Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi thông qua các tác phẩm văn học tại trường Mầm non Quảng Minh

docx23 trang | Chia sẻ: Thảo Hoa | Ngày: 03/02/2026 | Lượt xem: 8 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang mẫu tài liệu Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi thông qua các tác phẩm văn học tại trường Mầm non Quảng Minh, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN VIỆT YÊN TRƯỜNG MẦM NON QUẢNG MINH TÊN SÁNG KIẾN MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮCHO TRẺ 4-5 TUỔITHÔNG QUA CÁC TÁC PHẨMVĂN HỌC TẠI TRƯỜNG MẦM NON QUẢNG MINH Tác giả:Trịnh Thị Bích Chức vụ:Tổ trưởng chuyên môn Đơn vị công tác:Trường mầm non Quảng Minh Việt Yên, tháng 05 năm 2023 MỤC LỤC Trang NỘI DUNG Mục lục 2,3 PHẦN I. MỞ ĐẦU 4 I. LÝ DO VIẾT SÁNG KIẾN 4 II.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 5 III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5 1. Đối tượng nghiên cứu 5 2. Phạm vi nghiên cứu 5 IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 5 V. PHƯƠNG PHÁM NGHIÊN CỨU 5 VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA SÁNG KIẾN 6 PHẦN II. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 7 I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7 1. Cơ sở lý luận 7 2. Cơ sở thực tiễn 8 II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 10 1. Ưu điểm 10 2. Tồn tại, hạn chế 11 3. Nguyên nhân 11 III. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 12 1. Giải pháp 1: Giáo dục nề nếp thói quen, dựa vào khả năng trẻ 12 2. Giải pháp 2: Xây dựng môi trường phong phú thân thiện và phù hợp 13 3. Giải pháp 3: Phương pháp hướng dẫn phải dựa vào trẻ, lấy trẻ làm 15 trung tâm 4.Giải pháp 4: Lồng ghép các môn học khác khi dạy trẻ kể chuyện đọc thơ 15 5. Giải pháp 5: Thường xuyên tổ chức tốt các hoạt động góc có trò chơi 16 đóng kịch, kể chuyện theo tranh, kể chuyện sáng tạo 6. Giải pháp 6: Xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp 17 7. Giải pháp 7: Ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy 18 IV. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG SÁNG KIẾN 19 2 V. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN 19 PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 21 I. Kết luận. 21 II. Kiến nghị. 21 1. Đối với ngành giáo dục 21 2. Đối với nhà trường 21 CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 23 3 PHẦN I. MỞ ĐẦU I. LÝ DO VIẾT SÁNG KIẾN Ở trường mầm non việc phát triển ngôn ngữ là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất. Mục đích của công việc này là bước đầu hình thành cho trẻ những năng lực ngôn ngữ như lời nói và phát âm,khả năng sử dụng từ ngữ, các kiểu câu tiếng việt và đặc biệt là nói năng mạch lạc trong giao tiếp và học tập. Ngoài ra, đối với trẻ em ngôn ngữ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển tư duy và nhân cách trẻ.Việc chậm phát triển ngôn ngữ có thể ảnh hưởng không tốt đến trẻ cũng như thiếu hụt khả năng truyền tải thông tin với bạn bè và người khác. Bác Hồ của chúng ta đã dạy: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, tôn trọng nó”. Do đó, việc dạy tiếng mẹ đẻ cho trẻ tuổi mầm non có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ngôn ngữ của trẻ phát triển tốt sẽ giúp cho trẻ nhận thức và giao tiếp tốt góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ. Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hoà nhập với cộng đồng và trở thành một thành viên của cộng đồng. Nhờ có những lời chỉ dẫn của người lớn mà trẻ dần dần hiểu được những quy định chung của cộng đồng mà mọi thành viên trong cộng đồng phải thực hiện, mặt khác trẻ cũng có thể dùng ngôn ngữ để bày tỏ những nhu cầu mong muốn của mình với các thành viên trong cộng đồng. Điều đó giúp trẻ hoà nhập với mọi người. Thông qua vai trò của ngôn ngữ đã giúp trẻ lĩnh hội nền văn hóa dân tộc, để giao lưu với những người xung quanh, để tư duy, tiếp thu khoa học và bồi bổ tâm hồn, giúp hình thành và phát triển nhân cách trẻ. Như vậy ngôn ngữ có vai trò to lớn đối với xã hội và đối với con người. Vấn đề phát triển ngôn ngữ một cách có hệ thống cho trẻ ngay từ nhỏ là nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Thông qua hoạt động dạy và học dưới hình thức như tạo hình, môi trường xung quanh sẽ giúp trẻ phát triển trí tuệ, óc sáng tạo, nhân cách con người, bộ môn “làm quen văn học” là một hoạt động không thể thiếu được đối với trẻ ở lứa tuổi mầm non. Đặc biệt nó rất gần gũi với trẻ thơ, từ buổi đầu thơ ấu trẻ đã sống chan hòa trong không khí lời ru “ầu ơ” đầy yêu thương tận tình của bà, của mẹ và đó cũng là cánh cửa mở ra chân trời nhận thức cho trẻ. Từ khi lọt lòng mẹ đến lúc chập chững tập đi, tập nói, đến lúc trẻ biết đọc, biết viết thì văn học là chiếc cầu nối, là phương tiện dẫn dắt trẻ đến với các loại hình nghệ thuật khác. Qua việc cho trẻ làm quen tác phẩm văn học hình thành ở trẻ những tình cảm đạo đức tốt đẹp, những cảm xúc thẫm mỹ, phát triển trí tưởng tượng như: Lòng yêu thiên nhiên cây cối, cảnh vật, hoa lá, lòng kính trọng yêu thương gần gũi và giúp đỡ những người thân xung quanh trẻ như ông bà, bố mẹ, cô giáo, anh chị em. Thông qua các tác phẩm văn học thế giới xung quanh ở trẻ được hình thành và phát triển, quá trình tạo ra môi trường hoạt động, tạo ra các tình 4 huống và tổ chức các hoạt động cho trẻ tiếp xúc, trải nghiệm với các sự vật hiện tượng của môi trường xung quanh, qua đó trẻ hiểu biết về đặc điểm, tính chất, các mối quan hệ, sự thay đổi và phát triển của chúng giúp trẻ học được các kỹ năng quan sát, phân nhóm, phân loại, đo lường, phán đoán và giải quyết vấn đề, chuyển tải ý kiến của mình và đưa ra kết luận về các sự vật hiện tượng đã quan sát, qua đó hiểu biết của trẻ về đối tượng được củng cố và chính xác hơn, ngôn ngữ được phát triển. Nắm được ý nghĩa và tầm quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ tôi đã mạnh dạn đưa ra đề tài “ Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4- 5tuổi thông qua các tác phẩm văn học tại trường Mầm non Quảng Minh”làm đề tài nghiên cứu. II.