho học sinh
tính cực tham gia sử dụng ngôn ngữ rất nhiều, chính vì vậy đây là môi trường thuận
lợi để các em luyện nói, phát triển ngôn ngữ của mình.
Ví dụ:
Môn Tự nhiên và Xã hội, khi dạy bài 6: “ Lớp học của em” .
*Ở tiết 1: Hoạt động thực hành, giáo viên tổ chức cho học sinh chơi trò chơi:
Hỏi- đáp về đồ dùng trong lớp học. HS hoạt động theo nhóm đôi sau đó nói trước
lớp.
Đại diện nhóm nói xong, gọi học sinh nhận xét cách nói của bạn đã to, rõ lời, lưu
loát chưa... Giáo viên tuyên dương cách nói hay, đầy đủ và khuyến khích HS.
10 (HS kể tên đồ dùng có trong lớp học)
*Ở tiết 2: Hoạt động thực hành, giáo viên tổ chức cho học sinh thực hành giới thiệu
với bạn về các thành viên trong lớp. HS hoạt động theo nhóm 4 sau đó đại diện nói
trước lớp.
Đại diện nhóm nói xong, gọi học sinh nhận xét cách giớ thiệu của bạn đã to, rõ lời,
lưu loát chưa... Giáo viên tuyên dương cách nói hay, đầy đủ và khuyến khích HS.
11 (HS giới thiệu với bạn về thành viên trong lớp)
Trong môn đạo đức giáo viên cũng thực hiện kết hợp tương tự để học sinh luyện
nói.
Ví dụ:
Khi dạy bài 5: “ Gia đình của em”, sách Đạo đức trang 14, 15 (Sách Kết nối ...)
*Hoạt động 1: Khám phá sự cần thiết của tình yêu thương.
- GV chiếu tranh 1, chia nhóm đôi, giao nhiệm vụ:
+ Gia đình bạn nhỏ gồm những ai? Thái độ của mọi người trong bức tranh như thế
nào?
Giáo viên nhấn mạnh, khi trình bày các em nhớ chú ý giới thiệu thái độ của mọi
người trong bức tranh.
12 -GV chiếu tranh 2 và kể chuyện Thỏ con bị lạc. Gọi 1 HS kể lại theo tranh. HS trả
lời câu hỏi về nội dung truyện.
Giáo viên cho học sinh liên hệ: Em đã nhận được sự quan tâm, chăm sóc của người
thân như thế nào? (Khi em ốm, khi em gặp chuyện buồn, ...) Giáo viên gọi học sinh
nói trước lớp. Học sinh khác nhận xét, chia sẻ với bạn từ lời nói, thái độ... và giáo
viên chỉnh sửa (nếu cần), giúp các em nhận ra cách thể hiện lời nói hay nhất.
13 (Học sinh nói trước lớp)
c. Giải pháp 3: Dạy luyện nói trong giao tiếp .
Hoạt động nói đã được hình thành trước khi vào lớp 1, nhưng để trở thành kĩ
năng thì phải được uốn nắn, rèn luyện cả quá trình giao tiếp với thầy cô, bạn bè,
người thân, ...
