Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục học sinh dân tộc ở trường Tiểu học Quế Sơn

doc15 trang | Chia sẻ: Thảo Hoa | Ngày: 30/01/2026 | Lượt xem: 18 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục học sinh dân tộc ở trường Tiểu học Quế Sơn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Đại Sơn, ngày 13 tháng 8 năm 2021 Biện pháp dự thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện Chu kì: 2021 – 2023 TÊN BIỆN PHÁP: "MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HỌC SINH DÂN TỘC Ở TRƯỜNG TH QUẾ SƠN" Kính gửi: Hội đồng thi giáo viên dạy giỏi huyện Sơn Động chu kì 2021 – 2023. Họ và tên: VI VĂN VĨ; Năm sinh: 02/04/1972 Chức vụ: Giáo viên Đơn vị: Trường Tiểu học Quế Sơn 2 TÊN BIỆN PHÁP: "MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HỌC SINH DÂN TỘC Ở TRƯỜNG TH QUẾ SƠN" PHẦN THỨ I: LÝ DO HÌNH THÀNH BIỆN PHÁP Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh đại trà nói chung và chất lượng giáo dục vùng dân tộc thiểu số nói riêng được xem là nhiệm vụ hàng đầu của ngành Giáo dục. Chất lượng giáo dục vùng dân tộc thiểu số là yếu tố quan trọng không thể thiếu, đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động chuyên môn của các nhà trường có đối tượng là học sinh dân tộc thiểu số. Hiện nay, hầu hết các trường đều tập trung tăng cường chú trọng nhiều về công tác nâng cao chất lượng dạy và học cho học sinh dân tộc thiểu số, nhằm mục đích nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, đưa chất lượng học sinh ngày một nâng cao dần theo tình hình đổi mới của đất nước hiện nay, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Trong hệ thống giáo dục quốc dân, thì bậc tiểu học là bậc nền tảng, nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng là bước đầu hình thành nhân cách con người cũng là bậc học giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở. Để đạt được mục tiêu trên đòi hỏi người quản lý phải biết vận dụng sáng tạo các biện pháp một cách sáng tạo, người dạy học phải có kiến thức sâu và sự hiểu biết nhất định về nội dung chương trình sách giáo khoa, có khả năng hiểu được về tâm sinh lí của học sinh, về nhu cầu và khả năng của các em. Đồng thời, người dạy có khả năng sử dụng một cách linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh, đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số. Là một cán bộ quản lý phụ trách chuyên môn, tôi nhận thấy đây là một nhiệm vụ trọng tâm trong nhà trường. Làm thế nào để đẩy mạnh sự phát triển giáo dục nói chung và nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường nói riêng, đặc biệt là công tác nâng cao chất lượng giáo dục dân tộc. Hiện nay chủ trương của ngành là dạy học theo nhận thức của đối tượng học sinh, học sinh biết đến đâu giáo viên dạy đến đó, đồng thời đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của học sinh: Coi trọng sự tiến bộ của học sinh trong học tập và rèn luyện, động viên khuyến khích học sinh rèn kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, hợp tác và kỹ năng sáng tạo, không gây áp lực cho học sinh khi đánh giá. Tạo điều kiện và cơ hội cho tất cả học sinh hoàn thành chương trình và có mảng kiến thức dành riêng cho đối tượng học sinh khá - giỏi để nâng cao. Trong những năm vừa qua, mặc dù được Huyện ủy, HĐND, UBND, phòng Giáo dục - Đào tạo huyện và địa phương quan tâm, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường học, chăm lo đời sống của đội ngũ CBGVNV, hỗ trợ học sinh bằng những chính sách thiết thực nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, vì những khó khăn như trình độ dân trí không đồng đều, điều kiện cơ sở vật chất của các trường vùng sâu, vùng dân tộc thiểu số chưa đáp ứng được nhu cầu, đặc biệt là trình độ nhận thức, vốn tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế nên chất lượng giáo dục còn rất thấp. Là một người làm công tác giảng dạy ở những trường 3 có nhiều học sinh dân tộc thiểu số hơn 20 năm, thấy được những khó khăn về đội ngũ giáo viên, trình độ nhận thức của học sinh, sự quan tâm của phụ huynh đối với việc học tập của học sinh tôi cùng với nhiều đồng nghiệp luôn trăn trở, làm thế nào để tìm ra những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh. Sau nhiều năm nghiên cứa và đã chỉ đạo cho tập thể giáo viên trường Tiểu học Phúc Thắng (trong những năm trước) và trường tiểu học Quế Sơn (năm học 2020- 2021) áp dụng thực hiện một số biện pháp cụ thể trong công tác dạy và học cho đối tượng học sinh dân tộc, nên chất lượng giáo dục đã được nâng lên rõ rệt. Với tầm quan trọng và cần thiết của việc nâng cao chất lượng Giáo dục học sinh dân tộc thiểu số nói chung và học sinh dân tộc thiểu số trường Tiểu học Quế Sơn nói riêng, bản thân tôi đã chọn Biện pháp giáo dục: “ Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh dân tộc thiểu số tại trường tiểu học Quế Sơn.” để góp một phần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao chất lượng giáo dục học sinh dân tộc trong nhà trường nói riêng và học sinh dân tộc trong huyện nói chung để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục đáp yêu cầu công cuộc đổi mới hiện nay. PHẦN THỨ II: NỘI DUNG I. Cơ sở lý luận Từ nhiều năm nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành tham mưu để Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chính sách hỗ trợ ở vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc và chỉ đạo các địa phương thực hiện nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục như: Đề án Kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008-2012, Đề án Củng cố và phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú giai đoạn 2011-2015(Quyết định số 1640/QĐ- TTg ngày 20/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ; Nghị định số 82/2010/NĐ-CP ngày 15/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên; Quyết định số 2123/QĐ-TTg ngày 22/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển giáo dục đối với các dân tộc rất ít người giai đoạn 2010-2015; Đề án “ Tăng cường tiếng Việt cho trẻ Mầm non, học sinh Tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025” trên địa bàn xã, huyện. Trong những năm vừa qua, Giáo dục học sinh dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội gặp nhiều khó khăn đã và đang được Đảng, Nhà nước và các địa phương quan tâm, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy và học. Bộ Giáo dục - Đào tạo đã có rất nhiều thay đổi về khung thời gian, chương trình, sách giáo khoa đối với học sinh dân tộc thiểu số như chương trình 100 tuần, chương trình 120 tuần, chương trình 165 tuần; tăng thời lượng môn tiếng Việt, giảm tải chương trình sách giáo khoa; soạn thảo chương trình sách giáo khoa tiếng dân tộc... Dự án giáo dục cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn (PEDC) đã hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, sách giáo khoa, sách hướng dẫn, tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, tuyển chọn và bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng cho đội ngũ nhân viên hỗ trợ giáo viên là người dân tộc thiểu số trong quá trình giảng dạy... 4 song chất lượng vẫn chưa được như mong muốn, hiệu quả giáo dục thấp, tỷ lệ học sinh yếu kém, lưu ban vẫn còn cao. II. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH Trường tiểu học Quế Sơn thuộc xã Đông, cách trung tâm huyện Sơn Động khoảng 20km về phía Bắc. Phía Bắc và Tây giáp trường bắn TB1, phía Nam giáp xã Cẩm Đàn, phía Đông giáp xã Giáo Liêm. Là một xã miền núi, xã đặc biệt khó khăn. Toàn xã có 9 thôn. Địa bàn xã Đại Sơn rộng và gồm nhiều dân tộc anh em cùng chung sống. Năm học 2021 – 2022, tổng số CB- GV là 28 ĐC, biên chế 14 lớp (từ lớp 1- 5); BGH: ; 23 giáo viên trực tiếp giảng dạy theo lớp được phân công; BGH: 2 ĐC Tổng số lớp: 14 lớp với 330 học sinh trong đó học sinh dân tộc thiểu số là 264 em chiếm tỷ lệ 81%. * Thuận lợi: Đa số học sinh có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức thi đua học tập; số học sinh giỏi cấp trường tăng dần, tạo đà đưa chất lượng của nhà trường ngày càng phát triển, tăng thêm uy tín chất lượng của nhà trường. Toàn trường có tổng số 14 lớp, có 14/14 lớp học 2 buổi/ ngày. Số lượng cán bộ, giáo viên phân công theo công việc đầy đủ, giáo viên trực tiếp giảng dạy chủ yếu là người Kinh. Chính quyền địa phương luôn tạo điều kiện và đóng góp về cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học. Đặc biệt là sự phối hợp nhịp nhàng của đội ngũ giáo viên trong hội đồng sư phạm nhà trường và các đoàn thể với Ban giám hiệu nhà trường đã tạo nên thuận lợi nhất định cho nhà trường nâng cao chất lượng giáo dục. Giáo viên có nhiều cố gắng trong nghiên cứu học tập vận dụng đổi mới phương pháp giảng dạy, đã có nhiều giáo viên áp dụng công nghệ thông tin vào công tác soạn giảng và nghiên cứu bài dạy. * Những khó khăn tồn tại: Chất lượng học tập của học sinh chưa cao, tỷ lệ học sinh khá giỏi còn thấp, học sinh trung bình và yếu chiếm số lượng đáng kể, chất lượng học sinh mũi nhọn chưa tăng mỗi năm. Số học sinh người dân tộc thiểu số chiếm 81% số học sinh toàn trường nên có nhiều hạn chế trong hoạt động dạy học và chất lượng toàn trường. Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên của nhà trường đa số có tuổi đời tương đối lớn nên phần nào hạn chế đến chuyên môn và tay nghề, do đó ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy. Một số ít giáo viên khi giảng bài cho học sinh chưa xác định đầy đủ nội dung trọng tâm cần nhấn mạnh, còn dàn trải, chưa phù hợp với đối tượng học sinh dẫn đến hiệu quả tiết dạy chưa cao. Một số giáo viên coi nhẹ giờ thực hành, ngại sử dụng thiết bị dạy học, thiếu sự chuẩn bị chu đáo cho giờ lên lớp. Sự tiếp cận đổi mới phương pháp dạy học của một số giáo viên còn nhiều hạn chế, học sinh học theo phương pháp mới còn nhiều bỡ ngỡ (nhất là học sinh khối lớp 1-2 và học sinh người dân tộc thiểu số), các em chưa chủ động, mạnh dạn tìm ra kiến thức mới mà còn trông chờ vào giáo viên và các bạn nhóm trưởng. Nhà trường, về cơ sở vật chất: Tổng số phòng học là 14. Số phòng học này đủ cho việc học 2 buổi/ ngày. 5 Trường xa trung tâm huyện và phần lớn học sinh là con em người dân tộc ít người, có nhiều em ở xa trường chính nên gặp khó khăn trong việc đến trường. Ý thức của cộng đồng tham gia vào công tác giáo dục học sinh chưa cao. *Thực trạng về chất lượng dạy và học của học sinh dân tộc trường Tiểu học Quế Sơn. Trong những năm học vừa qua, nhà trường đã cố gắng tìm nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục như đổi mới phương pháp