Một số biện pháp nâng cao chất lượng cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi học tốt hoạt động làm quen chữ cái
Bạn đang xem trước 20 trang mẫu tài liệu Một số biện pháp nâng cao chất lượng cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi học tốt hoạt động làm quen chữ cái, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHẦN A: ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục mầm non là giai đoạn khởi đầu đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển
nhân cách của trẻ, mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất,
tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách; chuẩn bị
bước vào lớp 1. Đối với trẻ mẫu giáo lớn, dạy trẻ Làm quen với chữ cái là một nội dung
quan trọng, giúp trẻ bước đầu nhận biết được các chữ cái, phát âm chuẩn các chữ cái
trong các từ trọn vẹn, phát triển ở trẻ khả năng quan sát, so sánh và phát triển ngôn
ngữ. Khi trẻ nhớ và phát âm chuẩn các chữ cái thì sẽ dễ dàng làm quen cách tô, đồ, sao
chép các ký hiệu và chữ cái để chuẩn bị tâm thế vững vàng khi bước vào lớp 1. Ngoài ra
việc cho trẻ làm quen với chữ cái còn phát triển tư duy trực quan hành động, tư duy
trực quan hình tượng và đặc biệt là phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ. Khi trẻ làm
quen với chữ cái, các cơ ngón tay, cơ bàn tay của trẻ phải hoạt động nhiều hơn, qua đó
cũng phát triển cơ thể trẻ.
Mặt khác cho trẻ làm quen với chữ cái còn giáo dục tình cảm, mở rộng hiểu biết cho
trẻ, trẻ được phát âm đúng 29 chữ cái tiếng Việt, đồng thời giúp trẻ phát triển khả năng
ghi nhớ, tri giác từ trọn vẹn trong các bài thơ, câu đố, câu chuyện, đồng dao, biết miêu
tả, diễn đạt sự việc hoặc ý muốn của mình bằng câu đầy đủ. Thông qua nhiều hoạt động
nhằm tạo ra được sự hứng thú và lòng ham muốn đi học lớp 1 của trẻ khi bước vào
trường tiểu học.
Trong quá trình dạy trẻ Làm quen chữ cái để giúp trẻ lĩnh hội được những kiến thức mà
mình mong muốn thì giáo viên cần phải tìm tòi, khám phá, nghiên cứu và tìm ra phương
pháp mới sáng tạo giúp trẻ tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng hơn, trẻ tham gia hoạt
động một cách tích cực hơn.
Trong thời gian đầu năm học tôi đã tổ chức cho trẻ tham gia hoạt động làm quen chữ
cái tôi luôn thực hiện đầy đủ, đúng trình tự các bước, các phần, bài dạy có đầy đủ nội
dung, kiến thức đề ra. Trong hoạt động đã chuẩn bị đầy đủ đồ dùng dạy học nhưng tôi
nhận thấy vẫn chưa phát huy được tính tích cực của trẻ. Trong giờ học trẻ thường không
tập trung chú ý, không hăng hái giơ tay phát biểu ý kiến dẫn tới khả năng ghi nhớ, quan sát, phân biệt, so sánh của trẻ còn kém. Và có nhiều trẻ kiến thức nắm bắt được không
chắc chắn, hay quên, khi hỏi lại thường trả lời ấp úng, không chính xác, rõ ràng Với tình
trạng trên mỗi khi tổ chức hoạt động Làm quen chữ cái chất lượng của lớp rất thấp
thường không đạt yêu cầu đề ra.
Từ những nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động Làm quen với chữ cái và từ thực
tế trên nên tôi mạnh dạn lựa chọn “Một số biện pháp nâng cao chất lượng cho trẻ mẫu
giáo 5-6 tuổi học tốt hoạt động làm quen chữ cái” để góp phần tích cực vào việc nâng
cao chất lượng tổ chức hoạt động Làm quen chữ cái cho bản thân và bạn bè đồng
nghiệp.
PHẦN B: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Thực trạng.