Ví dụ: Khi tiếp xúc với giáo viên: Giáo viên hỏi: “ Em đã chuẩn bị đồ dùng học tập
trước khi đến lớp chưa? ” Học sinh trả lời: “ rồi” Khi đó giáo viên phải chỉnh sửa
ngay cho học sinh: “ Em không được nói trống không như thế mà phải nói thành
câu trọn vẹn và thể hiện thái độ tôn trọng thầy cô”. Chẳng hạn:
14 “ Thưa cô, em đã chuẩn bị rồi ạ !” Hoặc khi giao tiếp với bạn bè, các em xưng hô
với bạn mày, tao...hay trả lời rút gọn đôi khi còn thô lỗ, cộc cằn với bạn mà không
hề biết cách nói của mình không hay, thiếu tế nhị. Hay khi nói chuyện với người
lớn, đôi khi các em chưa hiểu nên các em nói chuyện còn thiếu lễ phép, cộc lốc,
như trong trường hợp sau: Có một phụ huynh đến xin phép cho con nghỉ học vì học
sinh đó bị ốm nhưng không biết phòng học của con (Vì mỗi lần họp phụ huynh đều
do bố đi dự họp) nên hỏi một học sinh: “ Lớp 1A2 học ở phòng nào hả con ?” Lập
tức em đó trả lời: “ Kia kìa! ”. Lớp tôi đang áp dụng thử sáng kiến có 30 học sinh,
trong đó có đến 20 em nói năng cộc lốc, chưa biết thưa gửi trong trường hợp thế
này: Hôm đó, vào buổi chiều, có tiết tập viết vở ô li nhưng thấy nhiều em không có
vở nên tôi hỏi một số học sinh: “ Vở ô li của con đâu ? ”, Các em đó đứng im một
lúc sau rồi trả lời: “ Ở nhà ”. Qua thời gian rèn luyện, chỉ dẫn, các em đã hiểu biết,
nói dễ nghe hơn, lời nói đủ câu, lưu loát, tế nhị hơn. Thực tế không chỉ là học sinh
lớp 1 mà học sinh ở các lớp trên đều nói câu rút gọn, thiếu chủ ngữ, đôi khi thể hiện
câu nói chưa lễ phép.
15 (Học sinh còn rụt rè và học sinh đã mạnh dạn)
d. Giải pháp 4: Giáo viên là tấm gương thể hiện hành vi giao tiếp để học sinh
noi theo.
Ngoài các hoạt động dạy học trên, giáo viên chủ nhiệm cần thường xuyên gần
gũi, bám sát học sinh trong mọi hoạt động (trong sinh hoạt lớp, sinh hoạt 15 phút
đầu giờ, khi lao động dọn vệ sinh...). Giúp các em luyện nói ở mọi lúc, mọi nơi khi
cảm thấy cần thiết, khi trò chuyện trao đổi, với các bạn, giáo viên cần quan tâm để
ý từng lời nói, hành động của các em để các em sửa sai kịp thời.
Hướng dẫn cho các em cách nói, xưng hô với người lớn, với thầy cô, bạn bè. Tập
cách nói thành câu khi trả lời người lớn hỏi, câu nói phải có chủ ngữ, giáo viên là
tấm gương thực tế nhất giúp cho học sinh luyện nói. Cho nên khi giao tiếp, giáo
viên cần chú ý mọi lúc, mọi nơi khi thể hiện lời nói của mình để học sinh noi theo.
*Ví dụ: Khi kiểm tra bài của học sinh, giáo viên thường gọi: Em lên đọc
bài...(Giáo viên nên gọi: Thầy (Cô) mời em lên trước lớp đọc bài).Trong lúc tiếp
chuyện với phụ huynh, giáo viên cũng cần chú ý từng lời nói, hành động, cử chỉ để
học sinh noi theo.
(Giáo viên gần gũi học sinh)
16 e. Giải pháp 5: Dạy luyện nói khi tổ chức các hoạt động ngoại khoá.
Trong các buổi sinh hoạt sao hàng tuần, giáo viên chủ nhiệm cũng cần hướng dẫn
các em phụ trách sao soạn sẵn nội dung sinh hoạt, sao cho các câu hỏi, câu trả lời
đầy đủ về ý, rõ lời, diễn đạt được nội dung cần giao tiếp được lưu loát, bóng bẩy
hơn để các em học hỏi.
*Ví dụ:
Khi các em gặp anh(chị) phụ trách sao ở mỗi lần sinh hoạt:
- Anh (Chị) chào các em!
- Chúng em chào anh (chị) ạ!
- Anh (chị) sẽ hướng dẫn cho các em chơi các trò chơi mới, các em có thích không
nào?
- Thưa anh (chị) thích ạ!...Hay lúc sinh hoạt cuối tuần ngoài việc trao đổi với nhau
vấn đề học tập, giáo viên cũng nên dành ít thời gian nói chuyện với các em. Chính
lúc này các em mới cởi mở, thể hiện tâm tư, tình cảm, lời nói của mình. Chắc chắn
sẽ có em thể hiện câu nói đúng, trôi chảy, lưu loát, đủ câu... nhưng cũng có em
chưa nói lưu loát, vụng về trong câu nói của mình. Từ đó giáo viên chỉnh sửa câu
nói của các em cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp. Hoạt động ngoại khoá là một
trong những hoạt động các em rất yêu thích nên các em nhanh nhớ và nhớ rất lâu.
