Một số biện pháp phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh tiểu học
Bạn đang xem trước 20 trang mẫu tài liệu Một số biện pháp phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh tiểu học, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG
TRƯỜNG TIỂU HỌC AN CHÂU
BIỆN PHÁP
Mộ ệ
ọ u ọ ”.
Họ ê : Đỗ T ị Ý N
Đơ ị: T ườ T u ọ A C âu, uyệ Sơ Độ , ỉ Bắ G .
Sơn Động, tháng 11 năm 2023 2
MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU TRANG
1. Lý d ọ ệ Trang 3
2. Mụ đí ê ứu Trang 4
3. N ệm ụ ê ứu Trang 5
4. Đ ư , ạm ê ứu Trang 5
5. P ươ ê ứu Trang 5
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Cơ ở ý uậ Trang 5
2. Cơ ở ễ Trang 6
2.1. Thuận lợi Trang 6
2.2. Khó khăn Trang 7
3. C ệ Trang 8
ọ T u ọ
3.1. Tìm hiểu tâm lý, hoàn cảnh của học sinh và gặp gỡ, trao Trang 8
đổi với phụ huynh học sinh cùng tạo môi trường phát triển
năng lực giao tiếp và hợp tác cho HS
3.2. Phân loại năng lực giao tiếp Trang 11
3.3. Hướng dẫn một số năng lực giao tiếp và hợp tác giữa thầy Trang 12
và trò, giữa trò với trò
3.4. Đổi mới phương pháp dạy học nhằm rèn năng lực giao Trang 12
tiếp và hợp tác cho học sinh, tạo môi trường giao tiếp tích cực
3.5. Phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác thông qua hoạt Trang 17
động ngoài giờ l n lớp
III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG
1. K quả u đư u k dụ ệ Trang 22
2. Ứ dụ ủ ệ pháp Trang 23
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. K uậ Trang 24
2. K ị Trang 25
3
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý d ọ ệ
Trong những năm gần đây, đổi mới giáo dục đã trở thành nhu cầu cấp
thiết và có xu hướng mang tính toàn cầu để các quốc gia nâng cao nguồn nhân
lực, trang bị cho các thế hệ tương lai nền tảng văn hóa vững chắc và năng lực
thích ứng cao trước mọi biến động của xã hội nhằm đảm bảo phát triển bền
vững. Việt Nam trong những năm gần đây đã có những bước tiến vượt bậc về
kinh tế xã hội và văn hóa. Tuy nhi n, những thành tựu về kinh tế của nước ta
chưa vững chắc, chất lượng nguồn nhân lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế
chưa cao, môi trường văn hoá còn tồn tại nhiều hạn chế, chưa hội đủ các nhân
tố để phát triển nhanh và bền vững. Trước tình hình đó, Đảng, Quốc hội nước
ta đã đề ra mục ti u đổi mới chương trình giáo dục nhằm đào tạo nguồn nhân
lực có trách nhiệm, có văn hoá, cần cù, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển
của cá nhân và y u cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời
đại toàn cầu hoá. Chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng tr n cơ sở
quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào
tạo; bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực người học thông qua nội dung
giáo dục với những kiến thức, kĩ năng cơ bản, thiết thực, hiện đại; hài hoà
đức, trí, thể, mĩ; chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để
giải quyết vấn đề trong học tập và đời sống.
Năng lực giao tiếp và hợp tác đóng vai trò, vị trí quan trọng của con
người trong xã hội hiện đại. Không chỉ là cầu nối gắn kết mối quan hệ giữa
mọi người mà năng lực giao tiếp và hợp tác còn là chìa khóa dẫn lối thành
công trong mọi lĩnh vực. Trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể mới
của Việt Nam, giao tiếp và hợp tác là một trong các năng lực chung cần trang
bị cho học sinh.
Tiểu học là bậc học đầu ti n được xem là nền tảng của Giáo dục và Đào
tạo, là cơ sở ban đầu để hình thành và phát triển về đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ
và các kĩ năng, kiến thức cơ bản của con người Việt Nam. Vì vậy, việc giúp
trẻ phát triển một cách toàn diện là nhiệm vụ của người giáo vi n Tiểu học
hiện nay. Bởi thế, là người giáo dục trẻ, chúng ta cần hiểu được trẻ cần gì và
giúp trẻ đạt được mục đích của giáo dục bằng con đường ngắn nhất, hiệu quả
nhất. Trong các kĩ năng cần thiết để giúp trẻ phát phát triển thì kĩ năng giao 4
tiếp là kĩ năng quan trọng đầu ti n. Từ khi còn bập bẹ, trẻ chủ yếu học giao
tiếp trong môi trường gia đình là bằng cách chào hỏi, trả lời; dạ, thưa... Lớn
l n đi học, môi trường giao tiếp của trẻ rộng hơn, đó là thầy, cô giáo; bạn bè
và người xung quanh. Qua giao tiếp, trẻ bày tỏ được cảm xúc, suy nghĩ, sự
hiểu biết và nhận thức của bản thân. Đặc biệt trẻ giao tiếp mang tính hợp tác
tích cực hơn. Cứ như thế, khả năng giao tiếp của các em càng cao thì khả
năng học hỏi và hình thành kiến thức và các kĩ năng khác càng lớn dần l n.
