Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 3

pdf26 trang | Chia sẻ: Thảo Hoa | Ngày: 28/01/2026 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang mẫu tài liệu Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 3, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HIỆP HÒA TRƯỜNG TIỂU HỌC QUANG MINH . MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 3 Họ và tên: Bùi Thị Bảo Ngọc Đơn vị: Trường Tiểu học Quang Minh, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG HIỆU TRƯỞNG Hiệp Hòa, tháng 10 năm 2022 1 MỤC LỤC Nội dung Trang I. PHẦN MỞ ĐẦU 2 1. Lí do chọn biện pháp 2 2. Mục đích nghiên cứu 3 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3 4.1. Đối tượng nghiên cứu 3 4.2. Phạm vi nghiên cứu 4 5. Phương pháp nghiên cứu 5 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5 1. Cơ sở lí luận 5 2. Cơ sở thực tiễn 5 3. Các biện pháp 6 Biện pháp 1: Dạy học theo đối tượng học sinh thông qua tiết 6 Tập đọc Biện pháp 2: Khơi gợi trí tưởng tượng, tạo hứng thú khi bắt 14 đầu tiết học bằng hoạt động Giới thiệu bài Biện pháp 3: Phối hợp với cha mẹ học sinh để luyện đọc cho 17 học sinh tại nhà Biện pháp 4: Xây dựng hệ thống bài tập ngắn củng cố kĩ năng 19 đọc và nội dung bài đọc III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 21 1. Kết quả khi áp dụng biện pháp 21 2. Ứng dụng 22 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 22 2 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn biện pháp Thực tế cho thấy, Tiếng Việt là một trong những môn học rất quan trọng ở Tiểu học. Bởi lẽ, Tiếng Việt không chỉ dạy cho các em có kiến thức về ngôn ngữ giao tiếp mà còn làm giàu vốn từ ngữ và trang bị các kiến thức về từ, câu, dùng từ đặt câu, góp phần gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt. Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, cùng với Toán, Tiếng Việt là môn học trau dồi cho học sinh kiến thức và kĩ năng quan trọng. Trong chương trình giáo dục phổ thông mới quy định Ngữ Văn là môn học thuộc lĩnh vực Giáo dục ngôn ngữ và văn học, được học từ lớp 1 đến lớp 12, ở cấp Tiểu học có tên là môn Tiếng Việt. Chương trình môn học lấy việc rèn kĩ năng giao tiếp (đọc, viết, nói và nghe) làm trục xuyên suốt cả ba cấp học nhằm đáp ứng yêu cầu của chương trình theo định hướng phát triển năng lực và đảm bảo tính chỉnh thể, sự nhất quán liên tục trong tất cả các cấp học, lớp học. Trong đó, kĩ năng đọc được tập trung nhiều ở cấp Tiểu học. (trích Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ Văn, ban hành kèm theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) Rõ ràng, vai trò của môn Tiếng Việt đối với học sinh là không thể phủ nhận. Trong chương trình giáo dục phổ thông thì nhiệm vụ rèn kĩ năng đọc là một nhiệm vụ rất quan trọng. Trong chương trình lớp 3, yêu cầu cần đạt của tiết Tập đọc là học sinh đọc đúng, bước đầu đọc diễn cảm một đoạn văn, câu chuyện, bài thơ với tốc độ 70-80 tiếng/phút, đọc phân vai, đọc thầm và hiểu nội dụng bài đọc thông qua trả lời các câu hỏi về nội dung bài. Để đạt được những yêu cầu này, trong tiết Tập đọc, giáo viên cần đầu tư nhiều thời gian để tập trung hướng dẫn học sinh đạt được những yêu cầu của môn học. Tuy