Một số biện pháp phát huy tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi

docx31 trang | Chia sẻ: Thảo Hoa | Ngày: 29/01/2026 | Lượt xem: 7 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang mẫu tài liệu Một số biện pháp phát huy tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
A. ĐẶT VẤN ĐỀ I. Lý do chọn đề tài Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân ở Việt Nam. Vị trí của giáo dục mầm non là đặt nền tảng cho sự phát triển nhân cách thông qua hệ thống giáo dục quốc dân.Mục đích chung của giáo dục mầm non là phát triển tất cả các khả năng của trẻ, hình thành cho trẻ những cơ sở ban đầu của nhân cách con người: "Cần phát triển một số giá trị, nét tính cách và phẩm chất cần thiết: mạnh dạn, tự tin, tự lập, sáng tạo, linh hoạt, tự giác, ... tạo điều kiện cho trẻ tham gia vào đời sống. Trong cuộc sống, khả năng tự lập là một phẩm chất nhân cách vô cùng quan trọng của con người. Nhờ vào khả năng tự lập mà con người có khả năng tự hoạt động, tự cố gắng tham gia và hoàn thành công việc trên cơ sở năng lực của bản thân.Khảnăng tự lập phát triển từ thấp đến cao, bắt đầu từ tuổi thơ. Như vậy, giáo dục khả năng tự lập cho trẻ là một nhiệm vụ cần thiết, trẻ em là tương lai của đất nước, là chủ nhân tương lai của xã hội trong thế kỉ mới - thế kỉ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thế kỉ của một nền văn hóa thông tin với khoa học công nghệ - thế kỉ đòi hỏi những con người mới, hiện đại, độc lập và tự chủ. Nếu người lớn, mà nhất là giáo viên mầm non và phụ huynh trẻ sớm biết được khả năng tự lập của trẻ, tôn trọng những biểu hiện tự lập của trẻ, đi đôi với những biện pháp tác động đúng đắn thì sẽ tạo điều kiện phát triển khả năng tự lập của bản thân trẻ, hình thành những phẩm chất quý báu cần thiết cho trẻ trước ngưỡng cửa bước vào cuộc đời. Từ đó Tôi ở cương vị là mộtgiáo viên mầm non được tiếp xúc với những mầm non của đất nước hằng ngày,Tôi mong muốn góp một phần nhỏ bé của mình học tập những kinh nghiệm hay của các nước bạn trong để làm phong phú thêm cách giáo dục tính tự lập của trẻ ở trường mấm non. Trên thực tế nhiều nhà khoa học đã chứng minhtính tự lập được hình thành rất sớm và là một biểu hiện tâm lí có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành các phẩm chất nhân cách của trẻ. Một số dấu hiệu đáng tin cậy của bắt đầu sự hình thành tính tự lập, đó là nhu cầu tự khẳng định mình xuất hiện. Trẻ muốn tự làm một số công việc trong sinh hoạt hằng ngày. Giáo dục tính tự lập cho trẻ ngay từ khi còn bé không những tạo ra cho trẻ khả năng tự lập trong sinh hoạt hằng ngày mà còn là một trong những điều kiện quan trọng để hình thành sự tự tin, năng động, sáng tạo, làm cơ sở hình thành các kĩ năng sống sau này. Tính tự lập là phẩm chất nhân cách quan trọng được hình thành trong quá trình hoạt động của con người. Nó có ở mọi người, mọi lứa tuổi với mức độ và đặc điểm riêng, điều kiện đảm bảo cho con người phát huy cao độ mọi tiềm năng của bản thân, thích nghi với điều kiện biến đổi của tự nhiên, xã hội. Tính tự lập càng phát triển thì con người càng thành công trong cuộc sống Thực tế hiện nay tại Việt Nam , đa số phụ huynh còn có nhiều sai lầm về giáo dục nói chung và giáo dục tính tự lập cho trẻ nói riêng ,trẻ em luôn được cha mẹ bao bọc quan tâm ‘quá mức có thể’. Đây là điều mà chúng ta vẫn luôn thấy trong các gia đình hiện đại. Lí do bởi đơn giản càng có ít con cái, càng có điều kiện về kinh tế, trẻ càng được nâng niu, coi trọng và được chăm sóc kĩ càng. Ăn có người đút, mặc có người