Như chúng ta đã biết, song song với việc dạy học văn hoá, tăng cường
tính chủ động sáng tạo và phát huy tính tích cực của học sinh thì việc đổi mới
giáo dục nhân cách học sinh cũng là một trong những vấn đề cấp thiết được
đặt ra.
Qua những biện pháp cũ chúng ta đã làm chưa mang đến hiệu quả thực
sự cho học sinh thì việc xây dựng và rèn luyện cho học sinh có kĩ năng giao
tiếp và hợp tác tốt trong học tập đóng một vai trò hết sức quan trọng. Vì vậy
cần có sự đầu tư quan tâm giáo dục đúng mức. Trong công tác chủ nhiệm đòi
hỏi người giáo vi n phải thực sự tâm huyết với nghề, y u nghề.
Là một giáo vi n chủ nhiệm lớp, tôi rất mong muốn học trò của mình là
những con ngoan, trò giỏi để sau này lớn l n các em tự tin, năng động, bản
lĩnh bước vào đời, trở thành những người công dân có ích cho xã hội. Trong
quá trình giảng dạy và chủ nhiệm lớp, tôi đã trăn trở, tìm tòi các biện pháp với
nhiều cách tiếp cận khác nhau với mong muốn đạt hiệu quả tốt nhất đáp ứng
mục ti u phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh, góp phần đổi
mới dạy học phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa, xã hội của đất nước và xu
thế giáo dục hiện đại. Xuất phát từ những lý do tr n, tôi đã tiến hành lựa chọn
và áp dụng biện pháp: “Một số biện pháp phát triển năng lực giao ti p v h p
tác cho h c sinh tiểu h c”.
2. Mụ đí ê ứu
Mục đích của việc triển khai “Một số biện pháp phát triển năng lực
giao ti p v h p tác cho h c sinh tiểu h c” giúp học sinh biết cách giải quyết
những tình huống trong cuộc sống hàng ngày, giúp các em nói những điều
muốn nói, làm những việc n n làm. Khi tham gia hoạt động trong một tập thể
học sinh biết tôn trọng sự khác biệt, không tự ti, không bị cô lập vì điểm yếu
của bản thân mà sẽ được các thành vi n trong tập thể hỗ trợ, giúp đỡ; cũng 5
như điểm mạnh của các em sẽ đóng góp vào thành công chung của tập thể.
Đồng thời giúp các em có nhiều cơ hội giao lưu, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau,
góp phần vào việc giáo dục toàn diện nhân cách cho học sinh.
3. N ệm ụ ê ứu
- Nghi n cứu cơ sở lí luận, phân tích thực trạng của biện pháp, từ đó có
cơ sở để đề ra biện pháp, giải pháp phù hợp nhằm tác động đến đối tượng hiệu
quả hơn.
- Đề xuất một số giải pháp để khắc phục thực trạng.
4. Đ ư , ạm ê ứu
Học sinh lớp 5A3 và các khối lớp trong trường tiểu học.
5. P ươ ê ứu
Trong quá trình nghi n cứu, thực nghiệm, bản thân tôi đã áp dụng một
số phương pháp chính sau đây:
- Phương pháp nghi n cứu lí luận.
- Phương pháp khảo sát thực tiễn.
- Phương pháp thực nghiệm.
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp tác động cá biệt
- Phương pháp khen thưởng và nhắc nhở
- Phương pháp so sánh đối chiếu.
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Cơ ở ý uậ
Tiểu học là nơi trẻ bắt đầu bước vào con đường học tập, là giai đoạn
quan trọng đầu ti n trong việc hình thành các kĩ năng, kiến thức làm nền
móng cho các cấp học sau này. Ở đây, trẻ được học tập, khám phá với môi
trường xung quanh thông qua kĩ năng quan trọng nhất đó là “giao tiếp”. Từ
khi mới chào đời, trẻ đã thể hiện việc “giao tiếp” bằng tiếng khóc đầu ti n.