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU - Kể chuyện đọc thơ, đóng kịch... có tầm quan trọng rất lớn đối với sự phát triển của trẻ nhỏ. Thông qua tácphẩm văn học giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, góp phần nâng cao nhận thức, phát triển các giác quan, phát triển về mặt tình cảm xã hội khi trẻ hiểu nội dung các câu chuyện. - Bằng việc tổ chức các hoạt động dạy trẻ kể chuyện, đọc thơ, đóng kịch , giúp phát triển ngôn ngữ cho trẻ và khả năng giao tiếp của trẻ mạnh dạn tự tin hơn. - Chính vì vậy mục đích tôi nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 4- 5 tuổi thông qua các tác phẩm văn học tại trường Mầm non Quảng Minh” nhằm tìm ra một số biện pháp hữu hiệu nhất trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua tổ chức cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học góp phần phát triển toàn diện cho trẻ 4- 5 tuổi ở trường Mầm non Quảng Minh. III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu thực trạng công tác phát triển ngôn ngữ cho trẻ MG 4- 5 tuổi B1, ở trường Mầm non Quảng Minh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. 2.Phạm vi nghiên cứu - Không gian: Tại lớp mẫu giáo 4- 5 tuổi B1, Trường Mầm non Quảng Minh -Thời gian: Tháng 9 năm 2023 đến hết tháng 4 năm 2024 IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Thực hiện áp dụng: “Một số biện pháp phát tiển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 4- 5 tuổi thông qua các tác phẩm văn học tại trường mầm non Quảng Minh” V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phương pháp đàm thoại Phương pháp quan sát Phương pháp trực quan 5 Phương pháp thực hành trải nghiệm Phương pháp điều tra khảo sát thực tế Phương pháp thống kê xử lý số liệu Phương pháp tổng hợp phân tích các tài liệu có liên quan. VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA SÁNG KIẾN * Về mặt lý luận Trong những năm gần đây việc đổi mới hình thức lấy trẻ làm trung tâm là nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Thực trạng việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các tác phẩm văn học sẽ phát huy được tính tích cực chủ động, sáng tạo trong nhận thức, tư duy và phát triển các năng lực bản thân trẻ. Trong quá trình học ở trường mầm non, trẻ được phát triển ngôn ngữ qua các tác phẩm văn học theo những chủ đề, chủ điểm khác nhau. Qua đó trẻ được giáo dục tình yêu quê hương đất nước, tình yêu gia đình người thân, yêu cô giáo và bạn bè. Trẻ cũng được học tập những phẩm chất tốt đẹp của con người chân chính như: Lòng trung thực, dũng cảm, long biết ơn và được mở rộng kiến thức về cuộc sống tự nhiên và xã hội. Đồng thời, trẻ tích cực tham gia rất nhiều hoạt động học tập và vui chơi. Trẻ sống trong những cảm xúc, tình cảm từ các tác phẩm văn học. Trẻ còn hướng tới những tình cảm cao đẹp trong sáng đằm thắm, thiết tha. Trẻ còn có được tình yêu thiên nhiên, tình yêu con người và có những phẩm chất đạo đức tốt. Qua đó giúp trẻ phát triển toàn diện về nhân cách. * Về mặt thực tiễn Qua áp dụng thực hiện chuyên đề: Làm quen văn học trong trường Mầm non. Đây là một chuyên đề lớn, không kém phần quan trọng khi thực hiện chuyên đề này giáo viên cần nghiên cứu kỹ tài liệu chuyên đề bồi dưỡng thường xuyên tham gia dự giờ các tiết dạy thơ, chuyện để đúc rút kinh nghiệm cho bản thân. Từ đó tôi nhận thấy rằng, bộ môn làm quen với tác phẩmvăn học còn có tầm quan trọng trong việc phát triển nhận thức, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mỹ và qua đọc thơ kể chuyện làm giàu vốn từ cho trẻ, rèn luyện khả năng phát âm và cách diễn đạt mạch lạc. Các tác phẩm thơ chuyện chỉ có thể phát huy tác dụng của nó khi cô biết chuyển tải được tư tưởng cảm xúc của tác giả và nội dung tác phẩm thông qua các hình thức nghệ thuật hấp dẫn, phong phú, đa dạng. Qua đó giúp trẻ phát huy được tính tích cực cá nhân- tự tin- độc lập-sáng tạo- hình thành tư duy- khả năng ghi nhớ có chủ đích, những tình cảm đạo đức tốt đẹp có khả năng hoạt động nghệ thuật, sáng tạo. 6 PHẦN II. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lý luận Văn học là môn học rất quan trọng đối với trẻ mầm non, là phương tiện phát triển ngôn ngữ giúp trẻ có đủ vốn từ để nói năng lưu loát, diễn đạt gãy gọn biết sử dụng từ đúng lúc, đúng chỗ, không những thế mà việc dạy trẻ làm quen với những từ ngữ nghệ thuật như từ tượng hình, từ tượng thanh giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng, óc quan sát, khả năng tư duy độc lập trong suy nghĩ. Thông qua nội dung các tác phẩm văn học giáo dục trẻ biết yêu quý thiên nhiên,con người con vật, cây cối Đồng thời giúp trẻ biết ơn và kính yêu ông bà, bố mẹ, anh chị, bạn bè, biết nhường nhịn em nhỏ, biết dùng từ phù hợp với hoàn cảnh cũng như đối tượng mà trẻ giao tiếp. Xuất phát từ những vai trò cụ thể đó nên hoạt động dạy trẻ làm quen với văn học là môn học không thể thiếu trong trương trình chăm sóc giáo dục trẻ. Vì vậy việc nâng cao chất lượng dạy trẻ làm quen với tác phẩm văn học là vấn đề quan trọng trong đổi mới hình thức tổ chức giáo dục mầm non. Làm quen với tác phẩm văn học chỉ ra mức độ, giới hạn, yêu cầu của việc cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học qua nghệ thuật đọc và kể chuyện của cô giáo. Hoạt động này nhằm dẫn dắt, hướng dẫn trẻ cảm nhận những giá trị nội dung, nghệ thuật phong phú trong tác phẩm, khơi gợi ở trẻ sự rung động, hứng thú đối với văn học, có ấn tượng về những hình tượng nghệ thuật, cái hay cái đẹp của tác phẩm và thể hiện sự cảm nhận đó qua các hoạt động mang tính chất văn học nghệ thuật như đọc thơ,kể chuyện, chơi trò chơi đóng kịch; Cao hơn là tiến tới sáng tạo ra những vần thơ, câu chuện theo tưởng tượng của mình, góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách trẻ. Nhờ được nghe, tiếp xúc với các tác phẩm văn học mà trẻ có những hiểu biết sơ đẳng về văn học, đó là khả năng mô tả cuộc sống xung quanh phong phú, hấp dẫn bằng những dạng thức khác nhau. Bước đầu trẻ sẽ nhận biết được sự khác nhau về nội dung và hình thức giữa các thể loại thơ, chuyện. Không những giúp trẻ cảm nhận được cái đặc sắc của cách diễn đạt hình tượng, mà giáo viên còn cần giúp trẻ phân biệt được hình tượng nghệ thuật với hiện thực, hình thành một số khái niệm văn học như: Thơ, chuyện, nhân vật, hình ảnh , giúp trẻ trao đổi những điều đã được nghe và bộc lộ những suy nghĩ của mình về tác phẩm, nhằm phát triển đời sống tinh thần của trẻ. Tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật, cần giúp trẻ nhận biết các mối quan hệ biểu hiện giữa hoàn cảnh, trạng thái, tình huống và nhân vật; giữa lời kể, lời thuật, lời bạch trữ tình và ngôn ngữ nhân vật; giữa âm sắc, giọng điệu chung của tác phẩm văn học và hành động văn học. Chưa yêu cầu trẻ phải nhớ hết mối quan hệ phức tạp và chưa đòi hỏi trẻ phân biệt quan hệ chính phụ trong truyện mà chỉ nhằm giúp trẻ nhận ra tính liên tục của cốt truyện trong các mối liên quan đến nhân vật trung tâm của tác phẩm. 7 - Với truyện kể, ta hãy giúp trẻ nhận ra, nhớ được sắc thái cơ bản trong giọng kể, lời thuật, phân biệt ngữ điệu lời nói các loại nhân vật, giúp trẻ nhận ra ngôn ngữ đời thường (khẫu ngữ) và ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính. Qua tác phẩn văn học, trẻ quen dần tính chất nhiều ý nghĩa và tinh luyện của ngôn ngữ văn hoá, dần dần tiến tới hiểu được nghĩa thực đến nghĩa bóng, từ nghĩa văn cảnh đến ý tưởng nhà văn muốn truyền đạt. - Khi cho trẻ làm quen với tác phẩn văn học góp phần mở rộng nhận thức, phát triển trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mĩ, phát triển ngôn ngữ, phát triển ở trẻ hứng thú “đọc sách” kỹ năng đọc và kể tác phẩm,trẻ thực hành trên lớp dưới sự điều phối, hướng dẫn của giáo viên. 2.Cơ sở thực tiễn. a. Khái niệm, vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ. - Khái niệm: Có rất nhiều quan điểm, nhận định, khái niệm khác nhau về ngôn ngữ, nhưng tựu chung lại có thể nói ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt, tồn tại và phát triển theo sự tồn tại, phát triển của xã hội loài người. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt. Ngôn ngữ là phương tiện nhận thức và giao tiếp hữu hiệu nhất của con người. Nhờ có ngôn ngữ, con người mới có phương tiện để nhận thức và thể hiện nhận thức của mình, để giao tiếp và hợp tác với nhau. - Vai trò của ngôn ngữ: + Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong việc phát triển trí tuệ cho trẻ. Ngôn ngữ là phương tiện nhận thức thế giới xung quanh, là cơ sở của mọi sự suy nghĩ, là công cụ của tư duy. Trẻ có nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh. Thông qua ngôn ngữ, lời nói của người lớn, trẻ làm quen với các sự vật, hiện tượng và hiểu những đặc điểm, tính chất, cấu tạo, công dụng... của chúng và trẻ học được từ tương ứng. Sự phát triển của ngôn ngữ giúp cho hoạt động trí tuệ, các thao tác tư duy ngày càng được hoàn thiện, kích thích trẻ tích cực, sáng tạo hoạt động trí tuệ. Có nhiều phương tiện để nhận thức thế giới xung quanh nhưng ngôn ngữ là phương tiện nhận thức hữu hiệu. Thông qua ngôn ngữ trẻ nhận thức thế giới xung quanh chính xác, rõ ràng, sâu và rộng. Ngôn ngữ giúp trẻ tích cực, sáng tạo trong hoạt động trí tuệ do vậy việc phát triển trí tuệ không thể tách rời với việc phát triển ngôn ngữ. + Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong việc hình thành và điều chỉnh những hành vi của trẻ:Thông qua ngôn ngữ trẻ biết những gì nên, không nên , qua đó rèn luyện những phẩm chất đạo đức tốt ở trẻ, dần dần hình thành ở trẻ những khái niệm ban đầu về đạo đức (ngoan - hư, tốt - xấu...). + Ngôn ngữ có tác dụng to lớn trong việc hình thành những phẩm chất đạo đức tốt đẹp ở trẻ. Ngôn ngữ đã góp phần không nhỏ vào việc trang bị cho trẻ những hiểu biết về những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức, rèn luyện cho trẻ những tình cảm và hành vi đạo đức phù hợp với xã hội mà trẻ đang sống. 