giúp, đi có người bế, có ô tô, có xe đẩy chứ không vận động bằng chính bản thân trẻ. Những phụ huynh có xu hướng này luôn làm hộ trẻ tất cả mọi thứ với tâm lý chung: Con nó còn bé, làm sao mà làm được. Cứ làm hộ nó đi, rồi đến tuổi, đến lúc nó sẽ tự làm được. Vậy xin hỏi các bạn: Đến tuổi là đến mấy tuổi và đến lúc là đến lúc nào? Không được dạy cách làm, không được luyện tập, không được trải nghiệm thành thói quen, được làm hộ suốt những năm còn bé, liệu em bé của bạn có thói quen tự phục vụ chính bản thân mình hay không? Bố mẹ nuông chiều con quá mức chỉ biết hưởng thụ sau này trở thành người có tính ích kỉ, thụ động,vụng về, thiếu tự tin trong cuộc sống. Hoặc là bố mẹ vào khả năng của trẻ, trẻ muốn làm nhưng thấy trẻ làm lóng ngóng, chậm chạp thì tỏ ra khó chịu, nên người lớn thường “Sốt ruột” và làm thay trẻ, dẫn đến trẻ có thái độ bướng bỉnh dần dần tạo ra sự ỉ lại, lười biếng mất tự tin ở trẻ. Bản thân tôi là giáo viên mầm non trực tiếp giảng dạy trẻ 3-4 tuổi. Ngay từ đầu năm học tôi nhận thức rõ vai trò của mình là người hướng lái cho các cháu có thói quen tốt về việc lao động tự phục vụ bản thân. Trong thời gian đầu, qua quá trình làm quen trò chuyện, cùng hoạt động và gần gũi tôi thấy các cháu lớp mình còn nhiều nhút nhác, ỉ lại, lười vận động, các cháu chưa có nề nếp và thói quen tốt trong tập thể, chưa có tính tự lập. Mọi hoạt động của trẻ đều do cô giáo phục vụ hay nhắc nhở thì trẻ mới làm, làm lại không đến nơi đến chốn, nếu không nhắc nhở thì trẻ đụng đâu bỏ đó. Trẻ chưa có tính tự giác, chưa chủ động trong mọi hoạt động, chưa phát huy được tinh thần trách nhiệm của mình với bản thân và tập thể. Vì vậy tôi thấy rằng cần hình thành cho trẻ một thói quen, một nề nếp tốt nhằm giúp trẻ có ý thức biết thực hiện hành vi trách nhiệm với bản thân mình để tạo nền tảng cho tính tự lập của chính mình.Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp phát huy tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi”. II .Mục đích nghiên cứu đề tài - Nghiên cứu thực trạng việc giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo bé 3-4 tuổi -Tìn ra một số biện pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo bé 3-4 tuổi - Nhằm giúp giáo viên thực hiện tốt phương pháp giáo dục tính tự lập cho trẻ để giúp trẻ dễ dàng tiếp thu kiến thức, kỹ năng phát huy tính tích cực tính tự lập của trẻ. III .Đối tượng nghiên cứu đề tài Khảo sát thực nghiệm trên trẻ lớp mẫu giáo 3-4 tuổi trong hoạt động một ngày đến lớp của trẻ. IV. Đối tượng khảo sát thực nghiệm Khảo sát thực trạng trên trẻ lớp mẫu giáo 3-4 tuổi trong hoạt động một ngày đến lớp của trẻ ở trường mầm non nơi tôi đang công tác V.Phương pháp nghiên cứu +Phương pháp nghiên cứu lí luận: Đọc nghiên cứu tổng hợp các tài liệu có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu. + Phương pháp trực quan. + Phương pháp nghiên cứu sư phạm. + Phương pháp dùng lời nói. + Phương pháp thực hành VI.Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu - Tại lớp mẫu giáo 3 - 4 tuổi tôi đang chủ nhiệm với tổng số 15 học sinh * Thời gian nghiên cứu. + Từ tháng 9/2016 đến tháng 10/2016: Khảo sát điều tra nắm được thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân + Tháng 11/2016 : Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài + Từ tháng 12/ 2016 đến tháng 03/2017: Thực hiện các giải pháp. + Tháng 4/2017: Kiểm tra, tổng kết, viết đề tài B. NHỮNG CƠ SỞ ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I.Cơ sở lý luận Qua nghiên cứu của các chuyên gia và thực tế đã chứng minh