Rồi bằng ánh mắt, nụ cười trẻ “giao tiếp” với mọi người xung quanh. Khi biết
nói, trẻ bắt đầu học được “những bài học đầu ti n” từ gia đình. Trẻ bắt đầu
biết đặt các câu hỏi, đưa ra những thắc mắc cần được mọi người giải đáp,
hướng dẫn. Từ đây, trẻ được hình thành thói quen và kĩ năng giao tiếp đơn
giản. Ở tuổi mẫu giáo, thông qua “giao tiếp” với cô giáo, bạn bè với các hoạt 6
động như kể chuyện, hát múa và trò chơi, ; trẻ bắt đầu học được những kiến
thức cuộc sống. Bước vào cấp Tiểu học, trẻ được học để giao tiếp cả ngôn
ngữ nói và ngôn ngữ viết. Ở môi trường Tiểu học, trẻ học được những thói
quen; những kiến thức, kĩ năng quan trọng qua việc chú ý lắng nghe, trao đổi
ý kiến với thầy cô, bạn bè. Các em bắt đầu học cách lắng nghe để hiểu; học
cách diễn đạt ý của mình một cách gọn, rõ (mạch lạc) để người khác hiểu,
Vậy làm thế nào để các em học tốt, để xây n n nền móng vững chắc về kiến
thức khoa học và xã hội cho các em? Then chốt đầu ti n là trẻ phải học được
kĩ năng giao tiếp tốt, biết hợp tác tốt với thầy, cô; bạn bè và gia đình.
Để nâng cao kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 5A3, tôi đã nghi n cứu
thực trạng kĩ năng giao tiếp, phân tích tìm hiểu những tồn tại và nguy n nhân
của tồn tại. Sau đó căn cứ vào các công văn: Công văn số 3977/BGDĐT-
GDTH ngày 05 tháng 10 năm 2020 về việc thực hiện chương trình giáo dục
phổ thông 2018 cấp tiểu học; Thông tư 27/2020/TTBGDĐT ngày 04 tháng
09 năm 2020 về việc quy định đánh giá học sinh Tiểu học để đề xuất, xây
dựng biện pháp rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh.
2. Cơ ở ễ
2.1. T uậ
2.1.1. Giáo viên
- Được sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường luôn chỉ đạo sát sao,
tư vấn giúp đỡ đến việc dạy và học của giáo vi n và học sinh.
- Nhà trường đầu tư đầy đủ cơ sở vật chất: Tivi thông minh, đồ dùng
dạy học
- Tất cả giáo vi n trong nhà trường luôn n u cao tinh thần học hỏi, tự
học, tự bồi dưỡng, nhiệt tình trong công tác giảng dạy và có kĩ năng sư phạm
tương đối tốt.
- Môi trường sống và làm việc lành mạnh, rất “sư phạm”; giáo vi n tự
tin, tự trọng trước học sinh và phụ huynh.
- Công nghệ thông tin phát triển n n sự học hỏi nâng cao khả năng giao
tiếp của giáo vi n thông qua đa phương tiện.
- Đội ngũ giáo vi n thường xuy n được tham gia tập huấn chuy n môn,
cập nhật thường xuy n các thông tin, đổi mới phương pháp dạy học. 7
2.1.2. H c sinh
- Các em học sinh ngoan ngoãn, chăm chỉ, có ý thức trong học tập,
vâng lời thầy cô.
- Hầu hết học sinh được sự quan tâm của gia đình, thường xuy n được
tham gia giao lưu các hoạt động ở trường, lớp và các tổ chức đoàn thể.
- Môi trường giao tiếp trong gia đình của các em tương đối thuận lợi.
Số đông phụ huynh đã quan tâm đến việc giáo dục con thông qua rèn luyện
giao tiếp một cách tích cực
- Cách thức tổ chức lớp học theo mô hình trường học mới các em có cơ
hội tương tác nhiều hơn, tích cực hơn.
2.2. K ó k
2.2.1. Đối với giáo viên
- Đa số giáo vi n lớn tuổi có nhiều kinh nghiệm nhưng việc đổi mới
phương pháp giảng dạy nhằm khuyến khích sự chuy n cần, tích cực, chủ
động, sáng tạo và khả năng tự học của học sinh còn gặp nhiều khó khăn;
giáo vi n trẻ tuổi năng động, sáng tạo nhưng lại khó trong công tác bồi
dưỡng do nhận thức về nghề chưa sâu sắc n n giáo vi n mới thường không
an tâm công tác.