dạy học; tăng thời lượng một số môn học cơ bản như Toán, tiếng Việt; tăng cường phụ đạo học sinh yếu; tổ chức các hình thức học tập như học theo nhóm, đôi bạn cùng tiến, nhiều tiết học kéo dài 50 đến 60 phút thậm chí 70 phút nhưng chất lượng vẫn chưa được như mong muốn vì rất nhiều nguyên nhân trong đó vốn tiếng Việt của học sinh còn rất hạn chế. Học sinh sau khi lên lớp lại có tình trạng đọc chưa thông, viết chưa thạo, tỷ lệ lưu ban sau mỗi năm học vẫn còn cao, nhiều học sinh không ham học vì học lực yếu, kém... Xảy ra tình trạng này là do (một phần) các em còn ít vốn tiếng Việt nên các em tiếp thu kiến thức một cách thụ động (học vẹt) nên rất dễ quên, nhớ chưa bền vững. Nên trong thời gian nghỉ hè các em đã quên khá nhiều kiến thức trong đó đặc biệt quan trọng là quên việc đọc, viết và làm toán dẫn đến tình trạng nhiều học sinh yếu kém đầu năm học còn cao, giáo viên phải rèn và kèm cặp hơn 1 tháng học sinh mới ổn định lại. Qua khảo sát đầu vào lớp 1 các năm học vừa qua, tỷ lệ học sinh có thể hỏi, trả lời và hiểu được những yêu cầu của giáo viên chỉ chiếm 20- 35 %. Các em chỉ nghe và hiểu được những câu lệnh đơn giản như "trật tự", "ra chơi", "vào lớp", "ra về".... Việc giảng dạy của một số giáo viên còn mang tính áp đặt, khô khan, do giáo viên “tham” và sợ nên cố truyền đạt hết những kiến thức có trong sách giáo khoa mà không giành thời gian để tạo ra sự hứng thú cho học sinh trong học tập, đây là một hạn chế rất lớn trong quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh đặc biệt là đối với học sinh là người dân tộc thiểu số. Vì vậy chất lượng giáo dục còn thấp, học sinh lười học nhiều do các em không tìm thấy niềm vui khi đến lớp. Bên cạnh đó, trình độ dân trí chưa cao, các gia đình chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con em. Nhiều em học sinh hoàn cảnh gia đình còn nhiều khó khăn. Trên địa bàn xã đa số các gia đình là người dân tộc thiểu số, một số gia đình còn thiếu góc học tập để các em học ở nhà và còn tình trạng nhiều gia đình ít quan tâm con em mình học hành ở lớp ra sao, về nhà phải học như thế nào, nên không sắp xếp thời gian biểu cũng nhưng tạo điều kiện cho các em học tập. PHẦN THỨ III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG CÔNG TÁC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Biện pháp thứ nhất: Công tác xây dựng lập kế hoạch năm học. - Vào đầu năm học, giáo viên lập kế hoạch cụ thể hoạt động dạy và học, xây dựng chỉ tiêu chất lượng phù hợp. Giáo viên chủ nhiệm phối hợp với giáo viên bộ môn xây dựng kế hoạch dạy học, nội dung cần điều chỉnh, kế hoạch chủ nhiệm của lớp, tổ chuyên môn, cá nhân trong từng tuần, từng tháng, từng kỳ; phát hiện điều chỉnh kịp thời những thiếu sót trong quá trình dạy - học. 6 - Với điều kiện địa bàn có nhiều thôn xa trường, nên ngay từ đầu mỗi năm họp phụ huynh, . thống nhất xây dựng kế hoạch, nắm bắt, tuyên truyền học sinh ra lớp đầy đủ, duy trì tốt về sĩ số. 2. Biện pháp thứ hai: Công tác tham mưu với BGH . Thường xuyên tham mưu với BGH đầu tư mua sắm trang thiết bị dạy - học. *Tham mưu về phân công chuyên môn và biên chế lớp phải hợp lý Phân công chuyên môn một cách hợp lý là điều kiện thuận lợi giúp cho việc nâng cao chất lượng. Vì vậy ngay từ đầu năm học, Ban giám hiệu đã giành nhiều thời gian để thảo luận, nghiên cứu và thống nhất việc phân công chuyên môn sau khi các bộ phận đã đưa ra thực trạng về đội ngũ giáo viên. Xác định đội ngũ giáo viên được phân công dạy lớp 1(Một) là rất quan trọng(đặc biệt là lớp một khu lẻ có 100% là học sinh dân tộc thiểu số). Đội ngũ giáo viên này ngoài năng lực chuyên môn vững vàng, chữ viết đẹp thì phải khéo léo, nhiệt tình, tâm huyết và có năng khiếu và kinh nghiệm trong dạy lớp Một. Những giáo viên dạy các lớp 4, lớp 5 cần có năng lực chuyên môn vững vàng. Những giáo viên còn lại sẽ được phân công theo năng lực, sở trường, điều kiện, hoàn cảnh Động viên, tuyên truyền học sinh dân tộc cố gắng học tốt, 100% học sinh được học 2 buổi/ngày ở cả 3 khu để các em có cơ hội giao tiếp tiếng Việt nhiều hơn với cô giáo người kinh, giao tiếp tiếng Việt với bạn bè nhằm giúp cho các em tự tin, mạnh dạn, từ đó nâng cao chất lượng toàn diện. Biên chế lớp: Là một trường có 81% học sinh người dân tộc thiểu số, mấy năm trước nhà trường đã chia đều các em dântộc học chung cùng với các em người kinh nhưng kết quả đạt rất thấp. Vì trình độ tiếp thu của các em không đồng đều (các em dân tộc tiếp thu chậm, nhút nhát), lớp đông học sinh nên giáo viên không thể kèm cặp tốt cho tất cả các đối tượng học sinh. 3. Biện pháp thứ ba : Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên 3.1. Nâng cao tinh thần trách nhiệm trong đội ngũ giáo viên Như chúng ta biết: “Muốn nâng cao chất lượng giáo dục thì trước hết phải quan tâm đến chất lượng đội ngũ”. Vì vậy, việc bồi dưỡng, nâng cao ý thức, nâng cao năng lực của đội ngũ giáo viên là điều vô cùng quan trọng và đồng thời để tiếp tục thực hiện tốt cuộc vận động “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”. Dạy đối tượng học sinh là người dân tộc thiểu số ngoài năng lực chuyên môn thì đội ngũ giáo viên cònphải quan tâm đến việc tinh thần trách nhiệm, sự tâm huyết, cống hiến, tự giác, tận tụy đối với công tác giảng dạy. Sự tâm huyết đó được thể