Năm học 2020 - 2021 tôi được Ban giám hiệu nhà trường phân công chủ nhiệm lớp MG
5 tuổi, gồm 2 giáo viên với tổng số 27 học sinh. Trong đó có 12 học sinh nữ, 15 học sinh
nam. Số trẻ dân tộc Tày là 21, dân tộc Dao là 6: Số trẻ ra lớp đạt 100% chỉ tiêu giao.
1.1. Ưu điểm:
Được sự chỉ đạo sát sao về chuyên môn của phòng Giáo dục và sự quan tâm của Ban
Giám hiệu nhà trường về cơ sở vật chất cũng như trang thiết bị dạy học được đầu tư
đầy đủ đồ dùng, trang thiết bị theo thông tư 02 và thông tư 34.
Giáo viên đứng lớp đều đạt chuẩn, trên chuẩn và là giáo viên dạy giỏi cấp trường cấp
huyện trong các năm học gần đây.
Bản thân đã trải qua nhiều năm được trải nghiệm thực tế trên lớp với trẻ, đồng thời
được tham gia học hỏi kinh nghiệm qua bạn bè đồng nghiệp nên cũng đã học được một
số kinh nghiệm trong phương pháp giảng dạy.
Trẻ ở cùng một độ tuổi nên mức độ nhận thức tương đối đồng đều. Chính vì vậy
cũng thuận lợi cho việc tiếp thu kiến thức do cô truyền đạt. 1.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân.
1.2.1. Đối với giáo viên.
Đồ dùng trực quan phục vụ cho hoạt động còn sơ sài, chưa sáng tạo dẫn đến giờ học
còn khô khan cứng nhắc, chưa phát huy được tính tích cực của trẻ
Giáo viên chưa tích cực tìm tòi, nghiên cứu phương pháp truyền tải những kiến thức,
nội dung cho trẻ một cách đơn giản, gần gũi và dễ hiểu.
Chưa tìm ra phương pháp mới sáng tạo giúp trẻ tiếp thu một cách dễ dàng hơn, mà chỉ
dạy dập khuôn theo kiểu truyền thống.
Giáo viên chưa chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong tổ chức hoạt động.
1.2.2. Đối với trẻ
Một số trẻ nhận thức còn chậm, tư duy chưa nhạy bén, một số trẻ do được bố mẹ
nuông chiều từ bé nên rất hiếu động.
Đa số trẻ là dân tộc thiểu số nên nhiều trẻ còn nói ngọng, nói từ ngữ địa phương, nói
trống không, phát âm chưa chuẩn
Trẻ chưa phát huy được tính tích cực, khả năng tư duy sáng tạo khi tham gia hoạt động
làm quen chữ cái.
1.2.3. Đối với phụ huynh
Đa số phụ huynh là dân tộc thiểu số nên phụ huynh còn nói ngọng, nói từ địa phương,
chưa nắm bắt được cách phát âm chuẩn, chưa tích cực phối hợp với giáo viên rèn trẻ ở
nhà.
Đa số phụ huynh là nông dân nên chỉ quan tâm đến việc đồng áng hoặc đi làm ăn xa trẻ
ở với ông bà nên ít quan tâm đến việc học tập của con. Khi có thời gian ở nhà không
dành thời gian học cùng con mà chỉ cho con xem điện thoại, ipas, ti vi....
1.2.4. Đối với cơ sở GDMN.
Trang thiết bị, đồ dùng dạy học như: Máy tính, máy chiếu, ti vi của 1 số lớp đã xuống
cấp, hỏng nên việc tổ chức hoạt động còn gặp không ít khó khăn. 1.2.5. Các hạn chế khác.
Do tình hình dịch bệnh Covid-19, trẻ phải nghỉ học ở nhà để phòng chống dịch cũng ảnh
hưởng đến khả năng nhận thức của trẻ.