- Một số giáo vi n chưa tạo được môi trường phong phú để hỗ trợ rèn
luyện kĩ năng giao tiếp cho trẻ, chưa thường xuy n theo dõi, điều chỉnh việc
sử dụng ngôn ngữ giao tiếp của trẻ sao cho lịch sự, phù hợp lứa tuổi, phù hợp
hoàn cảnh giao tiếp.
2.2.2. Đối với h c sinh
- Tính tự chủ của học sinh chưa cao, phần lớn học sinh thiếu tự tin,
nhút nhát, rụt rè, chưa sôi nổi tham gia vào các hoạt động của lớp, của trường.
- Môi trường sống chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình và trường học,
thiếu môi trường giao tiếp dẫn đến năng lực hợp tác, chia sẻ với bạn, người
thân, kết nối cộng đồng còn hạn chế.
- Một số em có môi trường gia đình không được thuận lợi, trong gia
đình còn có hiện tượng người lớn không gương mẫu, hay cãi cọ, có hành
động, nói năng khiếm nhã, làm ảnh hưởng không nhỏ đến thói quen giao
tiếp của trẻ. 8
2.2.3. Đối với phụ huynh
- Các bậc cha mẹ học sinh luôn nóng vội trong việc dạy con; họ chỉ chú
trọng đến kiến thức mà qu n hướng cho con em làm tốt hoạt động đoàn thể,
hoạt động xã hội và cách ứng xử trong gia đình, trong cuộc sống
- Một số phụ huynh quá nuông chiều con, cung phụng con cái khiến trẻ
không có kĩ năng tự phục vụ bản thân. Ngược lại, một số phụ huynh vì bận
nhiều công việc n n ít quan tâm giúp đỡ con em trong các hoạt động cần thiết.
- Phụ huynh chưa thấy được tầm quan trọng của việc hình thành và
phát triển năng lực giao tiếp hợp tác cho con em mình.
Từ các nguy n nhân, tình hình thực tiễn cũng như các thuận lợi và khó
khăn n u tr n, bản thân tôi đã cố gắng tìm nhiều biện pháp phát triển năng lực
giao tiếp và hợp tác cho học sinh tiểu học thông qua công tác chủ nhiệm lớp
nhằm đem lại hiệu quả cao trong công tác giáo dục.
Tôi đã tiến hành kiểm tra khảo sát đầu năm học 2022-2023 với lớp
5A3, kết quả thu được như sau:
T Đạ Cầ ắ
Lớ TSHS
TS % TS % TS %
5A3 34 7 20,6% 15 44,1% 12 35,3%
Kết quả tr n cho thấy, số học sinh có kĩ năng tốt còn ít và số học sinh
có kĩ năng chưa tốt còn nhiều. Chính vì vậy mà việc rèn kĩ năng giao tiếp –
hợp tác cho học sinh là vấn đề cần quan tâm. Từ những thực trạng tr n đã thôi
thúc tôi tìm ra nguy n nhân dẫn đến tình trạng “Học sinh chưa có kĩ năng giao
tiếp – hợp tác” là do đâu? Để từ đó tìm ra biện pháp rèn kĩ năng giao tiếp –
hợp tác cho học sinh đạt hiệu quả.
3. C ệ ọ
T u ọ
3.1. Tìm u âm ý, ả ủ ọ ặ ỡ, đổ ớ
ụ uy ọ ù ạ mô ườ
HS.
Để đạt hiệu quả giáo dục cao rất cần sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình
và nhà trường. Bởi môi trường tiếp xúc của học sinh chủ yếu là với những
người thân trong gia đình, với bạn bè; thầy cô ở lớp học. Vì thế, ngay từ đầu 9
năm học, tôi đã tìm hiểu tâm lý của từng học sinh về sở thích, thói quen, hoàn
cảnh gia đình của từng em qua phiếu thông tin ghi hệ thống câu hỏi gửi về
phụ huynh có sự tham gia trả lời của học sinh.
Hình ảnh: Phi u thăm dò tìm hiểu thông tin h c sinh
Qua giao tiếp với các em, tìm hiểu về điều kiện, hoàn cảnh gia đình,
nắm bắt khả năng, đặc điểm của từng em. Từ đó gặp gỡ trao đổi, hướng dẫn
phụ huynh cùng tạo môi trường giao tiếp tốt trong gia đình, uốn nắn từng lời
nói, cử chỉ để tạo thói quen tốt khi giao tiếp. Đặc biệt phối hợp với phụ huynh
giáo dục nâng cao năng lực giao tiếp, hợp tác cho các em mọi lúc, mọi nơi. 10
Với trường hợp gia đình ít chú ý đến việc rèn luyện cho trẻ kĩ năng giao
tiếp tích cực hoặc gặp trường hợp việc giao tiếp giữa các thành vi n trong gia
đình không được nhã nhặn, sử dụng ngôn ngữ thô lỗ, tôi đã khéo léo trao đổi
với phụ huynh về tính nhạy cảm của trẻ để họ chú ý hơn khi dùng từ giao tiếp
với trẻ và cả khi họ giao tiếp với nhau trước con trẻ. Để làm được điều này,
người giáo vi n cần phải ki n trì và thật sự khéo léo.