hiện bằng việc khắc phục những khó khăn ủa cuộc sống đời thường, điều kiện khó khăn của Nhà trường, giành thời gian hợp lý để phụ đạo, kèm cặp học sinh yếu, tìm tòi, sáng tạo, học hỏi những kinh nghiệm trong giảng dạy, tìm những giải pháp hay, thiết thực và hiệu quả để nâng cao chất lượng từng tiết dạy; biết quý thời gian trên lớp để truyền thụ kiến thức cho học sinh, giành thời gian ngoài giờ lên lớp để tổ chức các hoạt động vui chơi giúp học sinh hứng thú đến lớp; xuống gia đình học sinh tìm hiểu về điều kiện gia đình, hướng dẫn học ở nhà 3.2. Nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ đội ngũ giáo viên Nhà trường có đội ngũ giáo viên hầu hết đều đạt chuẩn và trên chuẩn. Việc học nâng chuẩn hay phục vụ cho việc giảng dạy của giáo viên (như sử dụng tiếng 7 Tày, Nùng, ) được nhà trường quan tâm và tạo điều kiện để các đồng chí yên tâm công tác, . Việc nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên còn được Nhà trường quan tâm bằng cách thường xuyên tổ chức hội giảng, dự giờ, thăm lớp, sinh hoạt chuyên đề trao đổi, học hỏi kinh nghiệm ở các khối lớp; tham dự các kỳ thi giáo viên dạy giỏi và năm nào nhà trường cũng có nhiều giáo viên được công nhận giáo viên dạy giỏi cấp trường. Ngoài ra, Nhà trường cần quan tâm đến sinh hoạt chuyên đề, sinh hoạt cụm chuyên môn nhằm thống nhất, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Rất nhiều vấn đề liên quan đến công tác chuyên môn như làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục học sinh dân tộc thiểu số, ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy đối với học sinh dân tộc, giải pháp giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học, dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số hiệu quả, tăng cường tiếng Việt, tăng thời lượng môn tiếng Việt lớp Một được Nhà trường đưa ra tại các kỳ sinh hoạt chuyên đề để cán bộ, giáo viên các trường thảo luận, tìm ra giải pháp tối ưu về áp dụng ở các trường. Qua những buổi sinh hoạt như vậy giúp đội ngũ cán bộ, giáo viên tích lũy cho mình những kinh nghiệm quản lý cũng như phương pháp dạy học quý giá. Xây dựng kế hoạch và tổ chức tốt công tác bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên theo kế hoạch của Ngành đề ra. 4. Biện pháp thứ tư: Thực hiện nghiêm túc việc giao chất lượng Bàn giao chất lượng một cách nghiêm túc, khách quan là một trong những biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục. Qua việc bàn giao, giáo viên kiểm nghiệm được quá trình giảng dạy của mình bằng hiệu quả chất lượng cuối năm. Đồng thời giáo viên nhận bàn giao nắm được chất lượng thực tế của lớp mình phụ trách trong năm học tớii qua đó có kế hoạch giảng dạy phù hợp. Bàn giao chất lượng giúp giáo viên có ý thức trách nhiệm hơn về chất lượng học sinh ngay từ đầu năm học; giúp giáo viên xây dựng kế hoạch, đổi mới phương pháp dạy học, tìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng. Vì vậy, ngay từ cuối năm học nhà trường đã thành lập Hội đồng nghiệm thu và bàn giao chất lượng gồm những thành viên như Ban giám hiệu, Ban chấp hành Công đoàn, các khối trưởng và giáo viên dự kiến chủ nhiệm năm học sau. Lịch bàn giao được các khối lớp lên kế hoạch. Đặc biệt, nhà trường quán triệt đến toàn Hội đồng việc bàn giao chất lượng phải được thực hiện một cách nghiêm túc, đúng quy định và hướng dẫn của cấp trên, không chạy theo thành tích. - Đầu năm học theo kế hoạch của Nhà trường, giáo viên chủ nhiệm đã khảo hoạch khảo sát chất lượng học sinh đầu năm và phân hóa đối tượng học sinh theo từng trình độ để chọn hình thức tổ chức và phương pháp giảng dạy phù hợp. Mỗi giáo viên phải đăng kí và chịu trách nhiệm về chất lượng giáo dục của lớp mình(phụ trách) chủ nhiệm. - GVCN đề nghị phụ trách chuyên môn nhà trường xây dựng kế hoạch kiểm tra vào nhiều thời điểm giao khoán trong năm để nắm bắt được những tiến bộ và yếu kém của học sinh để tìm giải pháp thực hiện khắc phục nhất là những lớp có chất lượng giáo dục thấp. Nhờ thực hiện nghiêm túc việc bàn giao nên năm học 2020-2021, lớp tôi đã có được những số liệu sát thực tế về chất lượng. Qua đó đánh giá được hiệu quả 8 giảng dạy và chất lượng học sinh, đồng thời có cơ sở để giáo viên xây dựng kế hoạch sát thực tế, phù hợp với điều kiện của địa phương. Kết thúc học kỳ I, chất lượng dạy và học của lớp tôi chủ nhiệm và của trường Tiểu học Quế Sơn đã được nâng lên so với cùng kỳ năm học 2019-2020. 5. Biện pháp thứ năm: Công tác giảng dạy của giáo viên 5.1. Duy trì sĩ số học sinh Đặc thù của học sinh người dân tộc ít người hay nghỉ học (nhất là các buổi chiều) vì lý do có một số thôn ở xa trường, buổi trưa không có bố mẹ chăm lo bữa ăn, nhắc nhở đi học hay ở nhà để phụ giúp hỗ trợ thêm cho bố mẹ. Vì vậy ảnh hưởng rất nhiều đến việc nâng cao chất lượng. Nhiều năm trở lại đây, Nhà trường đã làm tốt công tác tuyên truyền và phối hợp với gia đình và các đoàn thể ở thôn, đồng thời Ban giám hiệu đã chỉ đạo đội ngũ giáo viên thực hiện kế hoạch: Giáo viên chủ nhiệm đến thăm gia đình học sinh trong năm học, kết hợp, có biện pháp để giáo dục học sinh đạt kết quả tốt nhất. Có nhiều giáo viên đã vận động ủng hộ quần áo, dày dép, cặp, mũ ở các nơi khác để tặng các em; tổ chức các trò chơi dân gian; những tiết học sôi động... làm cho học sinh