nhiên, thực tế trong quá trình giảng dạy những năm học trước và tuần đầu của học kì I tại lớp 3A năm học 2021-2022, tôi thấy kĩ năng đọc của học sinh chưa đồng đều, nhiều em đọc chưa đúng, tốc độ đọc còn chậm, đọc 3 sai âm đầu l/n, đọc thanh ngã thành thanh sắc. Một số em học sinh biết mình đọc sai nhưng chưa biết cách sửa sao cho đúng. Khi đọc sai, các em thường bị các học sinh khác trong lớp cười chê, dẫn đến tâm lí ngại đọc, đọc nhỏ, đọc không rõ tiếng. Đa số học sinh đọc đúng văn bản nhưng chưa đồng đều về âm lượng và chưa hiểu được nội dung của câu văn, đoạn văn, ngắt nghỉ chưa đúng dấu câu và nội dung câu. Từ những lí do trên, là giáo viên chủ nhiệm trực tiếp giảng dạy tại lớp 3A năm học 2021-2022, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu và áp dụng: Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 3. 2. Mục đích nghiên cứu - Rèn cho học sinh kỹ năng đọc đúng, bước đầu biết cách đọc diễn cảm, hiểu được nội dung tác phẩm nhằm giúp các em phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học một cách hiệu quả theo đúng yêu cầu của Chương trình môn Tiếng Việt lớp 3. - Giúp học sinh hứng thú trong học tập, phát huy tính sáng tạo của bản thân, tạo ra những giờ học hấp dẫn, thú vị và bổ ích. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tìm hiểu nội dung, chương trình tiết Tập đọc trong sách Tiếng Việt 3. - Nghiên cứu những cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn có liên quan đến biện pháp. - Tìm hiểu thực trạng ở lớp chủ nhiệm. - Tìm ra các nguyên nhân liên quan đến thực trạng. - Đề xuất một số biện pháp thực hiện trong khi dạy tiết Tập đọc trong sách Tiếng Việt 3. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu - Thực hiện khảo sát trên đối tượng học sinh lớp chủ nhiệm. 4.2. Phạm vi nghiên cứu - Nội dung các bài Tập đọc trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 3. 4 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu tài liệu: + Tìm hiểu sách giáo khoa, sách giáo viên (Tiếng Việt 3), các công văn, thông tư, quyết định có liên quan đến biện pháp. - Phương pháp nghiên cứu thực tế: + Dự giờ, trao đổi ý kiến với đồng nghiệp về nội dung chương trình môn Tiếng Việt lớp 3, đặc biệt là các tiết Tập đọc, tổng kết, rút kinh nghiệm trong quá trình dạy học. + Lập kế hoạch dạy học, kế hoạch bài dạy. - Phương pháp nghiên cứu lí luận: + Nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan các bài đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt. - Phương pháp thực nghiệm: + Áp dụng những biện pháp tìm được vào việc giảng dạy cho học sinh của lớp. - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: + Tổng kết kinh nghiệm đúc rút được trong quá trình dạy học các tiết Tập đọc trong Chương trình Tiếng Việt lớp 3. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lí luận Xuất phát từ yêu cầu đổi mới của đất nước, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm đến phát triển giáo dục. Một trong những nhiệm vụ cơ bản của giáo dục hiện nay là hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh một cách toàn diện. Những thành quả giáo dục ngày càng khẳng định và soi sáng con đường đổi mới này. Giáo dục Tiểu học chỉ ra rằng: Dạy học phải tác động đến vùng “phát triển gần” của các em để giúp các em phát triển năng lực tư duy tốt nhất. Vì 5 vậy, dạy học phải theo hướng gần gũi, cởi mở, dần dần là huy động vốn kiến thức tổng hợp để tìm tòi, giải quyết được những bài tập cụ thể. Dạy kĩ năng đọc là một trong những kĩ năng ngôn ngữ quan trọng trong Chương trình môn Tiếng Việt nhằm giúp các em phát triển toàn diện cả về năng lực và phẩm chất, là tiền đề phát triển ngôn ngữ trong quá trình phát triển nhân cách. 2. Cơ sở thực tiễn Trong thực tế khi giảng dạy các tiết Tập đọc, tôi có một số thuận lợi sau: + Luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao Ban Giám hiệu nhà trường về việc đổi mới chương trình, hoàn thiện kĩ năng; Tham gia nhiều buổi chuyên đề, tập huấn để giáo viên được trau dồi kiến thức chuyên môn, đổi mới phương pháp và hình thức dạy học nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy. + Trong Chương trình Tiếng Việt lớp 3, tiết Tập đọc là tiết học chiếm nhiều thời lượng trong chương trình (3 tiết/tuần): 2 tiết riêng, 1 tiết dạy kèm cùng tiết Kể chuyện. Do được dành nhiều thời gian giảng dạy nên giáo viên có cơ hội đầu tư, rèn kĩ năng đọc cho học sinh trong tiết học. + Ngày càng có nhiều công cụ hỗ trợ cho việc luyện đọc của học sinh. Ngoài việc lắng nghe giáo viên đọc mẫu, học sinh có thể nghe các bài đọc mẫu trên mạng Internet để làm giàu thêm khả năng đọc diễn cảm của bản thân. Bên cạnh những thuận lợi đó, trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy ở lớp còn tồn tại các thực trạng sau: - Một số em còn đọc chậm, đọc sai, phát âm chưa đúng. Các em thường mắc lỗi phát âm đầu l/n, đọc sai tiếng có thanh ngã thành thanh sắc. - Khi đọc, các em ngắt nghỉ chưa đúng dấu câu và nội dung câu. - Học sinh chưa thực sự hứng thú, tự giác trong khi đọc. - Một số phụ huynh vẫn chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con em mình. 6 Nguyên nhân: + Do ảnh hưởng của ngôn ngữ địa phương nên phát âm còn nhầm lẫn giữa âm đầu l/n, đọc sai thanh ngã thành thanh sắc. + Do học sinh chưa biết nghỉ hơi ở chỗ nào cho hợp lí. + Do đặc điểm tâm lí lứa tuổi, các em dễ mất tập trung, sao lãng trong giờ học. + Một số cha mẹ học sinh đi làm xa nhà, không có điều kiện gần và quan tâm, hoàn cảnh gia đình học sinh khác nhau. 3. Các biện pháp Biện pháp 1: Dạy học theo đối tượng học sinh thông qua tiết Tập đọc Năm học 2021-2022, tôi được giao nhiệm vụ giảng dạy và chủ nhiệm lớp 3A, lớp có 36 học sinh. Qua thực tế giảng dạy, nắm bắt trình độ học sinh, tôi thấy học sinh trong lớp có thể chia làm các nhóm nhỏ, dựa trên các điểm mạnh, điểm yếu để tiến hành phân nhóm, học sinh sẽ bù đắp kiến thức cho nhau, tạo động lực thúc đẩy học tập. Đối với từng nhóm đối tượng, để nâng cao hiệu quả trong giờ Tập đọc, tôi đã thực hiện những công việc cụ thể sau: a) Đối với nhóm học sinh đọc chậm, phát âm chưa đúng Tôi luyện đọc cho học sinh theo một số hình thức sau: - Luyện đọc từng từ, từng câu, từng đoạn, cả bài nhiều lần để học sinh quen với mặt chữ. - Thường xuyên theo dõi, nhắc nhở để kịp thời uốn nắn khi các em đọc chưa đúng, chưa đạt yêu cầu về tốc độ. Đối với từ khó, tôi yêu cầu học sinh đánh vần trong đầu, đọc nhiều lần đến khi đọc đúng. + Nếu đọc sai chỗ nào, tôi yêu cầu các em đọc lại cho đúng rồi mới đọc tiếp. Nếu quá 3 lần mà học sinh vẫn chưa đọc đúng, tôi sẽ đọc mẫu hoặc gọi 1 học sinh đọc tốt đọc lại để làm mẫu. 7 + Khi đọc mẫu, tôi yêu cầu học sinh nghe và quan sát khẩu hình miệng của mình để làm theo. Nếu học sinh làm theo, phát âm đúng, tôi khen ngợi kịp thời để tạo động lực cho các em. Ví dụ như: Em làm được rồi! hoặc Chỉ cần kiên trì em sẽ làm được thôi mà, cố lên! - Đối với trường hợp học sinh phát âm sai âm đầu l/n hoặc dấu thanh, tôi yêu cầu học sinh đọc lại, phát hiện ra lỗi sai và tự sửa lại cho đúng. Ví dụ: Khi dạy bài Ông tổ nghề thêu (Sách giáo khoa Tiếng Việt 3, tập 2, trang 22) Khi phát hiện học sinh phát âm sai một số tiếng hoặc từ như: “lúc, lầu, lọng, nếm, nặn, lam”, tôi yêu cầu học sinh thực hiện phát âm lại theo giáo viên. Một số học sinh có thể phát âm đúng sau 1 hoặc 2 lần. Tuy nhiên, một số học sinh vẫn không thể phát âm đúng thì tôi phải trực quan hóa sự mô tả âm vị và hướng dẫn học sinh quan sát, tự kiểm tra xem mình đang phát âm âm nào bằng cách sờ tay vào mũi. Nếu phát âm sờ tay vào cánh mũi thấy mũi rung thì đó là âm /n/, nếu phát âm sờ tay vào mũi mũi không rung thì đó là âm /l/. Sau đó, tôi cho học sinh luyện đọc lại các từ trên bằng cách bịt mũi lại. Bằng cách này học sinh có thể phát hiện ra khi bịt chặt mũi mình không thể phát âm ra các tiếng có âm đầu /n/ mà chỉ phát âm được các tiếng có âm đầu /l/. Từ đó học sinh có thể biết được mình đang phát âm tiếng có âm đầu /n/ hay âm đầu /l/. Khi học sinh đọc sai một số tiếng hoặc từ có thanh ngã thành thanh sắc như: “đỗ, bữa, những”, tôi sẽ cho học sinh đọc lại rồi hướng dẫn các em đối với những tiếng có thanh ngã cần đọc nhấn mạnh, hơi kéo dài và có luyến giọng. Còn tiếng có thanh sắc thì đọc nhẹ nhàng hơn, hơi ngắn và đọc nhanh. - Trong quá trình giảng dạy, tôi còn xây dựng nền nếp học tập, thói quen học tập tích cực, tự giác cho học sinh, xếp các em thuộc nhóm này tại các vị trí thuận lợi cho việc hướng dẫn, kèm cặp khi cần thiết. Đặc biệt, để xây dựng tinh thần đoàn kết, ý thức trách nhiệm trong tập thể, tôi cho học sinh 8 đọc tốt kèm học sinh đọc kém hơn trong các giờ truy bài, giờ ra chơi và giờ tự học. Học sinh giúp đỡ, chia sẻ trong giờ truy bài b) Đối với nhóm học sinh đọc ngắt, nghỉ hơi chưa hợp lí Trong Tiếng Việt, việc đọc ngắt nghỉ chưa đúng sẽ ảnh hưởng đến nội dung của câu văn. Vì vậy, khi cho học sinh luyện đọc đoạn, tôi hướng dẫn các em ngắt nghỉ ở những chỗ có dấu kết thúc câu: + Các dấu ở cuối câu, dấu ngăn cách các câu với nhau như dấu chấm, dấu chấm than, chấm hỏi, hai chấm, ba chấm thì các em sẽ nghỉ hơi một quãng bằng khoảng thời gian đọc một tiếng. + Khi đọc, gặp dấu phẩy, dấu chấm phẩy, dấu gạch ngang, dấu ngoặc đơn, các em sẽ nghỉ một quãng bằng nửa quãng nghỉ hơi sau dấu chấm. + Trong trường hợp dấu kết thúc câu đồng thời cũng kết thúc một đoạn để xuống dòng, quãng nghỉ sẽ dài gấp đôi khoảng thời gian phát âm một tiếng. Ngoài các dấu câu đặt cuối câu hay ngăn cách các bộ phận câu, còn có một số dấu câu dùng thể hiện lời nói ngắt quãng đặc biệt là dấu ba chấm, cụ thể: - Ngắt quãng giữa một tiếng 9 Ví dụ: Trong bài Trận bóng dưới lòng đường (Sách giáo khoa Tiếng Việt, tập 1, trang 54), có câu: Bỗng một tiếng “kít ít” làm cậu sững lại. Trong trường hợp này, tôi hướng dẫn các em không nghỉ hơi mà phát âm kéo dài tiếng có dấu ba chấm. - Ngắt quãng giữa tiếng hoặc từ Ví dụ: Cũng trong bài Trận bóng dưới lòng đường còn có câu: Ông ơi cụ ơi ! Cháu xin lỗi cụ. Trong trường hợp này, tôi hướng dẫn các em cần nghỉ ở chỗ dấu ba chấm một quãng bằng thời gian phát âm một tiếng. Khi đọc những cụm từ dài, tôi hướng dẫn học sinh ngắt nghỉ đúng để câu văn mạch lạc, rõ nghĩa. Ví dụ: Khi dạy bài Cuộc chạy đua trong rừng (Sách giáo khoa Tiếng Việt 3, tập 2, trang 80), học sinh đọc câu: Tiếng hô “Bắt đầu!” vang lên. Nếu khi đọc câu này học sinh không nghỉ hơi giữa các tiếng Tiếng hô/ “Bắt đầu!”vang lên thì sẽ làm người nghe không hiểu rõ nghĩa của câu. Để hướng dẫn học sinh nghỉ hơi cho đúng, tôi viết câu văn trên bảng, hướng dẫn cách ngắt nghỉ và cho học sinh luyện đọc nhiều. Bên cạnh việc đọc ngắt nghỉ đúng dấu câu, tôi còn hướng dẫn học sinh cách nhấn giọng những từ ngữ gợi tả, gợi cảm, ngắt nhịp giữa các dòng thơ đúng chỗ thể hiện giọng đọc phù hợp với nội dung. Ví dụ: Trong bài Về quê ngoại (Sách giáo khoa Tiếng Việt 3, tập 1, trang 133): Em về quê ngoại/ nghỉ hè,/ Gặp đầm sen nở/ mà mê hương trời// Gặp bà/ tuổi đã tám mươi,/ Quên quên nhớ nhớ/ những lời ngày xưa.// Gặp trăng/ gặp gió/ bất ngờ,/ Ở trong phố/ chẳng bao giờ có đâu.// Bạn bè/ ríu rít tìm nhau Qua con đường đất/ rực màu rơm phơi.// 10 Với bài đọc này, tôi hướng dẫn học sinh đọc với giọng nhẹ nhàng, tha thiết, tình cảm, thể hiện tình cảm yêu quê hương, yêu con người lao động, yêu quý người thân của mình. Lưu ý: Đối với tất cả các nhóm, kĩ năng đọc nhấn giọng và ngắt nghỉ đúng dấu câu rất quan trọng. Vì vậy, trong quá trình giảng dạy, tôi luôn lưu ý rèn kĩ năng này cho mọi học sinh trong lớp. Học sinh đọc nối tiếp đoạn c) Đối với nhóm học sinh đọc vẹt, chưa hiểu nội dung Để giúp học sinh hiểu nội dung bài đọc, từ đó có ý thức đọc hay, đọc diễn cảm bài thơ, bài văn, tôi thường xuyên rèn cho học sinh kĩ năng đọc thầm. Đọc thầm giúp các em cảm nhận nội dung bài, là hình thức đọc mà đòi hỏi các em học sinh phải có tính tự giác. Trước khi cho học sinh đọc thầm, tôi luôn giao nhiệm vụ cụ thể nhằm định hướng rõ việc đọc (Đọc cái gì? Đọc để làm gì?). Khi học sinh đọc thầm, tôi theo dõi, quan sát từng học sinh đọc để biết các em đang đọc đến đâu. Có như vậy, chất lượng đọc thầm mới được nâng cao, từ đó các em sẽ hiểu nội dung bài đọc. Kĩ năng này sẽ hỗ trợ các em trong quá trình tìm hiểu bài và theo sát suốt quá trình học tập của các em về sau. 11 Học sinh đọc thầm toàn bài trước khi tìm hiểu bài d) Đối với nhóm học sinh đọc hiểu và đọc diễn cảm chưa tốt Muốn người nghe cảm nhận được cái hay, cái đẹp của văn bản đòi hỏi người đọc phải hiểu nội dung, đọc diễn cảm văn bản. Đối với những em học sinh đã có kĩ năng đọc trơn tốt, cần nâng cao hơn yêu cầu cần đạt của tiết học là học sinh có thể đọc diễn cảm bài đọc, phát triển năng lực cho học sinh trong mỗi tiết Tập đọc mà giáo viên phải đề ra khi lên kế hoạch bài dạy. Đọc diễn cảm là khi người đọc thể hiện đúng ngữ điệu, làm chủ cường độ giọng đọc, chỗ ngừng nghỉ để biểu đạt được ý nghĩ, tình cảm mà tác giả gửi gắm trong bài đọc đồng thời thể hiện sự cảm thụ của người đọc đối với bài học. Khuyến khích học sinh đọc sáng tạo, tôi không áp đặt một cách đọc theo khuôn mẫu. Muốn vậy, trong hoạt động Tìm hiểu bài, tôi thường xuyên hướng dẫn học sinh trả lời câu hỏi theo ý hiểu của bản thân; mở rộng nội dung bài, để học sinh suy nghĩ, phán đoán, tạo cho học sinh có cơ hội phát huy năng lực sáng tạo trong học tập. Ví dụ 1: Khi dạy bài Ông tổ nghề thêu (Sách giáo khoa Tiếng Việt 3, tập 2, trang 22), khi trả lời câu hỏi tìm hiểu bài: Trần Quốc Khái đã làm thế nào để sống?. Học sinh thường trả lời cả một đoạn văn bản, câu văn có chứa 12 nội dung câu trả lời (Bụng đói mà không có cơm ăn, Trần Quốc Khái lẩm nhẩm đọc ba chữ trên bức trướng, rồi mỉm cười. Ông bẻ tay pho tượng nếm thử. Thì ra hai pho tượng ấy nặn bằng bột chè lam. Từ đó, ngày hai bữa, ông cứ ung dung bẻ dần tượng mà ăn.), mà chưa biết trình bày theo ý hiểu của bản thân. Tôi giúp các em trả lời đúng trọng tâm của câu hỏi, đó là: Ông nhận ra pho tượng làm bằng bột chè lam nên lấy đó làm đồ ăn để nuôi sống mình. Từ đó giúp các em biết cách trả lời theo hướng mở, không áp đặt phải đúng từng từ trong văn bản nhưng vẫn đúng yêu cầu của câu hỏi. Ví dụ 2: Khi dạy bài Người lính dũng cảm (Sách giáo khoa Tiếng Việt 3, tập 1, trang 38), học sinh đọc bài tập đọc, tôi lưu ý học sinh đọc đúng câu mệnh lệnh, câu hỏi; thể hiện được giọng của các nhân vật. Tuy nhiên, tôi không định hướng trước mà chỉ yêu cầu học sinh đọc diễn cảm đoạn bài, gọi 2-3 học sinh đọc, thảo luận và rút ra cách đọc phù hợp đối với lời của từng nhân vật: Lời viên tướng: - Vượt rào,/ bắt sống lấy nó!// (mệnh lệnh, dứt khoát) - Chỉ những thằng hèn mới chui. (dứt khoát) - Về thôi! (mệnh lệnh, dứt khoát) Lời chú lính nhỏ: - Chui vào à? (rụt rè, ngập ngừng) - Ra vườn đi! (khẽ, rụt rè) - Nhưng như vậy là hèn. (quả quyết) Đối với những bài đọc là truyện kể, một cách khác để rèn cho học sinh kĩ năng đọc diễn cảm là cho các em đóng vai, đọc diễn cảm lời của nhân vật. Cách làm này mang lại hiệu quả cao vì học sinh không phải đọc quá nhiều cùng lúc, lại giúp các em nhập tâm vào tâm trạng của nhân vật, phân biệt lời của nhân vật này với nhân vật khác. Thực tế trong giảng dạy, tôi thấy học sinh của mình rất tích cực tham gia đọc phân vai nhân vật. 13 Học sinh tích cực tham gia trong tiết học Ngoài các bài đọc trong sách giáo khoa, để bồi dưỡng việc đọc hiểu, tôi khuyến khích học sinh của mình tìm đọc sách trong Thư viện và ghi chép những thông tin đọc được vào vở tự học. Việc này sẽ hỗ trợ nhiều cho các em trong khi học các môn học khác. Từ đó, rèn kĩ năng đọc hiểu và kĩ năng nghe ghi cho học sinh ở các lớp học sau này. 14 Biện pháp 2: Khơi gợi trí tưởng tượng, tạo hứng thú khi bắt đầu tiết học bằng hoạt động Giới thiệu bài Đối với các tiết học nói chung và giờ Tập đọc nói riêng, giới thiệu bài là một bước làm quan trọng không thể thiếu, nó quyết định một phần đến sự hứng thú của học sinh trong giờ học đó. Việc giới thiệu bài từ trước đến nay đều thường bắt đầu bằng việc giáo viên yêu cầu học sinh quan sát tranh minh họa