Hình ảnh: Giáo viên gặp gỡ, trao đổi với đại diện phụ huynh lớp
Hình ảnh: Giáo viên gặp trực ti p những phụ huynh chưa chú ý đ n việc
giao ti p giữa các th nh viên trong gia đình 11
3.2. P â ạ .
Sau khi tìm hiểu hoàn cảnh, sở thích và cá tính của từng em, tôi nắm
được tình hình chất lượng và các mặt hoạt động khác của từng học sinh trong
lớp. Do đó, tôi đã mạnh dạn phân loại học sinh theo các nhóm sau:
Nhóm 1: Học sinh giao tiếp khá tốt, có lời nói lưu loát, diễn đạt trôi
chảy, biết thể hiện lời nói biểu cảm trong giao tiếp.
Ở nhóm này, phần lớn là các em học sinh tiếp thu bài học khá tốt, nắm
vững các kiến thức, kĩ năng các môn học. Trong các phong trào của trường,
lớp như văn nghệ, hoạt động tập thể, thể dục, thể thao,... các em đều tự tin,
chủ động và tích cực tham gia. Cũng chính từ việc tham gia nhiều hoạt động
như vậy, đã giúp các em trở n n mạnh dạn, năng động hơn, tự tin thể hiện ý
kiến của mình trước đám đông.
Nhóm 2: Học sinh có lời nói tương đối lưu loát, trôi chảy nhưng thiếu
tự tin trong giao tiếp.
Các em học sinh ở nhóm này có khả năng tiếp thu kiến thức khá tốt.
Khả năng diễn đạt của các em cũng khá rõ ràng, mạch lạc. Qua quan sát, tôi
nhận thấy mặc dù các em thường rất thoải mái trò chuyện với bạn bè hay
những người thân quen, nhưng các em lại rất ngại tiếp xúc với người lạ hoặc
trước đám đông. Thông thường các em rất khi chủ động trong việc phát biểu ý
kiến của bản thân.
Đây là nhóm học sinh mà chúng ta cần khích lệ, quan tâm, động vi n kịp
thời để giúp các em giải tỏa tâm lí ngại ngùng, e dè, nhút nhát khi giao tiếp.
Nhóm 3: Học sinh còn nhút nhát, ngại giao tiếp, diễn đạt lời nói chưa rõ ý.
Ở nhóm này, một biểu hiện rõ nét nhất là trong giờ học, các em rất ít
tham gia phát biểu ý kiến. Và nếu phải phát biểu, các em thường nói rất nhỏ,
nội dung lời nói thường lan man, không rõ ý và thường không nhìn th ng vào
mắt người đang nói chuyện với mình. Đây là nhóm học sinh cần nhiều sự
quan tâm về việc tăng cường rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho các em. Bởi lẽ,
các em vừa gặp khó khăn trong diễn đạt bằng ngôn ngữ vừa có tâm lí e ngại,
sợ giao tiếp, nói chưa thành câu.
Sau khi phân tích đặc điểm cũng như khả năng giao tiếp của từng học
sinh trong lớp, tôi tiến hành xếp chỗ ngồi cho học sinh sao cho phân bố đều
khắp 3 đối tượng học sinh n u tr n trong các tổ, các nhóm. Từ đó, tôi lập kế
hoạch chủ nhiệm, bầu ban cán sự lớp, bi n chế tổ học tập, nhóm học tập, đôi
bạn học tập, theo tình hình chất lượng lớp, tạo điều kiện cho các em được
học tập, trao đổi, giúp đỡ lẫn nhau. 12
3.3. Hướ dẫ mộ ữ ầy
ò, ữ ò ớ ò.
Giao tiếp là một lĩnh vực rộng nhưng nội hàm của nó có thể chia thành
2 dạng thường gặp trong cuộc sống như sau :
- Giao tiếp bằng ngôn ngữ: Giao tiếp bằng ngôn ngữ nói và giao tiếp
bằng ngôn ngữ viết.
- Giao tiếp bằng phi ngôn ngữ: Cử chỉ, hành động, sắc thái, ...