Giáo viên có thể lồng ghép, hướng dẫn theo dõi, uốn nắn các em nói thuận lợi,
mang lại hiệu quả cao.
Ví dụ:
+ Hôm nay, ai đưa em đi học ? ( Hôm nay, bố em đưa em đi học ạ. )
+ Em thích học môn nào nhất ? (Em thích học môn Toán nhất ạ. )
17 ( Hoạt động ngoại khoá)
g. Giải pháp 6: Dạy luyện nói kết hợp các mối quan hệ Nhà trường, gia đình
và xã hội.
Giáo viên thường xuyên tiếp cận và tác động tích cực để gia đình nhận thức một
cách đúng đắn về tầm quan trọng của việc học nói chung và về kĩ năng nói nói
riêng. Bên cạnh việc giáo dục, động viên các em thì phụ huynh phải thực sự gương
mẫu trong việc nói năng có chừng mực, lịch sự, nhã nhặn với mọi người xung
quanh để các em học tập, noi theo.
Giáo viên chủ nhiệm nên khuyến khích các phụ huynh về nhà chú ý tới việc luyện
nói của con em mình.
Ví dụ: Hướng dẫn các em chào hỏi khi gặp thầy cô, khi có khách tới nhà. Hướng
dẫn luyện nói trong khi mọi người ăn cơm, hỏi thăm sức khoẻ của người ở xa...Học
sinh hay nói chưa đủ câu, chưa lưu loát...Gia đình uốn nắn sửa chữa khi chào hỏi!
Con chào bác ạ! Khi ăn cơm con mời bố, mẹ ăn cơm.
4. Hiệu quả của giải pháp
Qua một năm áp dụng và thực hiện “ Một số giải pháp rèn kỹ năng nói cho học sinh
lớp 1 ” năm học 2020-2021. Trong quá trình giảng dạy của mình, tôi nhận thấy học
sinh rất hứng thú khi học môn Tiếng việt nhất là phần luyện nói. Học sinh tham gia
tích cực, các em đã tự giác giơ tay để phát biểu, nói đủ nghe, diễn đạt rõ ràng, ngắn
gọn, có khả năng làm chủ được suy nghĩ lời nói của mình. Những em chưa hoàn
18 thành cũng đã nói được thành câu đơn giản và giải thích sự việc theo ý hiểu của
mình. Còn những em nhút nhát, rụt rè đã nhanh nhẹn, tích cực hơn, đã biết cách
ứng xử các tình huống giao tiếp. Nó còn phù hợp với việc đổi mới phương pháp,
nâng cao chất lượng dạy và học hiện nay.
Bằng tâm huyết của mình tôi đã vận dụng tốt việc rèn luyện kĩ năng nói cho học
sinh lớp 1, giúp cho các em rèn luyện hoàn thành tốtvề năng lực, phẩm chất. Đó là
điều làm cho tôi cảm thấy rất vui vì đã uốn nắn được các em phát huy theo hướng
tích cực. Càng đáng mừng hơn là đóng góp đó cũng Phát triển theo thời gian.
Sau đây là bảng so sánh chất lượng nói của học sinh khi chưa áp dụng giải pháp và
sau khi đã áp dụng giải pháp:
Số học sinh Số học sinh
Số học sinh Số học sinh
Năm học nói mạch lạc, nhút nhát, ít
TS HS nói đủ ý nói chưa đủ ý
2020-2021 diễn đạt tốt phát biểu
SL % SL % SL % SL %
Đầu năm 30 3 10 6 20 9 30 12 40
Cuối năm 30 10 33.3 17 56.7 3 10 0
Sáng kiến của tôi đã được thực hiện ở lớp 1A1, trường Tiểu học Quế Sơn-Sơn
Động- Bắc Giang, năm học 2020 - 2021.