8 + Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục thẩm mĩ:Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong quá trình tác động có mục đích, có hệ thống nhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ cái đẹp và hiểu đúng đắn cái đẹp trong tự nhiên, trong đời sống xã hội, trong nghệ thuật, giáo dục cho trẻ lòng yêu cái đẹp và năng lực tạo ra cái đẹp. - Thông qua ngôn ngữ, trẻ nhận thức được cái đẹp ở thế giới xung quanh, qua đó làm cho tâm hồn trẻ càng thêm bay bổng, trí tưởng tượng càng phong phú; đồng thời trẻ càng yêu quý cái đẹp, trân trọng cái đẹp và có ý thức sáng tạo ra cái đẹp. - Thông qua ngôn ngữ văn học, trẻ cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ, cái đẹp trong hành vi, cái đẹp trong cuộc sống. + Vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển thể lực:Để phát triển thể lực cho trẻ cần kết hợp nhiều phương pháp khác nhau, trong đó, ngôn ngữ đóng góp một vai trò quan trọng đáng kể. Trong các hoạt động góp phần phát triển thể lực như các trò chơi vận động, các giờ thể dục, trong chế độ ăn... giáo viên đều cần dùng đến ngôn ngữ để hướng dẫn trẻ thực hiện tốt những yêu cầu cần đạt. Hoạt động nói năng liên quan đến các cơ quan hô hấp, thính giác, bộ máy phát âm... Quá trình phát âm là quá trình rèn luyện bộ máy cấu âm, rèn luyện phổi, khí quản và các bộ phận khác của cơ thể. Để có thể lực tốt cần có một chế độ vệ sinh hợp lí. Ngôn ngữ cũng tham gia vào quá trình chăm sóc vệ sinh để trẻ phát triển thể lực. b. Nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ. - Giáo dục chuẩn mực ngữ âm tiếng Việt (Luyện phát âm chuẩn cho trẻ): + Luyện cho trẻ nghe âm thanh ngôn ngữ. + Dạy trẻ phát âm đúng là dạy cho trẻ biết phát âm chính xác các âm vị, âm tiết, từ, câu theo chuẩn mực âm thanh tiếng mẹ đẻ. + Dạy trẻ phát âm đúng là còn phải dạy cho trẻ biết điều chỉnh âm lượng, thể hiện đúng ngữ điệu, có tác phong văn hoá trong quá trình giao tiếp. + Sửa các lỗi phát âm cho trẻ. - Hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ: + Trẻ nói được nhờ nghe người lớn nói và bắt chước. Phát triển vốn từ cho trẻ là việc tổ chức có kế hoạch, có khoa học nhằm cung cấp, làm giàu vốn từ, nâng cao khả năng hiểu nghĩa của từ, củng cố và tích cực hoá vốn từ cho trẻ, giúp trẻ biết vận dụng phù hợp vốn từ đó trong hoạt động giao tiếp. - Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp và nói các kiểu câu theo mục đích phát ngôn. 9 + Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp còn là củng cố cách sử dụng đúng một số kiểu câu, sửa một số kiểu câu sai cho trẻ, cho trẻ làm quen với các kiểu câu mới khó hơn và cuối cùng sẽ hình thành cho trẻ thói quen nói đúng ngữ pháp. + Dạy trẻ nói các kiểu câu theo mục đích phát ngôn: Dạy trẻ nói các kiểu câu theo mục đích phát ngôn gồm: Câu kể (câu tường thuật, câu trần thuật), câu hỏi (câu nghi vấn), câu cầu khiến, câu cảm thán. II.THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT Trường mầm non Quảng Minh đóng trên địa bàn xãQuảng Minh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, là một xã gần các khu công nghiệp và vì thế công tác chăm sóc giáo dục của đội ngũ giáo viên trong trường luôn gặp những khó khăn nhất định, hầu hết các bậc phụ huynh chủ yếu là công nhân các khu công nghiệp thường làm thêm giờ về muộn nên không có thời gian chăm sóc và trò chuyện giao tiếpcùng với con, do vậy khả năng phát triển vốn từ của trẻ còn ít. Qua các năm thực hiện chuyên đề cho trẻ làm quen tác phẩm văn học –làm quen chữ viết, giáo viên đã thực sự có nhiều đầu tư vào việc nâng cao các phương pháp, hình thức cho trẻ làm quen tác phẩm văn học đã chú trọng nhiều đến việc đọc, kể diễn cảm và dạy trẻ kể lại chuyện, kể sáng tạo dưới nhiều hình thức đa dạng và phong phú. Song việc dạy trẻ đóng kịch còn có nhiều hạn chế. Chưa có sáng tạo trong việc chuyển thể từ chuyện kể sang kịch bản sân khấu, không tạo ra được tính kịch - sự kiện - sự biến, lời thoại còn dài dòng khó hiểu, giáo viên còn nặng nề trong việc dẫn chuyện làm cho kịch bản trở nên rời rạc, kém hấp dẫn. Bên cạnh đó vẫn còn một số giáo viên khả năng cảm nhận các tác phẩm văn học còn hạn chế giọng đọc và cách phối hợp ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ, minh họa chưa bộc lộ cảm xúc hấp dẫn cuốn hút người nghe, phương pháp lồng ghép tích hợp chưa linh hoạt sáng tạo, kết quả trên trẻ chưa cao, trẻ chưa thực sự say mê, hào hứng. Đặc biệt vì trẻ lớp tôi các cháu không cùng độ tuổi nên khả năng nhận thức không đồng đều. Do vậy việc chotrẻ đọc thơ, kể chuyện, đóng kịch một cách lưu loát, rõ ràng câu từ là điều không phải một sớm một chiều giáo viên có thể làm được. Bên cạnh đó việc sử dụng đồ dùng dạy học chưa có khoa học, dẫn đến giờ học trẻ ít tập trung chú ý hiệu quả trên tiết học chưa cao. Đối với nghành giáo dục yêu cầu trẻ “học mà chơi, chơi mà học” thông qua các tác phẩm văn học một cách nhẹ nhàng, gần gũi hơn. Từ thực trạng trên lớp tôi có những ưu điểm, tồn tại hạn chế và nguyên nhân như sau: 1.