Để học sinh có năng lực giao tiếp tốt, ứng xử với từng tình huống cụ
thể, tôi quan sát học sinh và nhận thấy rằng trong giao tiếp hằng ngày của các
em được phân chia thành hai nhóm:
+ Nhóm có năng lực giao tiếp tương đối tốt.
+ Nhóm có năng lực giao tiếp chưa tốt.
Trong khi giảng dạy, đặc biệt là khi tổ chức các hoạt động rèn năng lực
sống, tôi lựa chọn tình huống phù hợp với hai nhóm đối tượng. Nhóm giao
tiếp tương đối tốt có cơ hội tiếp tục phát triển năng lực giao tiếp tốt hơn nữa,
còn nhóm đối tượng có năng lực giao tiếp chưa tốt được rèn luyện và phát
triển th m năng lực của bản thân. Ngoài ra, trong quá trình giao tiếp hằng
ngày tôi tiến hành sửa câu nói cho các em học sinh trong mọi lúc, mọi nơi.
Ví dụ: Khi học sinh muốn chia sẻ ý kiến với cô giáo và gọi (Cô ơi) lúc
này tôi liền sửa cho các em: (Em thưa cô) và giải thích cho các em, đó mới là
câu thưa đầy đủ, thể hiện được sự lễ phép của học trò đối với thầy cô giáo.
Ban đầu tôi hướng dẫn cho các em nói theo lời thầy, cô giáo. Tiếp theo
tôi tổ chức cho các em trải nghiệm thực tế bằng cách đóng vai vào các trò
chơi dân gian. Qua việc trải nghiệm các em sẽ tự mình học được các lời nói
đúng, lời nói sai.
Từ những việc làm tr n, các em trong lớp đã biết nói đầy đủ câu, biết
ứng xử với những tình huống cụ thể, không còn hiện tượng nói trống không.
B n cạnh đó thông qua việc đóng vai, tạo th m cho các em thói quen giao tiếp
mạnh dạn hơn khi đứng trước đám đông.
3.4. Đổ mớ ươ dạy ọ ằm è
ọ , ạ mô ườ í .
Đổi mới phương pháp dạy học là dạy và học theo hướng tích cực chủ
động, sáng tạo, trong đó học sinh phải tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề, tự
chiếm lĩnh kiến thức mới theo sự tổ chức và hướng dẫn hợp lý của giáo vi n.
Để thực hiện hiệu quả việc rèn luyện và phát huy kĩ năng giao tiếp, hợp
tác tích cực cho học sinh, trước hết bản thân người giáo vi n phải chú ý “trau 13
dồi” kĩ năng giao tiếp của mình từ cách sử dụng ngôn ngữ chào hỏi, nhận xét
đánh giá cũng như mẫu mực trong thái độ cử chỉ khi giao tiếp với học sinh
cũng như với mọi người. Trong quá trình tổ chức dạy học cho học sinh, ngoài
việc hướng dẫn các em lĩnh hội kiến thức theo mục ti u y u cầu tôi còn luôn
chú ý đến việc lồng ghép giáo dục năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh
thông qua các môn học. Để đạt được mục ti u đó, bản thân tôi cần xác định rõ
hoạt động nào cần tăng cường chú trọng. Qua đó giúp các em mạnh dạn, tự
tin, sôi nổi, tích cực, chủ động hơn trong việc lĩnh hội tri thức của mình.
Trong các tiết học, tôi đã vận dụng các phương pháp, hình thức dạy học
phù hợp tạo điều kiện cho học sinh rèn luyện kĩ năng giao tiếp của mình.
a) Phương pháp thảo luận nhóm:
Tổ chức nhóm nhằm tạo cơ hội cho mọi đối tượng được nói, được trình
bày miệng trước nhóm, được mạnh dạn trình bày và biết cách trình bày một
vấn đề trước tập thể. Từ đó, giúp các em rèn kỹ năng giao tiếp, biểu hiện thái
độ cử chỉ khi trình bày, mạnh dạn, tự tin hơn khi nói trước đông người. Vì
vậy, đối với các môn học mục ti u là rèn kỹ năng giao tiếp cho học sinh tôi
thường vận dụng hình thức này như đối với phân môn Tập làm văn khi dạy
các bài như: Tự giới thiệu; Kể về người thân; Tôi thường cho học sinh tự
suy nghĩ cá nhân sau khi xác định y u cầu của bài tập, thảo luận nhóm đôi,
thống nhất kết quả để thực hiện bài tập, sau đó các nhóm trình bày kết quả
thảo luận của nhóm mình.
14
Hình ảnh: H c sinh tham gia hoạt động nhóm
Hình ảnh: H c sinh h p tác, chia sẻ trong nhóm.