hứng thú đến trường. Vì vậy, ở lớp tôi, một số em nhà cách trường 3-4 km(Khu Đồng Cảy, Làng Khang) nhưng vẫn đi học đều, không còn nghỉ học và bỏ học giữa chừng như trước nữa, duy trì sĩ số đạt 100%. Việc học sinh đi học đều giúp cho các em tiếp thu kiến thức một cách liên tục, không bị gián đoạn. Chính vì vậy mà chất lượng đã được nâng lên rõ rệt. 5.2. Chất lượng giờ lên lớp Mỗi giáo viên lên lớp phải biết tự xây dựng kế hoạch dạy học cho từng bài học cụ thể, phù hợp với từng học sinh ở từng mức độ khác nhau; phải xác định được các hoạt động trọng tâm của bài dạy; đảm bảo đầy đủ đồ dùng dạy học sẵn có hoặc tự làm để các em quan sát trực quan sinh động hơn. Đồng thời, khi truyền tải kiến thức có đồ dùng trực quan giúp các em thực tế, gần gũi, dễ hiểu. Bản thân mỗi giáo viên cần thường xuyên sáng tạo và rèn kỹ năng điều hành tổ chức hướng dẫn học sinh thực hiện tốt các hoạt động, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cho mỗi tiết học sinh động hơn. Riêng những học sinh đọc yếu, đọc sai dấu, tính toán chậm giáo viên chủ nhiệm cần thường xuyên quan tâm giúp đỡ, giúp các em sửa sai những lỗi hay mắc phải để dần dần khắc phục, chỉnh sửa kịp thời. Khi dạy học có những đối tượng trên giáo viên cần phân loại thành các nhóm đối tượng rõ ràng và có giải pháp dạy, kèm cặp cho từng nhóm đối tượng phù hợp, học sinh sai ở đâu, yếu chỗ nào thì cần sửa sai khắc phục ngay chỗ đó. Ví dụ: Trong môn Tiếng Việt có nhiều nhóm đối tượng học sinh trong cùng một lớp, tôi có thể phân nhóm như sau: + Nhóm 1: Học sinh đọc thông, viết thạo (đọc tốt) + Nhóm 2: Học sinh vừa đọc, vừa đánh vần, viết chậm (đạt mức theo quy định) + Nhóm 3: Học sinh đọc sai dấu, viết còn yếu (viết sai chính tả nhiều) + Nhóm 4: Học sinh không đọc, không nghe viết được - Ngoài ra, các GVCN tăng cường thêm các buổi phụ đạo ngoài giờ qui định để rèn thêm kĩ năng nghe - nói - đọc - viết và giao tiếp tiếng Việt, tính toán để nâng 9 cao chất lượng giáo dục chung của lớp, của nhà trường. Giáo viên thường xuyên nhắc nhở các em việc tự học ở nhà. - Trong giao tiếp giáo viên luôn nhắc nhở học sinh khi đến trường hạn chế việc giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ, nên sử dụng tiếng Việt để giao tiếp, tạo cho các em được thông hiểu nhiều hơn về tiếng Việt, dễ dàng tiếp thu bài khi giáo viên truyền đạt. 5.3. Chú trọng việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh Đây là giải pháp vô cùng quan trọng đối với học sinh dân tộc thiểu số, nhất là học sinh bắt đầu vào học lớp Một. Với 81% học sinh là người dân tộc TS, trường Tiểu học Quế Sơn rất quan tâm đến việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh. Nhà trường đã xác định, việc đầu tư vào dạy 2 môn Toán và Tiếng Việt là khâu then chốt đối với học sinh dân tộc thiểu số các khối lớp đặc biệt là lớp Một. Nhà trường đã chỉ đạo cho đội ngũ giáo viên đầu tư soạn giảng có chất lượng 2 môn học này, giành nhiều thời gian cho môn tiếng Việt vì đây là môn học đặc biệt quan trọng. Khi các em đọc thông, viết thạo thì các em mới tiếp thu kiến thức các môn học khác tốt được. Phối hợp với trường Mẫu giáo Quế Sơn và các thôn vận động tối đa trẻ trong độ tuổi ra lớp Mẫu giáo 3,4,5 tuổi. Đây là điều kiện tốt giúp các em có được vốn tiếng Việt ban đầu rất quan trọng để sau 1 đến 3 năm các em tự tin vào lớp Một. Chỉ đạo các lớp học trang trí lớp học đẹp tạo môi trường tiếng Việt phong phú, đa dạng để thu hút các em đến lớp. Việc dạy học 2 buổi/ngày, giúp học sinh dân tộc ít người đủ thời gian nắm bắt kiến thức để khi kết thúc lớp học các em hoàn thành được chương trình lớp học. Trong quá trình giảng dạy tất cả các môn học, ngoài việc cung cấp kiến thức, giáo viên phải thường xuyên tăng cường tiếng Việt bằng cách sử dụng các phương pháp gợi mở, vấn đáp, diễn kịch, đóng vai, thực hiện nhiều các trò chơi “học mà chơi, chơi mà học” đối với học sinh lớp Một tạo hứng thú trong giờ học cho các em đồng thời giúp các em mạnh dạn, tự tin và tích lũy vốn tiếng Việt cần thiết. Chú trọng và quan tâm tăng cường tiếng Việt cho các em trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp như sinh hoạt Sao Nhi đồng, Đội thiếu niên, giao lưu tiếng Việt giữa các khối lớp. Đối với giáo viên bộ môn(GV chuyên) cần: Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh bằng cách cho học sinh đọc các câu lệnh (kênh chữ) trong SGK; thi đọc tốt phần bài học, rèn kỹ năng nghe-viết. Thường xuyên đặt những câu hỏi nhẹ nhàng, dễ hiểu, gần gũi với các em để các em trả lời để luyện nói hằng ngày. Tổ chức các trò chơi giải trí, trò chơi học tập để tạo hứng thú cho các em. Nhà trường cũng đã đầu tư nhiều kinh phí để các khối lớp mua đồ dùng dạy học phục vụ cho 2 môn học này. Việc tăng thời lượng môn tiếng Việt ở các lớp có 100% học sinh là người dân tộc thiểu số (khu lẻ) cũng được các giáo viên chủ nhiệm tăng thêm về mặt thời gian. Nhiểu giáo viên tận dụng phòng Hội đồng, phòng truyền thống Đội, thư viện ngoài trời để kèm cặp các học sinh yếu(như:cô Mịch, cô Thơm, ). Kết thúc học kỳ I năm học 2020-2021, chất lượng môn tiếng Việt của của trường đã được từng bước nâng lên rõ rệt. 5.4. Đổi mới phương pháp dạy học 10 Việc áp dụng phương pháp dạy học mới đối với học sinh dân tộc thiểu số gặp rất nhiều khó khăn và thiếu