của bài đọc, từ đó dẫn vào nội dung bài. Cách giới thiệu bài này giúp học sinh bước đầu có hiểu biết về nhân vật, nội dung của bài đọc nhưng nếu lặp lại nhiều lần sẽ làm học sinh thấy nhàm chán. Để tạo hứng thú bước vào tiết học, ngoài cách sử dụng tranh minh họa, tôi thường giới thiệu bài bằng một số cách sau: * Sử dụng trò chơi Trò chơi là hoạt động phổ biến trong các tiết học đối với học sinh Tiểu học. Việc sử dụng trò chơi thường được tổ chức vào cuối tiết học để giúp học sinh ghi nhớ và củng cố kiến thức. Đối với giờ Tập đọc, tôi sử dụng trò chơi để giới thiệu về nhân vật hoặc một sự việc, khung cảnh xảy ra trong câu chuyện của bài tập đọc nhằm tạo sự tò mò, hứng thú cho học sinh khi bắt đầu tiết học. Trò chơi Mảnh ghép (Dành cho dạy tiết Tập đọc đầu tiên của mỗi chủ điểm) Mục đích: Giúp học sinh nhận biết nhân vật, nội dung của chủ điểm. Qua đó, củng cố kĩ năng quan sát, suy luận logic và phản ứng nhanh. Kích thích sự tò mò vốn có của học sinh tiểu học. Chuẩn bị: Phần trình chiếu nội dung trò chơi. Cách chơi: + Học sinh dưới lớp chơi theo hình thức cá nhân. + Giáo viên tổ chức cho học sinh chơi: Có một bức tranh chủ đề, bức tranh này bị che khuất bởi nhiều bức tranh khác, cứ 5 giây, 1 bức tranh nhỏ 15 biến mất, để lộ ra 1 phần bức tranh bên dưới. Các em hãy dùng đôi mắt tinh nhanh và óc suy luận của mình để đoán xem bức tranh bên dưới là gì nhé! + Giáo viên thao tác với máy tính và ti vi. Học sinh nào phát hiện ra nội dung bức tranh thì giơ tay giành quyền trả lời. Nếu học sinh trả lời đúng, giáo viên tuyên dương trước lớp và dùng bức tranh giới thiệu nội dung chủ điểm. Nếu học sinh trả lời sai, giáo viên tiếp tục làm biến mất các bức tranh nhỏ, quyền trả lời nhường cho những học sinh khác. Học sinh tham gia trò chơi khi học về chủ điểm Nghệ thuật Trò chơi Đố vui (Mở rộng kiến thức hiểu biết thực tế liên quan đến bài học) Mục đích: Giúp học sinh mở rộng kiến thức, hiểu biết của bản thân về cuộc sống. Rèn luyện cho học sinh khả năng tư duy. Qua đó, tích hợp các nội dung giáo dục môi trường, bồi đắp tình yêu quê hương, đất nước. Chuẩn bị: Phần câu đố. Cách chơi: + Giáo viên mời 1 học sinh lên làm quản trò tổ chức trò chơi. + Quản trò lần lượt đưa những câu đố vui liên quan đến chủ đề bài học (những câu đố này do giáo viên chuẩn bị trước). Học sinh dưới lớp lần lượt trả lời bằng hình thức giơ tay. Bạn nào trả lời đúng sẽ được tuyên dương, nếu trả lời sai, quản trò gọi người khác trả lời lại. 16 * Sử dụng video, bài hát Các công cụ hình ảnh, âm thanh giúp đỡ rất nhiều cho giáo viên trong việc kích thích trí tưởng tượng, sự hào hứng của học sinh đối với tiết học. Với thời đại công nghệ số như hiện nay, việc sử dụng những thành quả công nghệ thông tin trong giảng dạy là sự hỗ trợ cần thiết để một tiết học đạt hiệu quả. Trước khi bắt đầu bài học, tôi có thể cho học sinh hát một bài hát hoặc xem một đoạn video ngắn có liên quan đến nội dung bài học, từ nội dung bài hát, đoạn video sẽ bắt vào giới thiệu bài mới. Ví dụ 1: Khi dạy bài Cảnh đẹp non sông (Sách giáo khoa Tiếng Việt 3, tập 1, trang 97), tôi giới thiệu cho học sinh đoạn video ngắn về cảnh đẹp của đất nước. Đoạn video ngắn khoảng 2 phút. Trước