Ưu điểm - Ban giám hiệu nhà trường đã tổ chức các hội thi khảo sát tay nghề, thi giáo viên dạy giỏi cấp trường, thi đồ dùng dạy học để chị em đồng nghiệp tham 10 gia và trau dồi kiến thức kĩ năng cho bản thân. Học hỏi đồng nghiệp để giúp nhau cùng tiến bộ. - Bản thân là tổ trưởng chuyên môn nên nắm vững chuyên môn và hàng năm được BGH cử đi tiếp thu chuyên đề huyện. - Bản thân tôi là một giáo viên mầm non, yêu nghề mến trẻ, tôi luôn luôn cố gắng rèn luyện không ngừng tìm tòi cái mới, học hỏi đồng nghiệp nâng cao trình độ chuyên môn của mình mọi lúc mọi nơi. - Trẻ lớp tôi hầu hết các cháu đều ngoan ngoãn, nhanh nhẹn, khỏe mạnh và sức khỏe phát triển bình thường. 2. Tồn tại, hạn chế. - Đồ dùng, phương tiện phục vụ cho hoạt động làm quen văn học ở trường chưa đủ đáp ứng nhu cầu đủ cho việc dạy, học của giáo viên và học sinh. - Việc tiếp cận công nghệ thông tin còn lạc hậu nên ngôn ngữ lời nói của trẻ còn nghèo nàn. - Việc lựa chọn các bài dạy đưa vào từng chủ đề còn chưa phong phú, hấp dẫn để lôi cuốn trẻ. - Chất giọng của cô chưa thực sự thu hút trẻ, hình thức vào bài cũng như cách tích hợp dẫn dắt chưa logic, chưa thu hút sự chú ý của trẻ. - Đa số phụ huynh làm công nhân, ít có điều kiện giao tiếp với các con nên chưa chú trọng vào việc giáo dục và phát triển ngôn ngữ cho con em mình. - Ý thức về việc chăm sóc giáo dục con cái của các bậc phụ huynh còn rất hạn chế, bên cạnh đó hầu hết trẻ khi đến trường đều chưa có khả năng giao tiếp để phát triển ngôn ngữ. Nên khi giáo viên tổ chức các hoạt động ở lớp nói chung và dạy trẻ học tốt môn văn học nói riêng thường gặp rất nhiều trở ngại và không đem lại kết quả như mong đợi. - Một số phụ huynh chưa hiểu được tầm quan trọng của môn văn học trong sự phát triển toàn diện cho trẻ. - Số trẻ trong lớp đông nên nên khả năng phát triển ngôn ngữ của từng trẻ khác nhau, không đồng đều: một số trẻ ngọng, khả năng diễn đạt câu chưa chính xác, chưa rõ ràng, mạch lạc. 3. Nguyên nhân - Dokhối lượng công việc một ngày ở lớp của giáo viên quá nhiều, ít có thời gian để có thể làm nhiều loại đồ dùng , đồ chơi phong phú cho hoạt động. - Do giáo viên chưa thực sự đầu tư để mua sắm thiết bị máy móc để ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học. - Do phụ huynh đa số là công nhân nên chưa dành nhiều thời gian quan tâm đến việc chăm sóc và giáo dục trẻ. Một số phụ huynh chưa thực sự chú trọng quan 11 tâm đến việc học cùng con, phụ huynh quan niệm rằng “ trẻ ở lứa tuổi này chưa có gì để học”. - Trẻ còn nhỏ, số lượng trẻ trong lớp đông, trẻ có tính hiếu kỳ nên khả năng tập trung chú ý chưa cao, khả năng phát triển ngôn ngữ không đồng đều. Từ những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trên tôi đã trăn trở tìm ra cho mình những giải pháp hợp lý, có hiệu quả. Trước khi thực hiện nghiên cứu đề tài này, việc đầu tiên tôi làm đầu năm học 2023-2024 là đã đánh giá, khảo sát về khả năng phát triển ngôn ngữ của trẻ tại lớp tôi chủ nhiệm. Kết qủa được thể hiện dưới bảng thống kê số liệu sau: Bảng đánh giá nội dung trẻ đầu năm học 2023- 2024; Tổng số trẻ: 30 trẻ Nội dung Số trẻ Tỉ lệ % Số trẻ Tỉ lệ % đạt. chưa đạt Trẻ sử dụng ngôn ngữ vốn từ linh hoạt, 15 50% 15 50% phong phú trong giao tiếp Phát âm đúng, rõ ràng và mạch lạc 14 46,7% 16 53,3% Trẻ kể chuyện theo trí nhớ 13 43,3% 17 56,7% Trẻ tham gia đóng kịch thể hiện vai 13 43,3% 17 56,7% diễn của mình tốt. Trẻ mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp. 12 40% 18 60% Từ bảng đánh giá nội dung trên tôi thấy khả năng ngôn ngữ trên trẻ còn hạn chế, tỷ lệ trẻ đạt ở các nội dung còn thấp. Là một giáo viên đứng lớp, đặc biệt với trách nhiệm là một tổ trưởng chuyên môn bản thân tôi rất băn khoăn, lo lắng và suy nghĩ tìm ra một số biện pháp tối ưu để phát triển ngôn ngữ cho trẻ, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của lớp mình. Vì vậy, tôi đã mạnh dạn áp dụng một số giải pháp sau: III. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 1.Giải Pháp 1: Giáo dục nề nếp thói quen, dựa vào khả năng trẻ. Nề nếp lớp học là một bước cơ bản tạo nên thành công trong giờ học, trẻ ngoan, chú ý học thì cô mới có thể truyền thụ kiến thức đến với trẻ. Vì thế cô cần nhắc trẻ những thói quen cần thiết tạo nên một lớp học có tổ chức để từ đó hướng trẻ vào việc học cụ thể nhất. - Bên cạnh đó giáo viên cần tìm hiểu, nắm bắt được tâm lý và sở thích của từng trẻ. Trong giờ học hoặc trong các hoạt động trẻ được nói, thể hiện mình, cô cần chú ý để biết trẻ nào có khả năng nói tốt, minh họa động tác nhân vật tốt, trẻ nào kém để cô có biện pháp tác động phù hợp. 12 * Ví dụ: Dạy trẻ kể chuyện: "Cáo, thỏ và gà trống" - Nếu trẻ nào có khả năng nói, kể chuyện, yêu thích các nhân vật trong câu chuyện trẻ đó sẽ chú ý lắng nghe cô kể và nhẩm kể theo cô. Khi trẻ thuộc, trẻ xung phong lên kể chuyện và còn thể hiện động tác theo các nhân vật trong truyện. - Ngược lại, những trẻ khả năng nói và kể kém, trẻ sẽ ít chú ý khi cô kể chuyện, ngại nói, không bao giờ trẻ muốn xung phong lên kể chuyện cho cả lớp nghe cả Dựa vào thực tế đó cô có thể có những tác động phù hợp đến khả năng của từng trẻ, như với những trẻ nói và kể tốt, cô có thể bồi dưỡng vào đội văn nghệ của lớp, cho trẻ thường xuyên kể chuyện cá nhân trước các bạn để trẻ biểu diễn hay hơn, mạnh dạn, tự tin hơn. Còn với những trẻ kém hơn, cô có thể lựa chọn các nhóm trẻ cùng nhau lên nói lời các nhân vật và mỗi nhóm đó có kèm thêm những bạn kể tốt, để trẻ kể cùng bạn và tạo cho trẻ cảm thấy ham thích kể chuyện hơn. Sau những lần lên kể chuyện đó, tôi thường động viên, khuyến khích và sửa sai cho các cháu. Dần dần nhiều trẻ đã mạnh