hiệu quả nếu không thực hiện một cách khoa học và phù hợp với đối tượng học sinh. Một số giáo viên không dám sử dụng nhiều các hoạt động trong giảng dạy vì sợ “cháy giáo án”, không đúng phương pháp đặc trưng. Vì vậy, tiết học trở nên nặng nề, căng thẳng, ít hiệu quả. Do vậy, Ban giám hiệu đã giao quyền tự chủ cho giáo viên trong việc lựa chọn biện pháp và hình thức tổ chức giảng dạy phù hợp sao cho tiết dạy nhẹ nhàng, sôi động tạo hứng thú và phù hợp với từng đối tượng học sinh để giúp các em dễ dàng tiếp thu kiến thức hơn. Đối với học sinh dân tộc thiểu số, việc sử dụng những phương pháp như đóng vai, thảo luận nhóm, phỏng vấn, sử dụng giáo án điện tử, đồ dùng dạy học giúp các em có điều kiện làm quen với các hoạt động tập thể, tiếp xúc và sử dụng tiếng Việt nhiều tạo hứng thú để các tiếp thu bài học tốt hơn. Hoạt động ngoài giờ lên lớp cũng được Nhà trường quan tâm. Hàng tháng Đội thiếu niên phối hợp với giáo viên chủ nhiệm tổ chức các hoạt động theo chủ đề như các hoạt động văn nghệ, thể thao, giao lưu tiếng Việt, tổ chức thi các trò chơi truyền thống 5.5. Quan tâm đến học sinh cá biệt, học sinh yếu Với đặc thù của học sinh dân tộc là nhớ không bền vững, nên qua thời gian nghỉ hè tỷ lệ học sinh yếu đầu năm khá cao. Nếu giáo viên không quan tâm đến những em này thì chắc chắn số học sinh yếu lại sẽ lưu ban vào cuối năm học. Vì vậy ngay từ đầu năm học, nhà trường đã chỉ đạo cho tất cả giáo viên chủ nhiệm khảo sát chất lượng đầu năm và phân loại học lực để có biện pháp phụ đạo những học sinh yếu để việc giảng dạy có hiệu quả, nhiều giáo viên chủ nhiệm lớp đã phân loại học sinh theo học lực và thực hiện các biện pháp giảng dạy phù hợp. Tuy nhiên, hạn chế ở lớp tôi đông học sinh dân tộc thiểu số nên việc giúp đỡ từng em rất vất vả trong rèn phát âm chuẩn tiếng Việt Với những học sinh yếu, giáo viên chủ nhiệm lập tổ học tập, đôi bạn cùng tiến để giúp đỡ nhau trong học tập, tách những học sinh yếu để kèm cặp thêm ngoài giờ quy định. Ngoài ra giáo viên thường xuyên xuống gia đình để hướng dẫn các em về phương pháp học ở nhà; phối hợp với gia đình xây dựng góc học tập cho các em Chuyên môn đã phân công giáo viên bộ môn phối hợp kèm cặp, phụ đạo học sinh vào các chiều thứ sáu, thứ bảy. 6. Biện pháp thứ sáu: Công tác tổ chức hoạt động ngoại khóa GVCN nên xây dựng kế hoạch dạy học và tổ chức các hoạt động ngoại khóa(dựa trên kế hoạch nhà trường) như: -Thường xuyên tổ chức các buổi giao lưu Tiếng Việt dành cho học sinh khối lớp 1,2,3,4,5 dưới nhiều hình thức khác nhau tạo sân chơi bổ ích cho học sinh hứng thú tham gia học tập. - Thi đố vui để học để cho các em học sinh dân tộc cùng khối lớp giao lưu và học tập chia sẻ những kinh nghiệm lẫn nhau, tạo sự gắn kết gần gũi, thân thiện. - Sinh hoạt dưới cờ kết hợp lồng ghép các hoạt động trò chơi dân gian, giới thiệu những nét đẹp truyền thống của các dân tộc sinh sống trên địa bàn,...để cho các em hiểu được bản sắc đặc trưng của mỗi dân tộc. 11 7. Biện pháp thứ bảy: Nâng cao chất lượng giáo dục trong công tác CN lớp. 7.1. Khảo sát đối tượng học sinh để đưa ra những phương pháp giáo dục phù hợp - Khảo sát đối tượng thông qua hồ sơ học bạ, qua giáo viên chủ nhiệm cũ, qua học sinh trong lớp hoặc qua phụ huynh. - Tiến hành phân loại đối tượng để đưa vào sổ kế hoạch công tác chủ nhiệm, cụ thể: + Học sinh gặp hoàn cảnh khó khăn. + Học sinh khuyết tật. + Học sinh cá biệt về Phẩm chất. + Học sinh yếu. + Học sinh có những năng lực đặc biệt. * Đối với những học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn. * Đối với những học sinh khuyết tật. * Đối với học sinh cá biệt về Phẩm chất. - Tìm hiểu nguyên nhân qua gia đình: Gia đình có sự mâu thuẫn giữa bố và mẹ, gia đình thiếu quan tâm hoặc có thể bị bạn bè, kẻ xấu lôi kéo .Hoặc trẻ có những tính xấu mà bản thân gia đình chưa giáo dục được - Dùng phương pháp tác động tình cảm, nghiêm khắc đối với học sinh nhưng không cứng nhắc. Tuyệt đối không sử dụng phương pháp trách phạt, chú ý gần gũi các em và thường xuyên nhắc nhở động viên khen chê kịp thời. Giao cho các em đó một chức vụ trong lớp nhằm gắn với các em trách nhiệm để từng bước điều chỉnh mình. * Đối với học sinh chậm tiến: - Tìm hiểu nguyên nhân vì sao em đó chậm tiến. Có thể là ở gia đình các em đó không có thời gian học tập vì phải làm nhiều việc hoặc em đó có lỗ hỏng về kiến thức nên cảm thấy chán nản. - Giáo viên lập kế hoạch giúp đỡ đối tượng bằng những việc cụ thể như sau: + Giảng lại bài mà các em chưa hiểu hay còn hiểu mù mờ vào những thời gian ngoài giờ lên lớp . + Đưa ra những câu hỏi từ dễ đến khó để học sinh có thể trả lời được nhằm tạo hứng thú và củng cố niềm tin ở các em. + Thường xuyên kiểm tra các đối tượng đó trong qua trình lên lớp. + Tổ chức cho học sinh học theo nhóm để học sinh khá giỏi giúp đỡ bạn cùng tiến bộ. + Gặp gỡ phụ huynh học sinh trao đổi về tình hình học tập, cũng như sự tiến bộ của con em để phụ huynh giúp đỡ thêm việc học ở nhà cho các em. + Chú ý tránh thái độ miệt thị, phân biệt đối xử làm cho các em nhụt chí, xấu hổ trước bạn bè. Tóm lại dù với đối tượng nào bản thân giáo viên phải lưu ý dùng phương pháp tác động tình cảm, động viên khích lệ kịp thời, phối hợp với phụ huynh để giáo dục và đặc biệt xác định vấn đề giáo dục đạo