2. Biện pháp.
2.1. Biện pháp 1: Xây dựng môi trường cho trẻ làm quen chữ cái.
2.1.1. Nội dung: Xây dựng môi trường cho trẻ làm quen chữ cái là một điều kiện không
thể thiếu vừa giúp trẻ được làm quen với các chữ cái mới đồng thời còn là một biện
pháp hữu hiệu để trẻ thường xuyên được ôn luyện và nhận biết các chữ cái đã học.
2.1.2. Cách tiến hành:
+ Xây dựng môi trường trong lớp học: Tôi đã thay đổi lại môi trường học tập trong lớp
tạo ra môi trường đẹp, hấp dẫn trẻ bằng cách tìm hiểu yêu cầu của các chủ đề, căn cứ
vào cấu trúc phòng học, đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 5-6 tuổi để tạo môi trường đẹp
xung quanh trẻ. Tôi chú trọng đến các vị trí quan trọng của lớp để đưa các loại chữ cái
và các từ chỉ dẫn một cách hợp lý. Với các từ chỉ dẫn tôi cũng đặc biệt quan tâm về 2
loại chữ: Chữ in thường và chữ viết thường. Có những loại tôi sử dụng chữ viết thường
để gắn vào như: Các loại rau, củ, quả, các đồ vật , đồ chơi ... Tôi cũng chú ý các cỡ chữ,
biểu bảng to thì cỡ chữ to rõ ràng để nổi bật như : Tên chủ đề, tên góc chơi, tên bảng
theo dõi,... Các đồ dùng, con vật tại các góc chơi thì chữ nhỏ hơn, tất cả đều phải vừa
tầm nhìn với trẻ. Ngoài ra tôi còn sử dụng các chữ cái làm ký hiệu trên ghế, tủ đồ dùng
cá nhân, ca, cốc của trẻ để trẻ nhớ được chữ cái trong tên của mình, của bạn.
Với môi trường trong lớp học tôi còn đặc biệt quan tâm tới góc “Học tập (Sách)” đến
với góc chơi này tôi luôn chú trọng trang trí nổi bật theo hướng mở để ngoài hoạt động
học chính ra trẻ có thể ôn lại nhóm chữ vừa học hay làm quen nhóm chữ mới, Từ đó
mà trẻ nhớ nhanh hơn, nhớ lâu hơn Hình ảnh: Môi trường trong lớp
+ Môi trường ngoài lớp học: Các vị trí ngoài lớp học mà tôi chú trọng để gắn các từ có
chứa chữ cái là các biểu bảng ngoài cửa lớp đến góc thiên nhiên, vị trí các góc cây cảnh
xung quanh lớp. Tham mưu với ban giám hiệu nhà trường xây dựng từ chỉ dẫn gắn liền
với các loại cây cảnh trong sân trường, các loại rau theo mùa, các loại hoa, cây ăn
quả. Khi trẻ chăm sóc vườn rau, cây cảnh tôi và trẻ trao đổi về tên rau, tên cây và trong
từ chỉ tên rau, tên cây đó con biết những chữ cái nào. Ví dụ: Trong từ “Cây thông” có
chữ cái c, â, y, ô Hình ảnh: Cây trong sân trường
2.1.3. Kết quả: Sau khi thực hiện biện pháp này tôi nhận thấy môi trường cho trẻ hoạt
động thoải mái không chỉ giúp trẻ củng cố kiến thức mà còn giúp trẻ phát triển năng
lực gây được sự chú ý của trẻ đảm bảo được môi trường giáo dục “Lấy trẻ làm trung
tâm”.
2.2. Biện pháp thứ hai: Sáng tạo, linh hoạt thay đổi hình thức trong quá trình tổ chức
cho trẻ “Làm quen chữ cái”
2.2.1. Nội dung: Để tổ chức cho trẻ làm quen với chữ cái đạt hiệu quả cao thì thay đổi
và linh hoạt trong tổ chức hoạt động cho trẻ đóng vai trò quan trọng. Trước kia tôi nghĩ
rằng vào bài thế nào mà chẳng được miễn sao trẻ tiếp thu được bài, thế nên tôi cứ cho
trẻ ngồi vào ghế là thao thao bất tuyệt giảng bài cho trẻ nghe và tiến hành đầy đủ các
bước như trong hướng dẫn, kết quả là trẻ chóng chán hay nói chuyện riêng không chú ý vào bài, trẻ mầm non luôn thích điều mới lạ, bất ngờ hấp dẫn hơn thế nữa Làm quen
với chữ cái là một môn học khô khan. Để trẻ nắm bắt được kiến thức theo yêu cầu cô
đặt ra một cách tích cực, hứng thú và ghi nhớ được lâu thì cô cần phải linh hoạt trong
tổ chức hoạt động.
2.2.2. Cách tiến hành:
+ Gây hứng thú: Gây hứng thú vào hoạt động học đóng vai trò quan trọng để thu hút
trẻ tích cực tham gia ngoài ra còn nhằm mục đích ôn luyện kiến thức đã học. Bên cạnh
thủ thuật đơn giản mà hiệu quả như: Sử dụng trò chơi, câu đố, bài thơ, bài hát, hay các
câu gợi sự chú ý:“Lắng nghe, lắng nghe”, “xúm xít, xúm xít”,...để thu hút trẻ. Tôi còn
tích cực tổ chức tiết dạy theo chương trình: “Sân chơi chữ cái”, “Bé vui học chữ” hoặc
có thể hóa thân một nhân vật nào đó để gây sự hứng thú cho trẻ ngay từ khi mở đầu
hoạt động học nhằm tạo một tâm trạng vui vẻ, phấn khởi, khơi gợi tính tò mò, ham hiểu
biết của trẻ...
Ví dụ: Trong hoạt động dạy trẻ làm quen với chữ cái tôi gây hứng thú bằng cách cô B
giới thiệu lớp hôm nay có một người rất đặc biệt đến học cùng các con. Sau đó cô A sẽ
hóa thân làm 1 nhân vật nào đó, trên tay cầm một chữ cái to đến học cùng trẻ như vậy
trẻ sẽ rất hứng thú. Hay cô đóng vai là người dẫn chương trình “Sân chơi chữ cái”,“Bé
vui học chữ”...để dẫn dắt các hoạt động để trẻ cảm thấy nhẹ nhàng mà vẫn lĩnh hội
được kiến thức cô đưa ra. Hình ảnh: Giờ học Làm quen chữ cái.
+ Sử dụng trò chơi vào hoạt động làm quen chữ cái: Hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu
giáo là hoạt động vui chơi. Trẻ học mà chơi, chơi mà học, chơi là một cách để trẻ học là
con đường giúp trẻ lớn lên và phát triển sau này của trẻ. Vì vậy tôi luôn sử dụng các trò
chơi đảm bảo từ dễ đến khó xen kẽ trò chơi động, tĩnh và chú trọng tới trò chơi theo
nhóm để cho trẻ cùng nhau tham gia.
Ví dụ: TC: Tìm quả cho cây.
+ Cách chơi: 2 đội chơi bật qua vòng chạy lên gắn quả chứa chữ cái vào cây. Khi
bật qua vòng chân không chạm vòng, mỗi lần bật lên chỉ được gắn 1 quả sau đó chạy
về cuối hàng bạn tiếp theo tiếp tục bật lên. Thời gian một bản nhạc đội chơi nào gắn
được nhiều chữ cái hơn là đội chiến thắng.
Ví dụ: TC: Bé thông minh tài trí
+ Chuẩn bị: Mỗi đội chơi 2 tấm bảng bằng xốp được cắt thành hình các chữ cái
in rỗng và những nét chữ cái cắt rời bằng xốp. + Cách chơi: Hai đội chơi sẽ chia đội mình thành 2 nhóm, nhiệm vụ của các nhóm
sẽ cùng thảo luận và tìm nét chữ cắt rời gắn vào bảng tạo thành hình chữ cái hoàn chỉnh.
Trong vòng 3 phút đội nào gắn được nhiều chữ cái đúng và hoàn chỉnh sẽ là đội chiến
thắng.
Ví dụ: TC: Sáng tạo cùng bé.