những đứa trẻ sớm được cha mẹ giáo dục tính tự lập từ nhỏ thì nhanh nhẹn và hoạt bát nổi trội hơn hẳn so với những trẻ khác.Thực ra tính tự lập cho trẻ nên hình thành từ rất sớm, đặc biệt là từ khi trẻ đã có thể ngồi và cầm nắm đồ vật. Từ 18 tháng tuổi trẻ đã có mong muốn tự lập, tự làm lấy những việc mà trẻ thích. Khi trẻ có thể tự ngồi và cầm nắm được đồ vật thì hầu như trẻ đã có thể tự ăn một mình. Bố mẹ hãy cho trẻ một ghế ăn riêng xếp cùng bàn ăn với gia đình, khi cả nhà ăn cũng khuyến khích trẻ tự xúc thức ăn của mình mặc dù còn rơi vãi và vụng về nhưng bố mẹ hãy cho trẻ cơ hội. Nếu trẻ không ăn nữa thì cho trẻ ngừng, đừng cố ép cho trẻ ăn hết và qua một vài lần, trẻ sẽ ý thức được vào giờ ăn thì phải ăn, nếu không ăn sẽ đói.Cùng với việc giáo dục tính tự lập qua việc ăn uống của trẻ, bố mẹ cũng có thể tạo cho trẻ cơ hội được tự làm những việc đơn giản khác như mặc quần áo, đi vệ sinh... ngay khi trẻ có thể làm. Và khi trẻ có mong muốn làm những việc phức tạp hơnnhư lau nhà, nhặt rau, tưới cây, rót nước... bố mẹ cũng đừngngăn cản, hãy khen ngợi và khuyến khích trẻ làm. Có thể trẻ sẽ làm vỡ, hư hỏng một số thứ, nhưng đó là cơ hội cho trẻ được hoạt động, trải nghiệm giúp trẻ học hỏi và phát triển. Đến tuổi học mẫu giáo, trẻ đã có thể tự mang giầy, mặc quần áo, áo khoác, treo quần áo đúng nơi quy định, tự đi vệ sinh... Trong trường mẫu giáo mọi dụng cụ trong nhà vệ sinh đều nhỏ, thấp, phù hợp với kích thước của trẻ nên trẻ có thể tự đi vệ sinh, gạt nước, rửa tay, vứt rác vào thùng rác. Ở tuổi mẫu giáo, trẻ được dạy những điều hết sức cơ bản như tự rót nước, sữa vào ly, tự mang gấp chăn, gối... Yếu tố tạo nên tính tự lập ở mỗi cá nhân là khả năng tin tưởng vào những đánh giá của bản thân, cũng như là tự vạch ra con đường đi cho mình mà không cần lúc nào cũng nhờ đến sự chỉ bảo, hay tìm kiếm sự giúp đỡ từ người khác. Có được khả năng này là một điều tuyệt với, bởi nó sẽ giúp trẻ hạnh phúc hơn, thu hút được sự chú ý của mọi người xung quanh, từ đó khuyến khích trẻ tạo ra những cơ hội để trẻ thể hiển mình. Những đứa trẻ được giáo dục tính tự lập từ nhỏ thì nhanh nhẹ và hoạt bát, nổi trội hơn hẳn so với những trẻ khác. Còn đối với trẻ mầm non rất nhiều trẻ xuất hiện tình trạng dựa dẫm, ỷ lại, được nuông chiều một cách thái quá dẫn đến không biết làm một số việc đơn giản như không biết mặc quần áo, không biết tự đi giày, dép, không thích tự đi mà thích được người lớn bế ẵm .Trẻ không biết cách chăm sóc bản thân, không biết giữ gìn vệ sinh, lười nhác không biết hỗ trợ người khác. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này trong đó thiếu tính tự lập là một nguyên nhân trọng tâm nhất. Như chúng ta đã biết, trẻ em là một đối tượng khá nhạy cảm, nếu trẻ em được tiếp xúc với nền giáo dục tốt thì trẻ phát triển theo chiều hướng tốt. Ngược lại nếu trẻ em tiếp xúc với nền giáo dục không đúng đắn sẽ dẫn đến các hậu quả tiêu cực. Do đó việc giáo dục tính tự lập cho trẻ cần được áp dụng càng sớm càng tốt, và là phương pháp rất quan trọng và cần thiết. Tạo tính tự lập cho trẻ không phải chỉ có hướng dẫn cho trẻ tự lo cho bản thân mà còn giúp trẻ tự quyết định các vấn đề của mình. Đó cũng là cách giúp trẻ vận động suy nghĩ, sáng tạo và tự tin. II. Khảo sát thực trạng 1.