đức là then chốt. 7.2. Xây dựng đội ngũ cán bộ lớp giỏi quản lý, tổ chức, kiểm tra. Như chúng ta đã biết xây dựng một đội ngũ cán bộ quản lý giỏi là việc rất quan trọng người giáo viên làm công tác chủ nhiệm phải có kế hoạch thực 12 hiện.Hơn nữa, để đội ngũ cán bộ lớp cùng giáo viên chủ nhiệm đôn đốc, nhắc nhở việc thực hiện nề nếp học tập của các bạn là công việc cần thiết và có ích. - Trước hết , những học sinh được chọn làm cán bộ lớp bao giờ cũng phải gương mẫu trước các bạn về mọi mặt: Học tập, kỷ luật, tham gia các hoạt động, đối xử với bạn bè.... - Sau đó hằng ngày, hàng tuần, các cán bộ lớp bao gồm: lớp trưởng, lớp phó , tổ trưởng, tổ phó sẽ tiến hành công việc của mình như sau: *Đầu giờ (trước giờ truy bài): Tổ trưởng, tổ phó kiểm tra những việc sau: soạn sách vở theo đúng thời khóa biểu, mang đầy đủ đồ dùng dậy học, có ý thức xem bài trước, đi học đúng giờ, giày, dép.... *Trong giờ học: Tổ trưởng, tổ phó theo dõi các bạn trong tổ thái độ học tập, phát biểu xây dựng bài, đạt điểm cao trong học tập thì cộng điểm thưởng như sau: Đạt điểm 10 một môn thì cộng 5 điểm tốt, phát biểu xây dựng bài cộng 1đ/1lần. nói chuyện trong giờ học thì bị trừ 2 điểm/ 1lần. 7.3. Phối kết hợp thường xuyên với phụ huynh * Đối vói Ban đại diện CMHS lớp: Từ đầu năm học. Tôi đã định hướng bầu chọn Ban đại diện phụ huynh của lớp với các tiêu chuẩn sau: - Phụ huynh có đời sống kinh tế ổn đinh. - Có tâm huyết, nhiệt tình tất cả vì học sinh thân yêu. - Am hiểu nhiều về lĩnh vực giáo dục - Có con em học vượt trôi trong lớp. * Ban phân hội lớp gồm 3 thành viên: Trưởng ban, phó ban, thư ký * Nhiệm vụ ban PHHS lớp: - Kết hợp với GVCN lớp theo dõi, động viên quá trình học tập, sinh hoạt của học sinh. Đặc biệt quan tâm đến các phong trào lớp - Nắm rõ được hoàn cảnh gia đình, chỗ ở của từng học sinh để kịp thời thăm hỏi. - Có kế hoạch khen thưởng kịp thời học sinh lớp tiến bộ. * Đối với từng phụ huynh học sinh: Buổi họp phụ huynh đầu năm, tôi đã đề ra yêu cầu để phụ huynh cùng GVCN rèn nề nếp học sinh như sau: - Hằng ngày kiểm tra sách vở của con em mình. - Nhắc nhở con em học bài cũ và chuẩn bị bài mới trước khi đến lớp. - Chuẩn bị sách vở và đồ dùng học tập cho con em theo thời khoá biểu hằng ngày. - Giáo dục con ý thức gọn gàng, ngăn nắp khi học tập, vui chơi. - Sinh hoạt điều độ, đúng thời khoá biểu, giờ nào việc nấy tránh tình trạng vừa học vừa chơi. - Thường xuyên trao đổi với GVCN và PH qua trò chuyện trực tiếp, điện thoại hoặc qua sổ liên lạc để kịp thời nhắc nhở, đôn đốc học sinh nề nếp học tập ở lớp cũng như ở nhà. 7.4. Tham gia có hiệu quả các phong trào nhà trường tổ chức. Từ đầu năm học GVCN dựa vào kế hoạch của nhà trường và các đoàn thể trong trường phải đề ra chỉ tiêu cụ thể cho lớp cùng phấn đấu trong các phong trào chung của nhà trường như: Vở sạch chữ đẹp, Vẽ tranh, Kể chuyện, cờ vua,.... 13 - Điều quan trọng là GVCN phải phát hiện những năng lực đặc biệt ở học sinh về văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao, hội hoạ - Phối hợp với phụ huynh lập kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cho các học sinh có năng khiếu nói trên. - Bồi dưỡng, khơi dậy ở các em lòng say mê hứng thú học tập thông qua những hội thi,Tổ chức các sân chơi ở lớp như: Rung chuông vàng, đối mặt trong các tiết HĐNGLL để phát huy và chọn lọc những HS có năng khiếu để tham gia các hội thi do nhà trường tổ chức. 7.5. Nêu gương và khen thưởng - Nắm được tâm lý của học sinh tiểu học rất thích được khen, thích được động viên nên tôi hướng dẫn Ban cán sự lớp theo dõi thi đua từng HS như sau: - Trong cuộc họp phụ huynh đầu năm tôi đã đề xuất với Ban đại diện phụ huynh về việc khen thưởng các học sinh trong lớp thực hiện tốt các phong trào học tập cũng như các phong trào khác như sau: + Mỗi tuần tặng 1 cây bút cho mỗi HS đạt số điểm tốt cao nhất tổ trong học kì. + Mỗi đợt kiểm tra định kỳ tặng một 1 bút/ 1HS đạt điểm 10 mỗi môn. + Tặng một phần quà cho HS hoàn thành tốt phong trào nhà trường đề ra. - Sau mỗi tuần thi đua, Lớp trưởng đánh giá chung các mặt hoạt động, tổ trưởng đánh giá cụ thể các mặt học tập cũng như hoạt động của từng thành viên trong tổ thông qua bảng điểm . sau đó bầu chọn một HS tuyên dương trước lớp và nhận thưởng. - Để tránh trường hợp một em nhận liên tục nhiều lần (đề ra cách khen thưởng phù hợp) - Đặc biệt chú ý đến HS chậm trong học nhưng có tiến bộ thì tổ trưởng các tổ đề nghị Ban thi đua lớp tuyên dương và khen thưởng. PHẦN THỨ IV: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM I. Kết quả đạt được. Qua thực hiện đồng bộ một số giải pháp nêu trên, chất lượng học sinh dân tộc của nhà trường đã được nâng lên rõ rệt; Trong năm nhà trường đã tổ chức được buổi giao lưu “Kể chuyện theo sách” cấp trường, thu hút được rất nhiều học sinh tham gia, nhất là các em người dân tộc. Qua buổi giao lưu không chỉ tạo cho các em được sự phấn khởi, thi đua và ham thích đọc sách hơn, mà buổi giao lưu còn tác động đến nhiều phụ huynh học sinh về văn hoá đọc. Nhà trường đã đầu tư nhiều sách truyện thiếu nhi cho các em. Năm học 2019-2020, và những năm học tiếp theo từng bước đưa chất lượng nhà trường ngày càng nâng cao. Cụ thể chất lượng giáo dục học sinh trong năm học 2020 - 2021 đạt được như sau: Kết quả cụ thể: Đến cuối năm học 2020 – 2021, số lượng học sinh hoàn thành tốt và hoàn thành môn ở lớp tôi đã tăng lên rõ rệt. Kết quả cụ thể như sau: 14 Chưa hoàn Hoàn thành tốt Hoàn thành thành Thời điểm Tổng Số Số Số đánh giá số HS % % lượng lượng % lượng Đầu năm học 23 2 8,69 18 78,31 3 13 Cuối HKI 23 5 21,7 19 69,61 2 8,69 Cuối năm học 23 10 43,3 13 56,7 0 0 II. kết luận: Nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh dân tộc thiểu số là một trong những điều kiện cần thiết và quan trọng nhất để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường, là giải pháp cơ bản để xây dựng trường tiểu học Quế Sơn ngày càng vững mạnh. - Để các em có được điều kiện học tập và phương pháp giảng dạy phù hợp, hiệu quả thì trước hết Ban giám hiệu, các tổ chức đoàn thể, tổ khối phải có kế hoạch hoạt động cụ thể; phân công nhiệm vụ cho giáo viên phải đúng năng lực, sở trường và hoàn cảnh. Đầu mỗi năm học BGH tiến hành khảo sát chung chất lượng toàn trường và yêu cầu mỗi giáo viên làm 1 biên bản kí cam kết giao khoán về việc nâng cao chất lượng đọc - nghe viết (tốt) và đảm bảo tính toán được các phép tính trong phạm vi chương trình qui định. Mỗi cá nhân kí cam kết giao khoán chất lượng giáo dục phải chịu trách nhiệm trước nhà trường về chất lượng của bản thân vào từng thời điểm mà nhà trường kiểm tra. BGH nắm chắc từng đối tượng học sinh yếu của từng lớp để có hướng chỉ đạo kiểm tra kịp thời. Chỉ đạo cho giáo viên nắm bắt kịp thời những nội dung trong sinh hoạt chuyên môn mới “Dạy học phân hóa đối tượng”. Thường xuyên tổ chức sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề để triển khai đến tất cả cán bộ, giáo viên nắm bắt những nội dung, kế hoạch quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường đề ra. Đồng thời triển khai những chuyên đề cần thiết và thực tế để hổ trợ thêm cho giáo viên những giải pháp khắc phục trong việc nâng cao chất lượng giáo dục học sinh, nhất là học sinh dân tộc thiểu số. - Đội ngũ giáo viên phải thực sự nhiệt tình, tâm huyết, có tinh thần tự học, thiết kế những tiết học sôi nổi, hấp dẫn, thường xuyên tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp để thu hút học sinh, đặc biệt phải đẩy mạnh văn hóa đọc để tất cả các em đều đọc thông, viết thạo, bởi có như vậy thì các em mới tiếp thu tốt các môn học khác. Tạo mối quan hệ gần gũi, thân thiện giữa thầy và trò, cùng hướng đến chất lượng chung của lớp. Thường xuyên kiểm tra tình hình học tập của từng em học sinh sau mỗi ngày đến lớp. Những biệp pháp hữu hiệu đối với học các biệt thường bị sai phạm. Tổ chức cho các em rèn luyện về kĩ năng sống, kĩ năng giao lưu một cách tự tin trước lớp hoặc trước đám đông. Hàng ngày phải tổ chức đọc, luyện nghe - viết, tính toán, nhẩm nhanh cho học sinh để rèn cho các em kĩ năng nghe viết, tính toán được tốt hơn. Hàng tuần tổ chức cho các em thi đọc nhanh, đọc đúng, đọc diễn cảm và thi nghe viết nhanh, 15 viết đúng, viết đẹp, thi tính nhẩm và làm toán nhanh, Sau mỗi đợt thi có động viên khích lệ khen thưởng cho các em có kết quả đọc, nghe viết tốt, tính toán nhanh, ; kết hợp chặt chẽ với phụ huynh nhằm giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho các em học ở nhà và thường xuyên sử dụng tiếng phổ thông trong việc giao tiếp ở nhà và ở cộng đồng. - Phối hợp với giáo viên tổng phụ trách Đội có kế hoạch tổ chức sinh hoạt ngoại khóa để tạo không khí vui chơi, học tập mang tính thiết thực, hiệu quả nhằm tạo sân chơi bổ ích và lôi cuốn các em đến trường chuyên cần hơn, nâng cao kỹ năng giao tiếp và kỹ năng sống cho học sinh. - Chủ động liên hệ với cán bộ thư viện và thiết bị cung cấp cho mượn đảm bảo các đồ dùng, dụng cụ học tập cho học sinh. Bố trí góc thư viện sạch sẽ, đẹp mắt, phong phú các loại truyện, luôn luôn có sự thay đổi mới mẻ đối với học sinh. - Phối hợp với các tổ chức đoàn thể cũng như phụ huynh để duy trì sĩ số, nâng cao chất lượng giáo dục - Tổ chức các Hội thi như: Thi giao lưu Tiếng Việt, kể chuyện theo sách và thi đố vui để học cho tất cả các khối lớp. Nhằm tạo sân chơi bổ ích cho học sinh và rèn thêm cho các em có thêm một số kĩ năng giao tiếp mạnh dạn hơn, rèn kĩ năng phản ứng nhanh trong LTVC, giải toán và ứng xử trước thầy cô, bạn bè. Trên đây là một vài kinh nghiệm nhỏ mà bản thân tôi đã tiếp thu, chọn lọc sau hơn 20 năm làm công tác giảng dạy, quản lý và phát triển những kinh nghiệm của lớp người đi trước để tổng hợp lại thành một số biện pháp để giúp tôi thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý (phụ trách chuyên môn) của mình về việc nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh dân tộc thiểu số. Bản thân đã thực hiện tại đơn vị và đã đem lại được một số kết quả khả quan trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, những biện pháp nêu trên không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, kính mong Hội đồng khoa học các cấp góp ý để nâng cao chất lượng dạy học ở trường Tiểu học Quế Sơn nói riêng và chất lượng giáo dục tiểu học trong huyện nói chung, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục ở trường Tiểu học. Tôi xin trân trọng cảm ơn! NGƯỜI VIẾT BIỆN PHÁP Vi Văn Vĩ

File đính kèm:

  • docmot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_giao_duc_hoc_sinh_dan_t.doc
Giáo án liên quan