+ Chuẩn bị: Các nguyên vật liệu, các loại hột hạt do trẻ mang đến: Ngô, đỗ, lạc,
cúc áo, nắp chai, Dây len, dây kim tuyến,
+ Cách chơi: Cho trẻ tự lựa chọn nguyên vật liệu cho nhóm mình sau đó các
nhóm sẽ thảo luận và tự tạo hình các chữ cái từ các nguyên vật liệu mà nhóm mình đã
chọn.
Việc tổ chức cho trẻ làm quen với chữ cái phải theo một “chương trình” xuyên
suốt, cô giáo là người dẫn chương trình kết hợp khéo léo các trò chơi, có khoảng thời
gian cho trẻ thư giãn bằng các trò chơi xen kẽ, để trẻ cảm thấy thoải mái và tích cực
tham gia.
Hình ảnh: Trẻ chơi trò chơi
2.2.3. Kết quả: Bằng các trò chơi mới trẻ sẽ hứng thú khám phá những điểm mới
của bài học, tạo được sự hứng thú và giúp trẻ khắc sâu trí nhớ về cấu tạo chữ được làm
quen. Cho nên với mỗi tiết dạy tôi luôn tìm tòi, sáng tạo những trò chơi mới, cách chơi
mới ứng dụng với các hình thức khác nhau, thường xuyên thay đổi trò chơi để tạo sự
mới lạ hứng thú với trẻ. Đặc biệt sau mỗi giờ chơi trẻ tạo ra được rất nhiều sản phẩm
trưng bày ở góc. 3.1. Biện pháp thứ ba: Sử dụng đồ dùng đồ chơi tự tạo trong hoạt động “Làm quen chữ
cái”.
3.3.1. Nội dung: Để thực hiện tốt quan điểm giáo dục “Lấy trẻ làm trung tâm” thì đồ
dùng, đồ chơi cho trẻ là vô cùng quan trọng, đặc biệt là đối với hoạt động “Làm quen
chữ cái”. Bởi vì tư duy của trẻ mẫu giáo là tư duy trực quan hành động. Vì vậy theo tôi
đồ dùng, đồ chơi phục vụ giảng dạy là rất cần thiết, đồ dùng, đồ chơi là chiếc cầu nối
giữa trẻ và hoạt động nhận thức, cho trẻ hoạt động với đồ dùng, đồ chơi là cách thức
giúp trẻ lĩnh hội kinh nghiệm sống sau này. Một hoạt động học không thể đạt kết quả
cao nếu như thiếu đồ dùng giảng dạy. Do đó việc lựa chọn đồ dùng phù hợp với tiết dạy
sẽ giúp trẻ có cảm giác mới lạ, hấp dẫn, lôi cuốn, thu thút sự chú ý của trẻ. Đồ dùng trực
quan cũng như những đồ dùng để phục vụ cho trẻ trong hoạt động “Làm quen chữ cái”
phải đẹp, an toàn, dễ sử dụng và sinh động.
3.3.2. Cách tiến hành: Thay bằng các thẻ chữ cái thông thường tôi dùng xốp, đề can, vỏ
hộp bánh kẹo, bìa cát tông, giấy Ao, dây thép, băng dính hai mặt để làm bộ đồ dùng
học chữ cái mỗi loại đều có số lượng 27 đủ để mỗi trẻ đều được hoạt động.
Ví dụ: Tôi dùng các nắp chai nhựa, giấy dạ, nhám dính để làm những bông hoa có gắn
các chữ cái hoặc dùng bìa cát tông, keo nến, vỏ lon bia để làm những con vật ngộ
nghĩnh cho trẻ chơi trò chơi với chữ cái
Với chủ đề “Thế giới thực vật” tôi cắt xốp màu thành một cây to sau đó cho trẻ vẽ cắt
dán hoặc sưu tầm hoạ báo tranh ảnh về các loại lá, hột hạt cho trẻ cắt các chữ cái h, k
và cho tô màu, in chữ xếp theo chữ mẫu.