Đặc điểm tình hình nhà trường - Trường tôi là một trường nằm trên địa bàn thuộc 7 xã miền núi có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Trường có 2 điểm trường với tổng số 271 học sinh gồm 12 nhóm lớp có 12 phòng học kiên cố. - Tổng số cán bộ giáo viên, nhân viên: 36 đồng chí Cán bộ quản lý: 3; Giáo viên: 25 ; Nhân viên: 8 - Năm học 2016 - 2017 tôi được phân công chủ nhiệm lớp 3 tuổi C3 gồm 2 giáo viên với tổng số15 học sinh. Trong đó có 5 học sinh nam, 10 học sinh nữ ,với độ tuổi đồng đều, 6 học sinh là con em dân tộc mường, 1 học sinh là con em dân tộc sán chỉ ,có 3 cháu đã qua lớp nhà trẻ, 12cháu chưa qua lớp nhà trẻ với những thuận lợi, khó khăn như sau: a. Thuận lợi: - Được sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện cho các cán bộ giáo viên được bồi dưỡng về chuyên môn , học tập bồi dưỡng các chuyên đề . - Giáo viên chủ nhiệm lớp đều có trình độ đạt chuẩn - Các giáo viên luôn nhiệt tình, tận tụy, tâm huyết với nghề, yêu thương trẻ, có tinh thần trách nhiệm trong mọi công việc, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Tích cực tham gia học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực sư phạm cho bản thân. - Trẻ ở cùng một độ tuổi nên mức độ nhận thức tương đối đồng đều. Chính vì vậy việc dạy trẻ ở lớp có nhiều thuận lợi. Bản thân đã trải qua nhiều năm được trải nghiệm thực tế trên lớp với trẻ, đồng thời được tham gia học hỏi kinh nghiệm qua bạn bè đồng nghiệp nên cũng đã học được một số kinh nghiệm trong phương pháp giảng dạy. - Trẻ đi học chuyên cần cao nên đảm bảo quá trình dạy và học của cô và trò không bị gián đoạn. - Các cháu nhìn chung khỏe mạnh, nhanh nhẹn, thích khám phá cái mới, cùng một lứa tuổi..., thuận lợi cho việc tiếp thu kiến thức do cô truyền đạt b. Khó khăn * Về phía giáo viên: - Giáo viên chủ nhiệm lớp đều còn trẻ nên trong quá trình giảng dạy gặp không ít khó khăn - Là một giáo viên có nhiều cố gắng trong quá trình công tác và đầy đủ năng lực, trình độ chuyên môn nhưng vì điều kiện trẻ ở miền núi nên trẻ tiếp thu chậm * Về phụ huynh: - Phụ huynh đa số sống bằng sản xuất nông nghiệp là chính nên nhiều phụ huynh chưa nhận thức được hết tầm quan trọng của độ tuổi mẫu giáo. Một số cháu bố mẹ đi làm xa ở nhà với ông bà dẫn đến cô tuyên truyền tới phụ huynh gặp nhiều khó khăn. * Về phía trẻ: - Hầu hết số trẻ trong lớp tôi chưa qua lớp nhà trẻ nên kỹ năng tự phục vụ của trẻ hầu như không có mà hoàn toàn phụ thuộc vào bố mẹ và cô giáo. -Do bố mẹ trẻ luôn coi trẻ còn rất nhỏ và non nớt nên quá nuông chiều mà không để trẻ tự làm lấy một việc gì dù là nhỏ nhất. -Một số trẻ được bố mẹ quá nuông chiều, một số trẻ lại quá hiếu động nhưng không biết tự phục vụ bản thân, không biết giữ gìn vệ sinh cơ thể mà thường phụ thuộc vào bố mẹ và cô giáo. - Ngôn ngữ của trẻ còn hạn chế một số cháu còn nói ngọng ,phát âm chưa rõ ràng, chưa diễn tả được ý hiểu của mình đối với người khác. * Về cơ sở vật chất điều kiện:- Trang thiết bị phục vụ cho công tác dạy và học còn nghèo nàn thiếu thốn trang thiết bị dạy trẻ , chưa đủ cho trẻ hoạt động. Môi trường cho trẻ hoạt động còn nghèo nàn. 2.Khảo sát trẻ đầu năm Từ những thuận lợi, khó khăn và nhận thức của mình về vấn đề giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo bé, tôi định hướng được nhiệm vụ của mình trong công việc nghiên cứu này. Và để gặt hái được nhiều kết quả tốt trong quá trình thực hiện nên ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát tìm hiểu kết quả khảo sát như sau: Bảng khảo sát đầu năm học Stt Nội dung Tổng số Kết quả trẻ Đạt Chưa đạt 1 Kỹ năng tự phục vụ bản thân 15 5 10 ( 33,3%) (66,7%) 2 Kỹ năng thói quen vệ sinh 15 4 11 (27%) (73%) 3 Kỹ năng hỗ trợ người khác 15 3 12 (20%) (80%) Qua khảo sát tôi thấy trẻ lớp tôi đa số còn chưa biết cách tự phục vụ bản thân, chưa có ý thức giữ gìn vệ sinh thân thể, đặc biệt kỹ năng hỗ trợ người khác còn rất ít trẻ đạt yêu cầu. Trẻ lớp tôi còn luôn ỉ lại, dựa dẫm vào cô giáo trong lớp, nếu không có cô giúp hoặc nhắc nhở thì trẻ không biết phải làm gì. Từ kết quả trên tôi đã nghiên cứu các biện pháp cụ thể để giáo dục tính tự lập cho trẻ. III. Những biện pháp thực hiện 1. Những biện pháp 1.1: Biện pháp thứ nhất: Xác định rõ kỹ năng rèn luyện cho trẻ từ đầu năm học 1.2 Biện pháp thứ hai: Cô làm gương cho trẻ. 1.3: Biện pháp thứ ba: Hướng dẫn trẻ làm 1 số việc tự phục vụ vừa với sức của mình 1.4: Biện pháp thứ tư: Tổ chức lồng ghép giáo dục tính tự lập vào các hoạt động. 1.5: Biện pháp thứ năm: Lồng ghép ứng dụng công nghệ thông tin giáo dục tính tự lập cho trẻ. 1.6: Biện pháp thứsáu: Tuyên truyền, phối kết hợp với phụ huynh cùng giáo dục tính tự lập cho trẻ 2. Biện pháp thực hiện (Biện pháp từng phần) 2.2.1. Biện pháp 1:Xác định rõ kỹ năng rèn luyện cho trẻ từ đầu năm học Tự lập là gì? Để xác định được mục tiêu rèn luyện kỹ năng tự lập chúng ta phải hiểu được ý nghĩa của tính từ ‘Tự lập’ .Tự lập nghĩa là sống dựa vào chính khả năng, sức lực của bản thân mình, mà không cần phải trông đợi, dựa dẫm vào người khác.Tự lập là một phẩm chất quan trọng và phức tạp của nhân cách .Ngay từ khi trẻ ý thức được “cái tôi” của mình ,thì việc hình thành giáo dục và phát triển tự lập cho trẻ là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết của các cô giáo ,bố mẹ,ông bà Nhưng người lớn thườngkhông muốn trẻ phải gánh nhiều trách nhiệm khi chưa thực sự sẵn sàng, thế là lại tiếp tục làm mọi việc giúp trẻ như thường lệ mà ít nhận ra rằng con trẻ đã đủ khéo léo, có các kỹ năng phù hợp và đủ tự tin bắt tay vào một công việc nào đó. Để hình thành tính tự lập, người lớn cần tin tưởng trẻ, động viên và khuyến khích trẻ làm những công việc trong khả năng. Nếu mọi người kiểm soát trẻ quá chặt để trẻ phụ thuộc quá lâu thì trẻ sẽ bát riết lấy cha mẹ, cô giáo, chúng có thể trở thành những đứa trẻ lưới biếng và mọi việc đối với trẻ đều trở nên khó khăn. Xuất phát từ tư duy này cô giáo và cha mẹ nên dạy con tính tự lập, sống bằng đôi tay của mình ngay từ nhỏ. Với mỗi độ tuổi khác nhau để đặt ra mục tiêu và cách thực hiện các bước khác nhau . Vì vậy ngay từ đầu năm học tôi đã đặt ra các mục tiêu để rèn luyện tính tự lập với các kỹ năng cho trẻ lớp mình như sau: - Kỹ năng phục vụ bản thân: Tự nhặt đồ chơi, tự cởi và mặc quần áo, rửa mặt, rửa tay, tự đi dép, tự cất dép, lấy đồ dùng cá nhân của mình khi đến lớp và khi ra về, tự ăn, tự đi lên xuống cầu thang, tự lấy và cất gối. - Kỹ năng hỗ trợ người khác: Lấy, cất đồ dùng học tập, chuẩn bị bàn ăn, giường ngủ cùng cô, lấy ly nước uống khi được nhờ, xách phụ đồ, tưới cây .. - Kỹ năng thói quen vệ sinh: Tự thay quần áo khi thấy bẩn, tự xúc miệng nước muối sau khi ăn, lau nước trên sàn, lau bụi trên bàn, xả nước sau khi đi vệ sinh, đi vệ sinh đúng nơi qui định, rửa tay bằng xa phòng khi tay bẩn, nhặt rác, bỏ rác vào đúng nơi qui định, tự rửa tay, chân khi thấy bẩn, biết tự đi vệ sinh khi thấy có nhu cầu. Việc xác định được những kỹ năng như trên đã giúp tôi định hướng được nhiệm vụ của mình trong công tác chăm sóc trẻ nói chung và việc thực hiện đề tài nghiên cứu nói riêng. Và nhờ xác định được những kỹ năng đó mà tôi đã rèn trẻ thông qua hoạt động một ngày của bé 2.2.2 Biện pháp 2:Biện pháp cô làm gương cho trẻ: Hàng ngày trẻ đến lớp cùng cô, cả ngày cùng học tập sinh hoạt cùng cô. Vì vậy cô giáo vừa là bạn, vừa là cô, là tấm gương cho trẻ noi theo. Hàng ngày cô