Trong khi học sinh thảo luận nhóm, giáo vi n cần quan sát, theo dõi và
hướng dẫn, hỗ trợ khi các em gặp khó khăn trong quá trình thảo luận bằng
cách đặt câu hỏi, hướng dẫn trả lời, cung cấp th m thông tin cho các em. 15
Hình ảnh: Giáo viên hỗ tr khi các em gặp khó khăn
trong quá trình thảo luận.
Khi các nhóm trình bày, giáo vi n y u cầu nhóm khác phải lắng nghe
nhóm bạn trình bày, nhận xét, bổ sung và so sánh cách làm, kết quả với nhóm
mình. Đồng thời, giáo vi n cần động vi n, khuyến khích các nhóm và cá nhân
đưa ra các câu hỏi có li n quan đến công việc của mỗi nhóm để học sinh trả lời.
Đại diện các nhóm chia sẻ trước lớp
(Có video kèm theo)
Tôi luôn sử dụng phương pháp này vào giảng dạy nhằm làm cho tất cả
học sinh được hoạt động, tạo không khí lớp học sôi động, hấp dẫn, các em
tiếp thu bài cũng dễ dàng hơn, đặc biệt tạo điều kiện để các em bổ sung vốn
Tiếng Việt một cách hiệu quả.
b) Trò chơi học tập:
Trò chơi học tập là hình thức học tập có hiệu quả đối với học sinh, đặc
biệt là những em ngại nói, tức là ngại giao tiếp, trò chơi học tập sẽ làm cho
các em hứng thú hơn trong học tập. Thông qua trò chơi, học sinh được luyện
tập, làm việc cá nhân, làm việc trong đơn vị nhóm, đơn vị lớp theo sự phân
công và tinh thần hợp tác. Trò chơi tạo cơ hội cho học sinh tự hoạt động, tự
củng cố kiến thức, tự hoàn thiện kỹ năng giao tiếp của chính mình.
Các trò chơi học tập có thể tổ chức cho học sinh trong giờ tự học, giờ ra
chơi hoặc giờ sinh hoạt lớp hay trong phần củng cố của mỗi giờ học. Qua các
trò chơi này, học sinh được tăng cường rèn luyện các kiến thức vừa được học,
từ đó sẽ nhớ bài và vận dụng vào việc giao tiếp trong đời sống hằng ngày. 16
Tổ chức cho các em ôn luyện kiến thức, kĩ năng bằng các trò chơi như:
Hái hoa dân chủ, Thi tìm hiểu về An toàn giao thông,... với nội dung phong
phú, sinh động để thu hút được các em tham gia. Thông qua trò chơi, học sinh
mạnh dạn, tự tin, tích cực, trong hoạt động học tập.
Hình ảnh: H c sinh hứng thú tham gia trò chơi
c) Phương pháp thuyết trình – kể chuyện – đóng vai
Đây là hình thức học tập được áp dụng nhiều ở phân môn Kể chuyện qua
bài tập “Phân vai dựng lại câu chuyện”. Để học sinh có kỹ năng giao tiếp tốt,
giáo vi n cần chú ý cho học sinh có giọng kể thích hợp kết hợp cùng cử chỉ,
điệu bộ trong khi đóng vai. Đặc biệt nắm vững nội dung câu chuyện định kể.
Hình ảnh: H c sinh tự tin, hứng thú tham gia kể chuyện đóng vai 17
Hình ảnh: HS tự tin trình b y khi kể chuyện trước lớp
Sau khi thực hiện giải pháp này, học sinh mạnh dạn trao đổi ý kiến với
các bạn trong thảo luận nhóm. Các em mạnh dạn trình bày kết quả học tập của
nhóm to, rõ ràng, lưu loát, tự tin; mạnh dạn đặt câu hỏi giao lưu với bạn dựa
tr n chuẩn kiến thức và kỹ năng. Các em nhút nhát tự tin hơn khi trình bày ý
kiến. Tiết học trở n n sôi nổi, học sinh hứng thú hơn trong học tập.
3.5. P ô qu ạ độ
ờ ê ớ .
- Viết và nói lời chúc: Lời chào, lời chúc thật sự là một y u cầu cần
thiết trong cuộc sống. Điều này đối với nhiều người đã trở thành thói quen
không thể thiếu. Song với một số người thì đây lại là những khiếm khuyết mà
không tự nhận ra vì tính nhút nhát, ít nói, cho dù đã trưởng thành. Với văn
hoá người Việt, từ xưa đã có quan niệm rằng “Lời chào cao hơn mâm cỗ”.