Khi cho trẻ làm quen với chữ cái u, ư trong chủ đề “Gia đình” thì tôi sưu tầm các bức
tranh có hình ảnh đồ dùng trong gia đình có chứa từ như: Cái tủ, tủ lạnh, giường ngủ,
cái lược, cái gương để trẻ tìm chữ cái trong từ.
Ngoài ra tôi còn sử dụng các tranh ảnh và đồ dùng tự tạo do chính tay các con làm ra
trong các hoạt động trải nghiệm qua đó hiệu quả của bài dạy được nâng cao, trẻ hứng
thú hơn tích cực hoạt động hơn. 3.3.3. Kết quả: Qua thời gian nghiên cứu và áp dụng phương pháp này tôi đã sưu tầm
và tự làm được rất nhiều đồ đùng đồ chơi theo từng chủ đề, từng tiết học, theo nội
dung giáo dục của tháng, từ đó đồ dùng dạy học cũng như đồ chơi của lớp tôi ngày càng
phong phú, đa dạng để cho trẻ tham gia vào các hoạt động đặc biệt là hoạt động làm
quen chữ cái tôi thấy trẻ hứng thú hơn, tích cực hơn trong giờ học. Hình ảnh: Đồ dùng đồ chơi tự tạo
4.1. Biện pháp thứ tư: Cho trẻ làm quen chữ cái ở mọi lúc mọi nơi.
4.4.1. Nội dung: Trong hoạt động học có chủ đích thời gian tối đa khoảng 35 phút
thì trẻ không thể lĩnh hội được hết kiến thức hay thuộc được chữ cái mà cô dạy ngay, mà cần phải được củng cố ở mọi lúc, mọi nơi để khắc sâu nhớ lâu chữ cái đó.Từ đó giúp
trẻ trau dồi kiến thức chữ cái của mình.
4.4.2. Cách tiến hành:
+ Thông qua các giờ đón, trả trẻ: Ví dụ: Khi trẻ đến lớp có thể cho trẻ tìm các chữ cái
đã học gắn lên góc “Vườn hoa chữ cái” hoặc các từ thiếu trong các cụm từ cô đã chuẩn
bị ở góc chơi học tập. Tôi đã đưa ra yêu cầu theo thời tiết hoặc theo các ngày lễ, chủ
đề. Có thể cho trẻ luyện phát âm qua đọc thơ, đọc đồng dao như luyện phát âm chữ
“g” cho trẻ đọc bài đồng dao “Gánh gánh gồng gồng”
Tôi còn cho trẻ xem một số tranh ảnh đẹp trong chủ đề đang học và cho trẻ tìm
chữ cái vừa học trong tranh hoặc tôi cùng trẻ giải các câu đố có chứa chữ cái hay đọc
vè đố chữ
+ Trong giờ hoạt động ngoài trời: Ví dụ: Tôi cho trẻ đọc thơ ca, hò vè luyện phát âm cho
trẻ. Tôi cho trẻ xếp các hột, hạt, hòn sỏi thành hình các chữ đã học, hay dùng phấn viết
lên sân những chữ đã học rồi cùng phát âm.
Trong sân trường nơi mỗi cây đều có bảng chữ tên của cây đó, khi đi dạo giới thiệu cho
trẻ tên và công dụng từng loại cây, cho trẻ đọc theo và tập đánh vần các chữ cái đã học,
cho trẻ tập nhận ra các chữ cái viết thường, chữ in thường, chữ in hoa trên các biểu
bảng trong sân trường như bảng nội quy, bảng thông tin tôi cũng cho trẻ chơi để ôn
lại chữ cái đã học.
Tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi dân gian có đọc đồng dao như trò chơi “Rồng rắn lên
mây” trong lúc đọc các từ “Rồng, rắn, lúc lắc ” các cháu phải cong lưỡi vì có chữ: l và
r qua đó trẻ sẽ phát âm chuẩn hơn. Hoặc chơi trò chơi “Bật liên tiếp” trẻ bật vào chữ
nào thì đọc to chữ cái đó; “Chạy tiếp cờ” trẻ tìm chiếc cờ có chứa chữ cái cô yêu cầu
Hình ảnh: Trẻ chơi trò chơi “Rồng rắn lên mây” Luyện phát âm r tôi cho trẻ đọc bài đồng dao: “Rềnh rềnh ràng ràng” hoặc chơi
trò chơi “Nu na nu nống”. Trẻ ngồi duỗi chân, cô chạm vào chân từng trẻ, khi đến câu
cuối tay cô chạm vào chân bạn nào thì bạn ấy trả lời câu hỏi của cô: tìm tên bạn có chữ
cái đầu là A, H, M
+ Trong hoạt động góc: Ở góc học tập cho trẻ tô màu chữ in rỗng to bằng bút sáp, sử
dụng màu nước (trẻ có thể dùng tay trực tiếp tô chữ hoặc dùng chổi vẽ). Khi trẻ tô xong
cô đến hỏi trẻ : Con vừa tô được chữ gì? Chữ cái đó có mấy nét?... Hay cho trẻ gạch
chân chữ cái vừa học trong một bài thơ, hoặc tìm chữ cái đã học trong một trang sách
mà trẻ đang xem... Hoặc cho trẻ nặn, đồ, ghép chữ cái từ các dây mềm như len, dây kim
tuyến, tô chữ cái rỗng hoặc xếp chữ cái từ hột hạt... ? Như vậy trẻ vừa nhớ mặt chữ
vừa luyện cả cách phát âm.
Ảnh 4: Trẻ đang hoạt động góc + Trong giờ vệ sinh: Trên khăn mặt, ca cốc của trẻ được kí hiệu bằng tên hoặc chữ cái
để trẻ vừa phân biệt đươc đồ dùng cá nhân, vừa hứng thú biết được tên mình gắn với
chữ cái đã học và tên của bạn mình là chữ cái gì.
+ Giờ hoạt động chiều: Cho trẻ đọc các bài thơ, đồng dao luyện phát âm các từ láy như:
Lung linh, rung rinh, nu na nu nống, chong chóng
Cho trẻ tô chữ cái theo chấm mờ, tô màu chữ in rỗng và tìm cắt chữ trong hoạ
báo dán thành sách làm bộ sưu tập, chơi các trò chơi học tập với các chữ cái
để thường xuyên quan sát trẻ, ghi chép vào sổ để theo dõi, đánh giá quá trình phát triển
những kĩ năng cần thiết chuẩn bị cho việc đọc, viết của trẻ nhằm điều chỉnh các biện
pháp giáo dục đối với từng cá nhân trẻ.
Quan tâm tới khả năng đọc - viết khác nhau của từng trẻ để dẫn dắt trẻ làm quen
với mặt chữ còn phải hướng dẫn trẻ cách cầm sách đúng chiều hướng, cách mở sách,
cách tô sao cho đúng, tô trùng khít chữ như: Khi tô phải ngồi ngay ngắn lưng thẳng,
đầu hơi cúi, cầm bút bằng tay phải, bằng ba đầu ngón tay, mở sách từ từ nhẹ nhàng
không làm rách, quăn mép sách, lật từng trang, hoặc xem tranh nhận biết phần mở đầu,
phần kết thúc của cuốn sách. Chẳng hạn như vở làm quen chữ cái tô chữ “o” tôi đã
hướng dẫn trẻ đặt bút chì từ điểm đặt bút của chữ o tô đồ từ trái qua phải theo nét
chấm mờ thành một vòng tròn khép kín.
+ Lồng ghép trong các hoạt động học có chủ đích khác:
Ví dụ: Hoạt động học âm nhạc: Trong giờ làm quen với chữ b, d, đ sau khi đã được
làm quen với các chữ cái này tôi cho trẻ hát bài “Búp bê bằng bông” Trẻ rất vui sướng,
thích thú vì được hát nhún nhảy theo nhạc. Qua đó giúp trẻ học cách phát âm chữ “b”
được chính xác hơn.