dạn xung phong lên kể chuyện, và kể chuyện đã tốt hơn rất nhiều, có trẻ còn minh họa được động tác của các nhân vật trong câu chuyện nữa. 2. Giải pháp 2: Xây dựng môi trường phong phú thân thiện và phù hợp: Môi trường học tập có vai trò rất lớn đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Tạo môi trường thân thiện phong phú là giúp trẻ có cảm giác thoải mái, có nhu cầu trao đổi trò chuyện qua lại giữ trẻ với trẻ, giữa cô với trẻ bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ đặc biệt là trẻ dân tộc. Trẻ mẫu giáo dân tộc có đặc điểm thường rất rụt rè trong giao tiếp, trẻ rất ít nói hoặc nói lí nhí và thường thụ động khi tham gia các hoạt động. Vì thế các hoạt động cô tổ chức cho trẻ tham gia thường diễn ra một cách tẻ nhạt, nhàm chán và đem lại hiệu quả rất thấp. Vì thế, ngay vào đầu năm học tôi xây dựng một môi trường học tập phong phú thân thiện, tạo ra sự gần gũi hấp dẫn trong và ngoài lớp để hằng ngày trẻ tiếp xúc, học tập. Khuyến khích được sự tham gia tích cực của trẻ trong quá trình rèn luyện kỹ 13 năng giao tiếp, bộc lộ khả năng cũng như mạnh dạn đưa ra ý kiến để trẻ luôn cảm thấy an toàn thoải mái khi đến trường, đến lớp. Đối với trẻ môi trường học tập là yếu tố không thể thiếu trong quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Môi trường trong nhà trường theo hướng lấy trẻ làm trung tâm, để trẻ có thể tự mình khám phá, trải nghiệm, và giao tiếp với bạn. Để từ đó trẻ có thể tự tin, mạnh dạn sử dụng những hiểu biết,khả năng ngôn ngữ của mình để giao tiếp với bạn và giải quyết vấn đề. Trường, lớp học an toàn, sạch sẽ, thoáng mát, đủ ánh sáng, đủ đồ dùng, đồ chơi phù hợp với lứa tuổi là những điều kiện thuận lợi giúp trẻ hoạt động. Thiết kế, bố trí tạo không gian hợp lý ở các góc chơi, xây dựng nội dung chơi cụ thể ở các góc theo từng chủ điểm, đặt tên góc sao cho dễ hiểu nhưng lại hấp dẫn như “vườn cổ tích”, “ Bé yêu thơ” Sau mỗi chủ điểm tôi thay đổi cách trang trí và hoạt động ở các góc để tạo cảm giác mới lạ hấp dẫn trẻ. Tôi luôn tìm tòi, tận dụng nguyên liệu phế thải,lốp xe,để tạo thành thưviện cho trẻ,ở đấy trẻ được trải nghiệm với các loại sách, truyện và được cô giáo kể chuyện, đọc thơ cho nghe đều đó cũng góp phần tích cực vào việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ tạo cho trẻ có thói quen đọc sách,truyện tranh là giải pháp hữu hiệu nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ.Lúc đầu trẻ chưa biết cách nếu tôi là người chủ động đọc sách,truyện tranh cho trẻ nghe lâu dần trẻ có thói quen xem sách,truyện, tranh,tôi hướng dẫn gợi ý để trẻ nói được nội dung khi xem sách. - Một đều vô cùng quan trong trong quá trình dạy trẻ làm quen tác phẩm văn học đó là khi dạy trẻ đọc thơ, kể chuyện thì giọng của cô phải chuẩn xác, diễn đạt trôi chảy phủ hợp với từng bài, cô phát âm không ngọng. Khi dạy trẻ đọc thơ cô chú ý nghe trẻ đọc và phát hiện ra trẻ nói ngọng, đọc sai để sửa cho trẻ như cô đọc lại để cho trẻ đọc theo nhiều lần và động viên trẻ “ con đọc gần giỏi rồi”. Thi đua giữa các tổ với nhau để phát hiện tổ nào đọc tốt hơn để dẫn đến nhiều trẻ đọc tốt. Trẻ lớp 4-5 tuổi tích cực đọc sách, truyện 14 3. Giải pháp 3: Phương pháp hướng dẫn phải dựa vào trẻ, lấy trẻ làm trung tâm. - Sử dụng phương pháp hướng dẫn phải dựa vào trẻ, lấy trẻ làm trung tâm là một phương pháp vô cùng quan trọng trong quá trình phát huy tính tích cực của trẻ trong quá trình hoạt động dạy trẻ kể chuyện –đọc thơ. - Để thực hiện tốt phương pháp dạy học lấy trẻ làm trung tâm thì trong quá trình dạy tôi phải bao quát, quan sát trẻ trong tất cả các hoạt động từ đó đánh giá được khả năng của trẻ trong lớp để tìm ra phương pháp dạy phù hợp nhất. -Trong quá trình hoạt động dạy trẻ đọc thơ, kể chuyện tôi luôn luôn động viên, khuyến khích trẻ để trẻ thêm tự tin. Trẻ lớp 4-5 tuổi B1 kể chuyện cùng cô Ví dụ: Khi trẻ lên kể chuyện xong, dù trẻ kể không hay hoặc trẻ kể các lời nhân vật chưa được biểu cảm, cô cũng nên khen trẻ như "Hôm nay cô thấy con kể hay hơn hôm trước rất nhiều nhưng cô muốn con nói lại lời của nhân vật này cùng với cô câu này nhé". Với cách nói nhẹ nhàng, gần gũi trẻ sẽ mạnh dạn và tập trung chú ý xem cô kể mẫu lại và cố gắng kể đúng theo cô, việc sửa sai này sẽ không làm trẻ mất tự tin, sợ sệt trước cô giáo, mà trẻ hiểu rằng mình đã kể hay và cô giáo muốn mình kể hay hơn nữa nên sẽ ghi nhớ rất nhanh lời sửa của cô, và sẽ kể diễn cảm hơn, chú ý ngữ điệu các lời nói của nhân vật hơn. Và nhờ có sự động viên, khuyến khích của cô mà trẻ sẽ luôn tin ở bản thân mình, cố gắng làm được tất cả các nhiệm vụ cô giáo giao. 4. Giải pháp 4: Lồng ghép các môn học khác khi dạy trẻ kể chuyện đọc thơ - Với lời kể cuyện, đọc thơ diễn cảm, hấp dẫn đã làm rung động người nghe, nhưng biết tích hợp các môn học khác thì còn hay hơn vì nó làm thay đổi không khí, làm thay đổi trạng thái khi kể chuyện, đọc thơ. Bằng những lời ca, lời đối thoại, những câu đố, những bài đồng dao, ca dao hay một số trò chơi xen 15 lẫn sẽ làm cho tiết học luôn hấp dẫn lôi cuốn trẻ.Quá trình tích hợp giáo viên lựa chọn nội dung sao cho logic, đi đúng với nội dung bài dạy, tránh hiện tượng nội dung một đường mà tích hợp bài hát câu đố trò chơi một nẻo khiến tiết học trở nên nhạt nhẽo nhàm chán.Với tác phẩm văn học thì đa phần là hoạt động tĩnh, trẻ được nghe, được