Lời chào, lời chúc giúp ta biểu đạt cảm xúc tình cảm, sự thân thiện, sự kính
trọng, sự chân thành, sự gần gũi thân thương, y u quý, Bởi thế, ngay từ khi
còn nhỏ cần thiết phải chú trọng đến giao tiếp, trong đó việc chào hỏi và nói
lời chúc là rất quan trọng. Vì vậy, ngoài việc theo dõi nhắc nhở hàng ngày về
những kĩ năng chào hỏi, tôi đã hướng dẫn các em viết cảm xúc, lời chúc trong
các ngày lễ đối với người mình y u quý. Tôi thường đưa ra tình huống để các
em thực hiện lời chúc, lời chào trong các tình huống cụ thể. Từ đó khích lệ,
điều chỉnh giúp các em có ý thức hoàn thiện ngôn ngữ và rèn luyện kĩ năng
tốt hơn. Đôi lúc tôi lại vào vai như người bạn của các em và cùng các em thảo
luận để các em được thoải mái, tự tin hơn. 18
Hình ảnh: Các em vi t v nói lời chúc với thầy cô;
Những người phụ nữ m mình yêu quý nhân ng y 20/10 v 20/11.
- Tôi thường xuy n kết hợp với tổng phụ trách Đội, nắm bắt kịp thời
các kế hoạch của Đội, phối hợp tổ chức các hoạt động sinh hoạt tập thể và vui
chơi thông qua hoạt động ngoài giờ l n lớp. Ở các tiết sinh hoạt Sao nhi đồng,
với mục ti u giúp cho các em nắm được cơ bản các kĩ năng kiến thức như:
biết thực hiện các hoạt động theo chủ điểm của Li n đội hàng tuần, hàng
tháng; yêu Sao – y u Đội; biết giữ gìn vệ sinh cá nhân – môi trường chung; an
toàn khi tham gia giao thông; tôi đã chú trọng rèn luyện cho các em các kĩ
năng biểu đạt ý kiến, tập cho các em có thói quen hợp tác tích cực, tự giác
trong các hoạt động. 19
Hình ảnh: Hoạt động Sao nhi đồng
- Tham gia các buổi sinh hoạt dưới cờ vào mỗi thứ hai hàng tuần, biểu
dương các tập thể, cá nhân học sinh có tinh thần học tập tốt và giới thiệu, định
hướng những nội dung cần giáo dục cho học sinh.
Hình ảnh: H c sinh tham gia buổi sinh hoạt dưới cờ v o sáng thứ hai 20
- Hưởng ứng các phong trào thi đua học tập và rèn luyện của Li n Đội,
thông qua đó giáo dục ý thức học tập, tinh thần đoàn kết, thương y u, giúp đỡ
nhau cùng tiến bộ. Đồng thời giáo dục truyền thống cách mạng, lòng tự hào
dân tộc, tình y u qu hương đất nước cho học sinh.
- Đẩy mạnh các hoạt động mang tính giáo dục như: Nhóm học tập, đôi
bạn cùng tiến ...
- Tổ chức các buổi sinh hoạt lớp giúp các em nhìn lại những ưu điểm,
hạn chế của bản thân, tổ, lớp trong từng tuần, tháng; từ đó đưa ra phương
hướng khắc phục những hạn chế trong tuần tới, tháng tới. Ở đây, tôi cũng đặc
biệt chú ý nhận xét đánh giá về cách giao tiếp giữa các em hằng ngày tr n lớp
và khen để khích lệ mặt tích cực, tuy n truyền, nhắc nhở các em về y u cầu
giao tiếp trong cuộc sống cũng như trong các hoạt động tập thể.
Hình ảnh: Các bạn h c sinh tích cực đư c nhận phần thưởng
sau mỗi tuần phấn đấu
- Tham gia các hoạt động tập thể trong phạm vi toàn trường tạo điều
kiện để các em hình thành các mối quan hệ gắn bó với nhau, có ý nghĩa và tác
dụng sâu sắc đến nhận thức, tình cảm của các em. Qua các hoạt động tập thể,
các em biết phát huy kĩ năng giao tiếp, biết chú trọng về thái độ và dùng lời
diễn đạt phù hợp giữa nhi đồng với nhi đồng; giữa các anh chị đội vi n với
nhi đồng, nhi đồng với các anh chị đội vi n; giữa các em với chị phụ trách.
Rèn luyện cho các em có ý thức giữ kỉ luật, trật tự trong hoạt động tập thể
cũng chính là giáo dục cho các em một trong những nguy n tắc giao tiếp
(Người nói có người nghe).
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_phat_trien_nang_luc_giao_tiep_va_hop_tac_ch.pdf