đến lớp cất túi sách, áo khoát, giày dép gọn gàng đúng nơi qui định của cô và làm kí hiệu những ngăn tủ riêng cho từng trẻ và dạy trẻ để đồ dùng đúng chỗ và ngay ngắn. Đồ dùng trong lớp cô sắp xếp ngay ngắn, gọn gàng theo nhóm mỗi khi sử dụng xong cô cất ngay đúng vị trí qui định, dạy trẻ chú ý cách sắp xếp đồ dùng trong lớp và biết lấy cất đồ dùng của mình và của cô gọn gàng. Trong mọi hoạt động học tập và sinh hoạt cô luôn là tấm gương trong việc giữ gìn môi trường lớp học sạch sẽ, bỏ rác vào thùng. Thường xuyên cùng trẻ vệ sinh trong và ngoài lớp vào ngày cuối tuần, lau dọn đồ dùng đồ chơi, nhổ cỏ, chăm sóc các chậu hoa kiểng ở góc thiên nhiên của lớp và vườn hoa, vườn rau trong sân trường, nhặt rác và lá rơi để tạo mĩ quan trường học “xanh - sạch - đẹp”. Được giúp cô trẻ cảm thấy mình đang làm việc quan trọng và rất có ích, trẻ thích được làm việc cùng cô và nhiệm vụ cô phân công từ đó hình thành cho trẻ thói quen, nề nếp giữ vệ sinh chung. Ví dụ:Cô đến lớp cất dép ngọn ngàng,cất đồ dùng của cô đúng nơi quy định. Trong các giờ ăn cô chuẩn bị khăn ướt, đĩa đựng cơm rơi, bàn ghế sạch sẽ. Trước giờ ăn cô rữa tay sạch sẽ trước khi chia cơm, thức ăn ..Luôn giữ ìn vệ sinh chung như bỏ rác đúng nơi quy định ,không vứt rác bừa bãi ra lớp ra sân. Trong các giờ học cô luôn cất đồ dùng đồ chơi ngọn nàng đúng nơi quy định. Hình ảnh cô đổ rác vào thùng rác 2.2.3 Biện pháp thứ 3:Hướng dẫn trẻ làm 1 số việc tự phục vụ vừa với sức của mình. Lao động tự phục vụ là hình thức lao động nhằm thỏa mãn những nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày ,nhằm chăm sóc cho bản thân mình . Khi ở lớp cô cần khuyến khích và cho trẻ thử làm những việc vừa sức. Chẳng hạn tự đi lấy nước, tự dọn dẹp đồ chơi,tự lau mặ, tự lấy dép Đừng làm thay con tất cả mọi việc,nếu có thể hãy sắp xếp một “công việc” cụ thể cho bé. Ví dụ khi chuẩn bị ăn, bé sẽ phải tự lấy muỗng, khi đi tắm, bé phải tự chọn và lấy quần áo, dần dần trẻ nhận ra mình có thể tự làm nhiều việc và sẽ rất hào hứng với điều đó.Để bé tự làm rồi quan sát để biết vướng mắc chỗ nào rồi chỉ dẫn bé cách làm đúng.Tập dần từng việc, từ tự ăn, tự mặc quần áo, tự dọn dẹp đồ đạc hoặc để trẻ tự do làm điều gì trẻ thích chứ không nên ép buộc phải tự lập đồng bộ. Không tỏ ra sốt ruột khi trẻ thất bại nhiều lần bởi như vậy sẽ gây áp lực và khiến trẻ mất hết tự tin.Tùy vào khả năng của trẻ để rèn giũa, nhanh chậm không quan trọng mà vấn đề là trẻ làm được gì.Ở tuổi lên ba trẻ đã hình thành và phát triển ý thức “Cái tôi” của mình, trẻ tích cực tìm hiểu các sự vật, hiện tượng xung quanh, trẻ rất muốn tự làm mọi việc để khẳng định mình.Ý thức này chi phối phần lớn các hoạt động trong ngày của trẻ. Vì vậy tôi luôn tôn trọng và thỏa mãn nhu cầu tự lập của trẻ kết hợp sử dụng phương pháp khích lệ động viên trẻ. VD: Có bạn không tự xúc cơm trong giờ ăn mà chờ cô đến xúc cho tôi đến bên trẻ động viên khuyến khích trẻ tự làm “Trâm Anh giỏi quá đã tự xúc được cơm ăn rồi, con xúc ít một thôi nhé và phải nhai luôn không nên ngậm cơm mà sâu răng đấy”.Hay tới lớp trẻ rất thích được tự cởi giày, dép và tự cất lên giá dù mỗi lần trẻ làm công việc đó rất lâu những lần như vậy tôi luôn đứng bên cạnh chờ đợi trẻ kết hợp động viên trẻ “Thảo My giỏi quá giày khó cởi thế mà con làm được rồi”.. Tôi nghĩ nếu tôi thấy sốt ruột việc trẻ mà làm hộ trẻ, thì dẫn đến trẻ sẽ ỉ lại, không tự làm và luôn chờ đợi sự giúp đỡ của cô trong mỗi giờ ăn. Hình ảnh trẻ tự xúc cơm Ở trẻ 3 tuổi nhu cầu được tự khẳng định mình phát triển rất mạnh ,thậm chí lấn áp cả 1 số nhu cầu của trẻ. Cho nên trẻ thường tỏ ra bướng bỉnh,khôn nghe lời nười lớn,luôn muốn làm theo ý thích của mình . Những lúc đó tôi rất thông cảm và hiểu được “bướng bỉnh” ở lứa tuổi này và không kìm hãm ý muốn tự lập của trẻ. Khi trẻ thực hiện công việc đó mất rất nhiều thời gian, không theo mong muốn của tôi, đôi khi còn bừa bãi thậm chí còn hỏng việc. Song tôi vẫn luôn tạo điều kiện để trẻ tự làm, tự trải nghiệm công việc. VD: Như lớp tôi có một số trẻ rất thích giúp cô chia thìa vào bát và đặt vào các bàn, nhưng loay hoay mãi không biết chia như thế nào, có khi còn chia thiếu, rồi làm rơi hết thìa xuống sàn. Mỗi lần như vậy tôi không tỏ ra khó chịu mà nhẹ nhàng đến bên trẻ dẫn trẻ vào từng bàn làm mẫu cách đếm bạn trong bàn và chia thìa tương ứng với số bạn trong bàn đó, sau đó tôi cho trẻ chia tiếp các bàn tiếp theo. Sau mỗi lần được tôi hướng dẫn động viên trẻ của tôi giờ làm rất thành thạo và trẻ nào cũng muốn được giúp cô. Được tự tay làm những công việc mình thích tôi thấy trẻ rất phấn khởi, có thể lần đầu trẻ làm rất lâu mới song, nhưng các lần sau đó tôi thấy các thao tác của trẻ thành thạo rất nhiều, trẻ mạnh dạn tự tin hơn. Qua đó những kiến thức tự trải nghiệm của trẻ sẽ được mở rộng và khắc sâu hơn rất nhiều. Hình ảnh trẻ giúp cô chải chiếu Trẻ 3 tuổi đã bắt đầu có khả năng tự mình làm một số công việc đơn giản, trẻ cũng có ý thức về điều đó và cũng có mong muốn được làm. Do hành động được lặp đi lặp lại hằng ngày,các kỹ năng tự phục vụ trẻ lĩnh hội vững chắc tạo điều kiện thuộn lợi cho trẻ nắm bắt kinh nghiệm thực tế và độc lập hành động.Tuy nhiên ,sự bắt đầu đối với trẻ luôn gắn với những khó khăn nhất định,giáo viên phải biết tổ chức quá trình lao động tự phục vụ cho trẻ,đưa nội dung phức tạp dần. Để trẻ đạt được việc tự lập hoàn toàn, tôi đã thực hiện các quá trình “Cùng rèn luyện” nghĩa là cho trẻ làm cùng cô. Khi cùng làm với trẻ tôi thường kết hợp giảng giải, giải thích cho trẻ biết lý do và cách thức hành động. VD: Khi trẻ mới đến trường phải cất đồ dùng cá nhân vào đúng ngăn tủ có kí hiệu của mình, tôi đi cùng trẻ đến ngăn tủ đó và chỉ cho trẻ nhận ra đây là ngăn tủ của trẻ có kí hiệu “Con sẽ cất ba lô, quần áo của con vào trong đó trước khi cất con phải gấp quần áo gọn gàng đã nhé”. Tôi còn giải thích cho trẻ khi cất đúng ngăn của mình thì khi đến giờ về lấy rất dễ dàng. Hoặc khi ngủ dậy trẻ tự cất chăn gối của mình vào đứng ngăn tủ có kí hiệu của mình.Không những vậy ngày nào tôi cũng cho trẻ phải chăn gọn gàng rồi mới được cất vào ngăn tủ. Sau một, hai lần tôi nhắc nhở và ngày nào trẻ cũng được thực hành các thao tác đó nên trẻ cất và lấy đồ dùng rất thành thạo và không cần đến sự giúp đỡ của người lớn nữa. Hình ảnh trẻ đồ vào ngăn của mình Như trong các giờ ăn, một số trẻ rất thích được giúp cô bê cơm vào bàn cho bạn, còn một số trẻ khác thấy các bạn được làm thì tỏ ra rất thích nhưng bản thân lại không biết làm hoặc lo sợ mình sẽ làm đổ bát. Nắm được tâm lí của trẻ tôi đã động viên các trẻ đó cùng làm với bạn. VD: Trước giờ ăn tôi thấy cháu Đức Anh rất thích bê cơm vào bàn cho bạn giúp cô giáo nhưng cháu lại sợ mình không chia đúng nên không giám giơ tay xin làm, thấy vậy tôi nói với cháu “Con sẽ giúp cô bê cơm vào cho các bạn cùng với bạn My nhé.” Thấy tôi nói như vậy thì Đức Anh rất vui và ra làm cùng bạn. Cứ như vậy hằng ngày tôi đều hỏi trẻ ai muốn giúp cô chia thìa, hay chia cơm vào bàn cho các bạn nào? Đa số trẻ lớp tôi đều sung phong muốn làm giúp cô. Để trẻ nào cũng được làm mỗi ngày tôi