Ví dụ: Hoạt động thể dục: Với đề tài “Bật chụm, tách chân”. Tôi lồng ghép chữ cái
l, n, m. Khi trẻ bật vào ô có chữ cái nào thì phát âm chữ cái đó. Hoạt động tạo hình: Tôi cho trẻ cắt dán, tô màu chữ theo yêu cầu của cô để làm
tranh dán vào góc tạo hình.
Hoạt động được lồng ghép nhiều nhất là hoạt động khám phá. Ví dụ: Khi dạy một
tiết chữ cái b, d, đ chủ đề “Thế giới động vật” Tôi cho trẻ tìm hiểu chữ b qua từ kết hợp
hình ảnh “Con bò” trẻ được quan sát con bò và sẽ biết thêm về đặc điểm bên ngoài của
con bò từ đó làm tăng thêm sự hứng thú cho trẻ .
4.4.3. Kết quả: Sau khi áp dụng biện pháp này tôi thấy trẻ nhớ nhanh các chữ cái. Mỗi
khi vào hoạt động học có chủ đích tôi thấy trẻ hứng thú, tự tin trả lời, phát âm to, rõ
ràng, mạch lạc. Trẻ tích cực nhẹ nhàng lĩnh hội những kiến thức mà cô truyền đạt. Từ
đó chất lượng sau mỗi tiết dạy được nâng lên rõ rệt.
5.1. Biện pháp thứ năm: Ứng dụng công nghệ thông tin hợp lý vào hoạt động làm quen
chữ cái.
5.5.1. Nội dung: Đối với học sinh thuộc xã miền núi có điều kiện kinh tế đặc biệt khó
khăn nên việc CNTT được áp dụng vào giảng dạy càng thu hút được sự tò mò và hứng
thú của trẻ. Đơn giản là các hình ảnh đưa lên máy chiếu sử dụng các hiệu ứng, màu sắc,
âm thanh phù hợp cũng đã gây sự chú ý, thu hút sự tập trung của trẻ, hướng trẻ tới nội
dung học một cách hiệu quả hơn.
5.5.2. Cách tiến hành
Tôi lựa chọn nội dung và phương pháp, hình thức tổ chức sau đó xây dựng bài giảng
điện tử bằng cách khai thác tài liệu trên mạng Internet, lựa chọn hình ảnh, phông nền,
kiểu chữ, hiệu ứng âm thanh, hình ảnh phù hợp với chủ đề và nội dung bài dạy.
Cho trẻ xem hình ảnh, chơi trò chơi tìm hình ảnh qua ô chữ để trẻ được ôn chữ cái đã
học, sau khi mở hết ô chữ thì hình ảnh xuất hiện.
Trẻ nhận xét tranh sau đó đọc từ dưới tranh cùng cô. Trẻ được tri giác chữ cái mới bằng
hiệu ứng cho chữ xuất hiện .
Phần luyện tập: Trẻ được cô giáo hướng dẫn theo nhóm sử dụng máy tính qua
trò chơi, ghép nét tạo chữ cái và tìm chữ còn thiếu trong từ dưới tranh. Ngoài việc tìm kiếm hình ảnh có sẵn tôi còn soạn giáo án điện tử bằng các cách
như: Dùng điện thoại chụp hình hoặc Scan hình ảnh từ ngoài sau đó cắt xén, chỉnh sửa
hoặc quay video lấy những hình ảnh thật đưa vào chương trình PowerPoint để trình
chiếu; Tạo hiệu ứng cho các nhân vật cử động.
Trong năm học do ảnh hưởng của dịch bệnh covid-19 trẻ phải nghỉ học ở nhà tôi
đã làm video dạy trẻ Làm quen và chơi trò chơi với chữ cái: I- t- c
Ngoài ra tôi thường tải các video về chữ cái tiếng Việt cho nghe cách phát âm, cách tập
tô các chữ cái trên truyền hình cho trẻ xem vào các giờ sinh hoạt...
Hình ảnh: Cô ứng dụng công nghệ thông tin
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_cho_tre_mau_giao_5_6_tu.docx