đọc nên nếu không biết tích hợp thì buổi học sẽ rất nhàm chán vì vậy khi tích hợp nên lựa chọn các bài hát, trò chơi sao cho hấp dẫn trẻ đặc biệt xen lẫn giữa phần động và phần tĩnh vừa giúp trẻ đỡ mệt mỏi và còn sinh động hơn cho bài dạy của mình. - Bộ môn âm nhạc là môn học bổ trợ cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học, dễ gây ấn tượng cho người xem, vì thế tôi cho trẻ hát thuộc các bài hát: “ Thương con mèo”, “ Một con vịt”, “ Đố biết con gì”, “ Trời nắng trời mưa” và các bài hát trong chủ đề giúp trẻ khi kể chuyện hoặc đọc thơ về con vật nào trẻ có thể hát về các con vật đó phù hợp với nội dung bài học. Tương tự như vậy với các chủ điểm khác, trẻ cũng có thể sử dụng các bài hát phù hợp với nội dung của đề tài. - Trò chơi là hình thức chuyển tiếp giữa các lần kể, đọc thơ thay cho phần củng cố bài học mà các tiết dạy thường áp dụng. Tôi cho trẻ chơi một số trò chơi ở dạng động như trò chơi: Mèo và chim sẻ, gà gáy vịt kêu, trời nắng trời mưa, -Việc tích hợp các môn học khác, các trò chơi vào cho trẻ kể chuyện, đọc thơ là việc cung cấp thêm một số kiến thức bổ trợ cho bài học sinh động hơn. Ở lứa tuổi này tâm lý của trẻ thường dễ nhớ chóng quên. Vì vậy vào giờ đón trả trẻ tôi đưa trẻ vào góc văn học để hướng dẫn trẻ kiến thức mới và củng cố kiến thức cũ. Đây là hình thức cho trẻ trải nghiệm những gì mình có sẵn và học tập cái mới ở cô và bạn, trẻ cảm thấy thoải mái và tự tin hơn khi tham gia vào các hoạt độnglàm quen tác phẩm văn học. - Việc tích hợp các môn học khác cô giáo phải linh hoạt lựa chọn nội dung sao cho phù hợp với nội dung câu chuyện, bài thơ, giúp trẻ tham gia vào hoạt động một cách tích cực nhất và ngôn ngữ của trẻ được phát triển mạnh mẽ nhất. 5. Giải pháp 5:Thường xuyên tổ chức tốt các hoạt động góc có trò chơi đóng kịch, kể chuyện theo tranh, kể chuyện sáng tạo . - Đối với các hoạt động đóng kịch: Tôi cùng trẻ chuẩn bị tốt các đồ dùng như trang phục, mũ nhân vật, mặt nạ, Các đồ dùng này phần lớn lấy từ sản phẩm của cô và trẻ, một số trong đó là nhờ các phụ huynh làm giúp. Đôi khi trang phục do trẻ tự tạo cũng cực kỳ đơn giản, có thể chỉ bằng một tấm vải, trẻ quấn quanh người tạo trang phục theo ý thích. Mỗi bộ đồ dùng đều có tên riêng tương ứng với câu chuyện mà trẻ có thể kể hoặc đóng vai. Khi trẻ vào góc chơi, trẻ sẽ phân vai chơi và chọn đúng các trang phục, đồ dùng phù hợp để thể hiện vai. - Để giúp trẻ rèn luyện thêm kỹ năng đóng kịch, kể chuyện, tôi đăng ký cho các cháu tham gia thi kể chuyện, đóng kịch cấp trường. Đây là sân chơi bổ ích rèn luyện sự tự tin, mạnh dạn, kỹ năng biểu diễn và thể hiện vai ở trẻ. Trước hội 16 thi, tôi đều dành thời gian để tập luyện thêm cho trẻ. Tôi tôn trọng cách biểu diễn và lời thoại của trẻ, chỉ sửa lại khi thật cần thiết. Tôi rèn trẻ thể hiện những giọng điệu nhân vật cho phù hợp. Tôi cùng trẻ làm một số mũ các nhân vật, trẻ có thể giúp cô cắt, tô màu, trang trí. Trẻ cũng tích cực cùng tôi bàn bạc, thảo luận về cách chọn trang phục cho phù hợp với từng vai diễn. Trước giờ lên sân khấu, tôi cùng một số phụ huynh của lớp phối hợp cùng trang điểm cho trẻ. Khi trang điểm, tôi cũng chú trọng trang điểm thể hiện khuôn mặt, hình dáng phù hợp với nhân vật. Tôi cũng không quên chuẩn bị đạo cụ, âm thanh, ánh sáng,... đầy đủ cho trẻ . Trẻ tham gia kể truyện ở góc sách- truyện 6. Giải pháp 6: Xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp. Sau khi nghe kể chuyện,đọc thơ,khi giảng giải về nội dung câu chuyện,bài thơ cô giáo cần đưa ra một số câu hỏi hỏi về nội dung phù hợp để trẻ trả lời. Từ đấy trẻ sẽ ghi nhớ sâu sắc hơn về nội dung bài học. Khi cô đưa ra các câu hỏi, cô cần phân chia câu hỏi từ khái quát đến cụ thể, từ dễ đến khó để trẻ trả lời. Và không nên hỏi liền một lúc về nội dung câu chuyện, bài thơ, mà nên phân chia các câu hỏi đan xen vào các lần kể chuyện, đọc thơ để tránh sự nhàm chán ở trong tiết làm quen tác phẩm văn học . Việc tìm hiểu rõ nội dung của câu chuyện bài thơ sẽ giúp trẻ hiểu sâu sắc về bài học, ghi nhớ và có tình cảm với câu chuyện, bài thơ hơn. Qua đó sẽ giúp trẻ vận dụng vào việc kể các câu chuyện hoặc đọc thơ sáng tạocó nhiều các tình tiết hay hơn, hấp dẫn và lôi cuốn trẻ hơn. Khi đưa ra câu hỏi để giúp trẻ củng cố hiểu rỏ nội dung bài hơ câu chuyện, giáo viên không nên cứng nhắc là học xong thì hỏi để trẻ nhớ mà nên đưa vào hình thức trò chơi có thưởng, ví dụ cô tổ chức trò chơi “ vòng quay may mắn, ô cửa bí mật hay có thể dẫn dắt trẻ đến mô hình cô trưng bày những nội dung liên quan đến bài học để giúp trẻ hứng thú hơn. Bởi với trẻ nhỏ được khen được 17 thưởng thì trẻ vô cùng thích thú. Đồng thời tiết học khi tích hợp các trò chơi để trả lời câu hỏi thì sẽ vô cùng sinh động hấp dẫn trẻ. Đây là bước dạy rất quan trọng giúp trẻ say mê hào hứng khi tham gia vào tiết học làm quen với văn học mà giáo viên nên nắm bắt và đưa vào giảng dạy. 7. Giải pháp 7: Ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy Không chỉ môn học cho trẻ làm quen văn học mà trong các bộ môn khác thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy là việc làm vô cùng cần thiết đối với cả người dạy và người học. Giờ học kể chuyện của lớp 4- 5 tuổi B1 Đôi khi giáo viên kể chuyện đọc thơ chất giọng chưa tốt hoặc hình ảnh minh họa chưa hấp dẫn lôi cuốn trẻ thì việc cho trẻ xem hoặc nghe người khác kể chuyện đọc thơ kèm hình ảnh minh họa giúp trẻ hiểu hơn nội dung bài học. Đặc biệt hình ảnh trên máy tính ti vi với màu sắc đẹp, đồng thời nội dung bài thơ câu chuyện thường có hình ảnh “ động” sẽ thu hút sự hứng thú của trẻ. Bởi với trẻ để tiếp thu bài học hiệu quả phải có hình ảnh trực quan sinh động. Đồng thời,khi sử dụng công nghệ thông tin vào trong dạy trẻ học làm quen tác phẩm văn học giáo viên có thể kết hợp cho trẻ trả lời câu hỏi theo các hình thức như chơi “ vòng quay kì diệu, hái hoa dân củ, ô cửa bí mật ” giúp trẻ hứng thú và lôi cuốn trẻ vào bài học hơn. Và một điều chắc chắn rằng việc sử dụng công nghệ thông tin giúp giáo viên tiết kiệm rất nhiều về thời gian cũng như tiền bạc để chuẩn bị làm đồ dùng tranh ảnh dạy trẻ.Việc chuẩn bị tranh tốn kém về kinh tế, thời gian nhưng đồng thời lại không hấp dẫn bằng việc để được trực tiếp xem các hình ảnh ấy trên ti vi, máy tính. 18 IV. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG SÁNG KIẾN Đề tài này có thể áp dụng triển khai cho tất cả các độ tuổi trong trường mầm non và các trường mầm non trong toàn huyện. V. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN 1. Đối với trẻ Với những kinh nghiệm mà tôi đã chia sẻ ở trên, tôi đã thực hiện tại lớp mình phụ trách trong năm học 2021- 2022 đạt nhiều kết quả trên cả mong đợi. Cụ thể kết quả đạt được đến cuối tháng 4 năm 2022, với tổng số trẻ là 30 trẻ như sau: Bảng kết quả đánh giá các nội dung trước và sau khi áp dụng các giải pháp Trước khi áp Sau khi áp dụng Nội dung dụng giải pháp giải pháp Ghi Tổng số Tỷ lệ Tổng số Tỷ lệ chú trẻ đạt % trẻ đạt % Trẻ sử dụng vốn từ linh hoạt, 15 50% 29 97% Tăng phong phú trong giao tiếp 47% Phát âm đúng, rõ ràng và 14 46,7% 28 93,3% Tăng mạch lạc 46,6% Trẻ kể chuyện theo trí nhớ 13 43,3% 28 93,3% Tăng 50% Trẻ tham gia đóng kịch thể 13 43,3% 29 97% Tăng hiện vai diễn của mình tốt. 53,7% Trẻ mạnh dạn, tự tin trong 12 40% 30 100% Tăng giao tiếp. 60% Nhìn vào bảng so sánh đánh giá các nội dung trước và sau khi áp dụng các giải pháp, có thể nhận thấy rằng: Sau khi áp dụng các giải pháp và thực hiện tại lớp tôi thì tỷ lệ trẻ đạt ở các nội dung đã tăng đáng kể so với trước khi áp dụng các giải pháp. Cụ thể như sau: - Trẻ sử dụng ngôn ngữ vốn từ linh hoạt, phong phú trong giao tiếp: đạt 97 % tăng 47% . Vốn từ của trẻ phát triển rõ rệt, trẻ đã diễn đạt lời nói rõ ràng, mạch lạc hơn, nói nhiều câu có nghĩa đầy đủ. - Khả năng phát âm đúng, chính xác đạt: 93,3% tăng 46,6%. Trẻ hứng thú tích cực tham gia học bài hơn. - 93,3% trẻ kể chuyện theo trí nhớ tốt, tăng 50% 19 - 93% trẻ đã tham gia đóng kịch thể hiện vai diễn của mình tốt, tăng 53,7% - 100% trẻ mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp, tăng 60%. 2. Đối với giáo viên: - Giáo viên được nâng cao trình độ chuyên môn, linh hoạt sáng tạo trong phương pháp giảng dạy, biết lồng ghép tích hợp một cách mềm dẻo, nhẹ nhàng phù hợp với nhu cầu đổi mới giáo dục mầm non hiện nay. 3. Đối với phụ huynh:- 100% Phụ huynh ủng hộ cho trẻ tham gia làm đồ dùng đồ chơi cho các cháu như: tranh ảnh, sách báo, truyện theo chủ đề, truyện sáng tạo, khâu rối góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ, trẻ hứng thú khi học môn làm quen văn học. - Phụ huynh nhận thức được tầm quan trọng trong việc giáo dục con em mình về phát triển ngôn ngữ thông qua các tác phẩm văn học. - Các bậc phụ huynh ngày càng tin tưởng hơn chăm lo đến phương pháp giáo dục để trẻ phát triển toàn diện. Giữa phụ huynh giáo viên và nhà trường có sự hợp tác đồng thuận trong việc chăm sóc giáo dục trẻ. Năm học 2023-2024, theo khảo sát đầu năm, ở lĩnh vực phát triển ngôn ngữ, lớp tôi chỉ đạt 83%, đặc biệt lớp có một số cháu khó khăn về ngôn ngữ như: Phạm Hữu Đăng Khôi, Phạm Hữu Minh Quân, Nguyễn Danh Đạt, Nguyễn Hoàng sơn, Nguyễn Danh Huy. Thế nhưng, bằng sự nỗ lực và tâm huyết của mình và bằng những kinh nghiệm dạy trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ tôi đã giúp các cháu lớp mình tiến bộ hơn rất nhiều. Cụ thể trong lần đánh giá vào cuối tháng 4 năm 2022 vừa qua, lĩnh vực phát triển ngôn ngữ đạt 93,3%, riêng các cháu Nguyễn Danh Đạt và cháu Phạm Hữu Minh Quân có sự tiến bộ vượt trội: Cháu Đăng Khôi phát âm chính xác, đọc bài to, rõ, mạnh dạn hơn. Hơn nữa, cháu Danh Đạt là một học sinh đặc biệt của lớp, ngôn ngữ của cháu Đạt chậm phát hơn so với các bạn trong lớp. Đầu năm cháu Đạt là học trò cháu rất nhút nhát, không giao tiếp cô và bạn nhưng bằng những kinh nghiệm và tình yêu thương của mình, tôi đã giúp cháu hoà nhập thành công với cô và bạn trong lớp, giờ đây cháu đã chơi hoà đồng với các bạn trong lớp, cháu mạnh dạn bày tỏ ý kiến và suy nghĩ của mình. Tuy phát âm còn chưa chuẩn lắm, một số câu từ vẫn còn ngọng nhưng cháu vẫn luôn được khuyến khích phát biểu và giao tiếp, vì thế tâm lý cháu trở nên vui vẻ, thoải mái, gia đình cháu cũng rất vui mừng vì nhận thấy sự tiến bộ này ở cháu và cảm ơn cô giáo rất nhiều. Tôi nhận thấy đó là một sự thành công không nhỏ, là kết quả đáng khích lệ từ sự cố gắng của cả tôi và trẻ. Tôi tự hứa sẽ tiếp tục cùng cháu và giúp cháu hoàn thiện hơn về tất cả các mặt và các lĩnh vực để trẻ phát triển toàn diện một cách tốt nhất. 20

File đính kèm:

  • docxmot_so_bien_phap_phat_trien_ngon_ngu_cho_tre_4_5_tuoi_thong.docx