nhờ một nhóm trẻ khác nhau giúp mình. Thế là cả lớp tôi trẻ nào cũng thành thạo tất cả các kỹ năng cần thiết để hình thành nhân cách sau này cho trẻ. Hình ảnh Trẻ tự chia thìa, bê cơm vào các bàn cho các bạn. Để giúp trẻ thực hiện được các thói quen tự phục vụ một cách phấn khởi và nhớ lâu tôi đã kết hợp lồng ghép những bài thơ, bài hát có ý nghĩa giáo dục giữ gìn vệ sinh để trẻ dễ dàng thực hiện các kỹ năng đó. VD: Trước giờ ăn tôi cho trẻ hát các bài hát chủ đề bản thân lồng ghép giáo dục trẻ việc giữ vệ sinh thân thể hay cho trẻ đọc bài thơ: Rửa tay, rửa mặt, giờ ăn, giờ ngủ, giờ chơi .. Thời gian đầu năm tôi vừa làm mẫu kết hợp phân tích cách làm các kỹ năng cần thiết, sau đó tôi cho trẻ tự làm, chỉ nhắc nhở bằng lời đối với những trẻ nhút nhát, và tôi cho trẻ thường xuyên được thực hành các kỹ năng đó (Tự rửa tay, rửa mặt, xúc miệng nước muối, tự cởi và gấp quần áo, tự cất và lấy dép đúng nơi qui định ) Hình ảnh trẻ rửa tay 2.2.4 Biện pháp thứ 4:Tổ chức lồng ghép giáo dục tính tự lập vào các hoạt động. Tính tự lập của trẻ được trải nghiệm trong các hoạt động, trong sinh hoạt hàng ngày ở gia đình và nhà trường. Đối với trẻ lên ba đã bắt đầu có khả năng làm một số việc đơn giản, trẻ đã có ý thức về điều đó và luôn chứng tỏ khả năng của mình trong sinh hoạt hàng ngày. Trong giờ học đối với các hoạt động cần đến đồ dùng của trẻ, tôi chỉ chuẩn bị đồ dùng đặt sẵn trên bàn sau đó cho trẻ tự lên lấy đồ dùng học tập về vị chí ngồi của mình, kết thúc tiết học cũng vậy tôi cho trẻ tự cất đồ dùng học tập đúng nơi qui định. Tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ theo hướng đổi mới thể hiện được mối quan hệ hợp tác giữa cô với trẻ, giữa trẻ với nhau, chúng phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí, đặc biệt là nhu cầu và hứng thú của trẻ trong hoạt động. Trong suốt thời gian trẻ tham gia hoạt động cần duy trì tính hấp dẫn của nhiệm vụ, tạo cho trẻ có hứng thú và niềm say mê khám phá thế giới thông qua các trò chơi và các hoạt động tìm tòi khám phá. Trẻ chủ động tích cức tham gia các hoạt động trải nghiệm, các tình huống khác nhau của cuộc sống. Dần dần trẻ trở nên tích cực chủ động, linh hoạt và tự tin trong mọi hoàn cảnh. VD: Trong giờ học toán tôi đã chuẩn bị rổ đồ dùng cho mỗi trẻ nhưng tôi đặt chung vào một bàn tôi cho mỗi trẻ lên lấy một rổ về chỗ của mình để học. Hay trong giờ học tạo hình,góc tạo hình cần đến màu tôi thường nhờ trẻ chuẩn bị bàn học và màu cho các bạn. Hình ảnh trẻ tự lấy đồ dùng học tập trong giờ hoạt động tạo hình và làm quen với toán Được tự lấy đồ dùng học tập như vậy tôi thấy trẻ rất tích cực, hứng thú học và luôn muốn khám phá xem mình được học gì ở các đồ dùng đó, giờ học nào của lớp tôi đều thấy trẻ hứng thú từ đầu giờ học đến cuối giờ học. Qua đó tôi còn rèn luyện cho trẻ thói quen gọn gàng ngăn nắp, lấy đâu cất đấy. Là một giáo viên mầm non chắc hẳn ai cũng biết mỗi khi đến giờ hoạt động hoạt động góc và hoạt động ngoài trời trẻ đều tỏ ra rất thích thú, phấn khởi, mong chờ nhất. Không những vậy hoạt động vui chơi là hoạt động quan trọng nhất nó giữ vai trò chủ đạo ở lứa tuổi này, qua hoạt động này làm biến đổi về chất trong toàn bộ đời sống tâm lý của trẻ. Vì vậy đối với trẻ ở lứa tuổi này, đồ vật không phải là thứ để trẻ nghịch như trước đây mà bây giờ qua chơi với đồ vật, đồ chơi giúp trẻ khám phá chức năng và phương thức sử dụng tương ứng (như cái thìa dùng để xúc cơm ăn và có cách cầm thìa

File đính kèm:

  • docxmot_so_bien_phap_phat_huy_tinh_tu_lap_cho_tre_mau_giao_3_4_t.docx