khi cho học sinh xem, tôi đưa ra câu hỏi: Em hãy theo dõi đoạn video và cho biết trong đoạn video có nhắc tới những địa danh nào? Mời các em cùng theo dõi. Học sinh tập trung quan sát đoạn video nói về cảnh đẹp đất nước Ví dụ 2: Khi dạy bài Nhớ lại buổi đầu đi học (Sách giáo khoa Tiếng Việt 3, tập 1, trang 51), cán bộ lớp bắt nhịp cho cả lớp hát bài Ngày đầu tiên đi học. Trong giờ học hôm nay, cô và các em cùng nhớ lại những cảm xúc của những buổi đầu đi học. Vậy những cảm xúc ấy như thế nào, chúng mình cùng theo dõi vào bài tập đọc nhé. 17 Cán bộ lớp bắt nhịp cho học sinh cả lớp hát Trên thực tế, khi áp dụng các cách giới thiệu bài như này, trong phần sau của tiết học, tôi thấy học sinh thoải mái và chăm chú hơn vào tiết học. Biện pháp 3: Phối hợp với cha mẹ học sinh để luyện đọc cho học sinh tại nhà. Giáo viên khi tham gia công tác giáo dục không chỉ nắm bắt số lượng, danh sách họ tên, hoàn cảnh gia đình, năng lực, phẩm chất của học sinh mà còn phải biết huy động các lực lượng giáo dục khác trong xã hội như cha mẹ học sinh cùng vào cuộc trong việc giáo dục con em mình. - Trong buổi họp phụ huynh đầu năm, tôi đưa ra đề xuất biện pháp sẽ thực hiện để phối hợp tốt với gia đình học sinh trong việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh. Cha mẹ học sinh của lớp đều đồng tình và cam kết sẽ động viên, nhắc nhở con em mình trong việc học tập ở lớp cũng như việc tự ôn tập ở nhà. Tôi giới thiệu với phụ huynh về nội dung chương trình môn Tiếng Việt, đưa ra cho phụ huynh những giải pháp cụ thể để hướng dẫn con tại nhà như: + Yêu cầu con đọc trước bài đọc theo từng tuần học của sách giáo khoa, khi đọc kết hợp gạch chân những từ khó đọc hay đọc sai. + Viết ra vở nháp nhiều lần từ đọc khó, đọc sai, đọc thành tiếng nhiều lần đến khi thành thạo. 18 + Đọc giải nghĩa những từ mới trong bài đọc. Khi có sự chuẩn bị trước bài như vậy, tâm lý học sinh khi đến lớp sẽ tự tin hơn, hăng hái phát biểu để xây dựng bài học. - Đối với những em đọc chưa tốt, kĩ năng đọc còn gặp nhiều khó khăn, tôi thường xuyên gọi điện, trao đổi với phụ huynh qua zalo riêng, tư vấn cho phụ huynh những kinh nghiệm của bản thân trong giảng dạy để giúp phụ huynh có phương pháp khi dạy con. Tránh quát nạt làm các con sợ hãi, việc học tập sẽ gặp khó khăn. + Hàng ngày, để tạo cho con môi trường luyện đọc bằng cách mua cho con đọc những cuốn truyện hay và bổ ích hoặc nhờ con đọc cho mình nghe sách, báo, bản tin trên truyền hình hoặc cùng con đọc phân vai bài tập đọc. Việc làm này vừa gắn kết tình cảm gia đình lại giúp con luyện đọc, bồi dưỡng tâm hồn và kĩ năng sống cho con em mình. + Ngoài ra, các cuộc thi, sân chơi trí tuệ trên mạng Internet như cuộc thi Trạng Nguyên Tiếng Việt cũng là một cơ hội để học sinh tự trau dồi kiến thức và tích lũy thêm kĩ năng cho bản thân nên việc được sự ủng hộ của cha mẹ học sinh sẽ rất cần thiết. - Đặc biệt, tôi luôn quan tâm tới mối liên kết giữa phụ huynh và giáo viên để luôn có sự liên hệ và phản hồi kịp thời để từ đó có những biện pháp hỗ trợ khi học sinh gặp khó khăn trong quá trình học tập. Phụ huynh học cùng con khi ở nhà

File đính kèm:

  • pdfmot_so_bien_phap_ren_ki_nang_doc_cho_hoc_sinh_lop_3.pdf