Trong năm học 2021- 2022, tôi đang tiếp tục vận dụng giải pháp với lớp1A2 tại
trường Tiểu học Quế Sơn do tôi chủ nhiệm . Tổng số : 29 học sinh.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
-Ý nghĩa:Rèn kỹ năng nói là giúp học sinh phát triển ngôn ngữ nói. Rèn học sinh
luyện nói tốt sẽ tạo cơ sở nền móng cho việc phát triển ngôn ngữ nói, viết trong
suốt bậc học và cả trong cuộc sống. Ngoài ra, luyện nói cho học sinh giúp các em
mạnh dạn, tự chủ trong giao tiếp và hợp tác trong các hoạt động học và trong cuộc
sống hằng ngày.
- Bài học kinh nghiệm :
Diễn đạt bằng ngôn ngữ nói là một kĩ năng khó đối với học sinh lớp 1 nóiriêng,
Tiểu học nói chung. Để có kĩ năng nói tốt, đòi hỏi người giáo viên phải có phương
pháp, hình thức rèn luyện phù hợp với trình độ, điều kiện thực tiễn, khả năng tâm lý
lứa tuổi của học sinh. Vì vậy, mỗi người giáo viên phải hết sức năng động và sáng
tạo, phải biết lựa chọn và kết hợp nhiều phương pháp dạy học tích cực để giúp học
sinh vừa có kiến thức vừa có kỹ năng giao tiếp, kỹ năng sống tốt đáp ứng nhu cầu
19 phát triển của xã hội. Với những giải pháp trên, tôi đã vận dụng ngay vào quá trình
hình thành và rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh lớp 1, các em rất hứng thú khi
học môn Tiếng Việt, các em đã biết nói thành câu tự nhiên phù hợp với hoàn cảnh
giao tiếp. Những em nhút nhát, rụt rè, thụ động đã trở nên mạnh dạn, tự chủ hơn
trước đám đông, biết ứng xử các tình huống giao tiếp một cách linh hoạt. Giáo viên
có hứng thú, tích cực tìm tòi tranh ảnh, vật thật để áp dụng cho phần luyện nói có
hiệu quả hơn. Sự phối hợp giữa các gia đình, hội phụ huynh, ban đại diện cha mẹ
học sinh, cũng có chiều hướng tiến bộ. Chính vì vậy hiệu quả dạy rèn kỹ năng
luyện nói đã được nâng cao rõ rệt.
Tóm lại: Rèn kỹ năng nói cho học sinh là một quá trình lâu dài người giáo viên
tuyệt đối không nóng vội khi rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh. Giáo viên cần lưu
ý không thể có kết quả nói tốt trong một sớm, một chiều mà cần có thời gian để
giúp các em sửa chữa tiến bộ trong quá trình giao tiếp được tốt hơn.
2. Những ý kiến đề xuất:
Khi dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống - NXB
Giáo dục Việt Nam học sinh được kết nối giữa vốn sống của các em và được trải
nghiệm thêm những điều mới mẻ qua mỗi bài học. Bằng sự tận tâm với nghề, yêu
trẻ nhỏ tôi đã tìm ra được một số giải pháp để rèn kỹ năngluyện nói cho học sinh và
bước đầu đã có kết quả tốt. Dù là những năm đầu triển khai chương trình mới còn
nhiều khó khăn nhưng tôi và các bạn đồng nghiệp đều tự tin rằng sẽ hoàn thành tốt
nhiệm vụ năm học 2021-2022.
Trên đây là một số giải pháp Rèn kỹ năngluyện nói cho học sinh của bản thân tôi.
Trong quá trình giảng dạy tôi cũng đã áp dụng cho lớp mình và cũng đã đạt kết
quảtốt. Việc vận dụng các biện pháp và giải pháp trong giảng dạy thì rất phong phú
và đa dạng. Chính vậy trong quá trình áp dụngcác biện pháp này vào thực tế từng
lớp
học, từng đối tượng học sinh cũng khôngtránh khỏi những sai sót. Có thể nội dung
giải pháp không phải là tối ưu nhưng với lòngsay mê nghề nghiệp và tinh thần học
hỏi, tôi xin được trình bày một số giải pháp nêu trên. Rất mong nhận được những ý
kiến đóng góp của các cấp lãnh đạo,các đồng chí đồng nghiệp để những giải pháp
này ngày càng được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
20
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_ren_ky_nang_noi_cho_hoc_sinh_lop_1.docx



