Một số biện pháp góp phần hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất học sinh
Bạn đang xem trước 20 trang mẫu tài liệu Một số biện pháp góp phần hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất học sinh, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO HUYỆN TẠO SƠN ĐỘNG
TRƯỜNG TIỂU HỌC YÊN ĐỊNH
BIỆN PHÁP GIÁO DỤC
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC, PHẨM CHẤT HỌC SINH
Họ và tên: NÔNG THỊ LAN HƯƠNG
Đơn vị: Trường Tiểu học Yên Định, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG
Sơn Động, tháng 11 năm 2023 2
MỤC LỤC
Nội dung Trang
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn biện pháp 3
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
5. Phương pháp nghiên cứu 4
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Cơ sở lý luận 4
2. Cơ sở thực tiễn 5
3. Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất HS 7
III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG
1. Kết quả 18
2. Ứng dụng 20
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận 20
2. Kiến nghị 20
3
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết: Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt
Nam phát triển toàn diện có đạo đức, có trí thức, có sức khỏe, thẩm mĩ và
nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ;
hình thành vào bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực của công dân, đáp
ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bất kì xã hội nào, nền văn hóa nào thì ngoài cung cấp kiến thức còn cần
phải giúp người học hình thành và phát triển một số năng lực, phẩm chất để
không chỉ phục vụ đời sống bản thân mà còn đáp ứng về nguồn nhân lực, tiềm
năng cho cả xã hội.
Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ hình thành năng lực , phẩm chất cho
học sinh đang trở nên cấp bách và cần thiết. Đặc biệt với học sinh tiểu học lại
càng phải quan tâm và coi trọng bởi nó là một nhân tố quyết định nhân cách, nó
là cái gốc để phát triển tài và đức của mỗi con người. Với nền giáo dục của
chúng ta hiện nay, song song với việc đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao
kiến thức cho học sinh thì việc quan tâm đến hình thành và phát triển năng lực,
phẩm chất, kĩ năng sống cho học sinh là một việc làm vô cùng quan trọng, nhất
là với lứa tuổi nhỏ, lứa tuổi đang “Như búp trên cành”. Trẻ em như một tờ giấy
trắng, ngay từ ban đầu việc hình thành năng lực, phẩm chất cho các em trở thành
con người toàn diện phù hợp với phát triển của xã hội đáp ứng nhu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là vô cùng cần thiết. Nhưng biện pháp nào để
giúp các em hình thành và phát triển được năng lực và phẩm chất một cách tốt
nhất là vấn đề chúng ta còn trăn trở. Chính vì những lý do trên, tôi đã chọn đề
tài “Một số biện pháp góp phần hình thành và phát triển năng lực, phẩm
chất học sinh”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng tổ chức các hoạt
động tập thể (Xây dựng môi trường học tập, tổ chức các hoạt động giáo dục). 4
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Duy trì và sáng tạo trong công tác hình thành và phát triển năng lực,
phẩm chất cho học sinh, làm sao để tất cả các em luôn cảm thấy “Mỗi ngày
đến trường là một ngày vui”.
- Giúp cho giáo viên nhận thấy rõ được vai trò cũng như trách nhiệm của
mình trong giáo dục học sinh.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu sự thay đổi của HS trước và sau khi vận dụng các giải pháp
giáo dục.
- Học sinh lớp 5A1 năm học 2022-2023 và học sinh lớp 5A1 năm học
2023-2024.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động học và sinh hoạt tập thể của HS.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
- Phương pháp thử nghiệm:
+ Áp dụng các giải pháp vào tiết sinh hoạt lớp tại lớp 5A1.
+ Áp dụng tiếp tục với lớp 5A1 năm học 2022- 2023 từ tháng 9/2023 đến
nay (tháng 11/2023).
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Cơ sở lí luận
Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của BCH TW Đảng (Khóa XI) về
“Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập quốc tế”. Phát triển phẩm chất, năng lực của từng học sinh (HS) là một
trong những nhiệm vụ mà Nghị quyết đề ra.
Căn cứ Thông tư số 27/2020/TT-BGDĐT ngày 04 tháng 9 năm 2020 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về Ban hành quy định đánh giá học sinh
tiểu học. Trong đó, Yêu cầu của đánh giá: Đánh giá học sinh thông qua đánh 5
giá mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt và biểu hiện cụ thể về các thành phần
năng lực của từng môn học, hoạt động giáo dục và những biểu hiện phẩm
chất, năng lực của học sinh theo yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông
cấp tiểu học.
Căn cứ các văn bản hướng dẫn của PGD&ĐT huyện Sơn Động về việc
thực hiện các hoạt động giáo dục trong các năm học. Chú trọng tổ chức các
hoạt động giáo dục phù hợp với đặc điểm học sinh, địa phương để phát huy
hiệu quả các hoạt động.
2. Cơ sở thực tiễn
a) Mô tả các giải pháp cũ thường làm
Chú trọng hình thành kiến thức, kĩ năng, thái độ; mục tiêu dạy học được
mô tả không chi tiết và khó có thể quan sát đánh giá được.
Ưu tiên dạy kiến thức, kĩ năng, thái độ cho người học mà chưa cụ thể
thành phẩm chất năng lực giải quyết các vấn đề áp dụng vào thực tiễn như
dạy học phát triển năng lực, phẩm chất.
Người thầy là trung tâm, dạy theo hướng chủ yếu là truyền thụ, HS ít
được trải nghiệm, ít được hợp tác hay tự khám phá, thiếu chủ động nên còn
chưa mạnh dạn tự tin trong các hoạt động giáo dục.
b) Nguyên nhân của thực trạng trên
Đa số giáo viên vẫn dạy học theo quan điểm dạy nội dung kiến thức chứ
không dạy theo hướng tiếp cận năng lực phẩm chất nên phương pháp dạy học
còn đơn điệu chủ yếu là đàm thoại, các phương pháp dạy học tích cực ít được
sử dụng nên HS chưa hứng thú. Chính vì vậy, năng lực, phẩm chất của học
sinh không được bộc lộ rõ nét do đó chất lượng của các hoạt động giáo dục
còn hạn chế.
GV chưa đặt niềm tin vào HS trong việc tự tổ chức chia sẻ qua các hoạt
động học nên việc học theo hướng phát triển năng lực phẩm chất cho HS chưa
được chú trọng, HS ít có cơ hội được sáng tạo, tự học nên còn thiếu tự tin và
vì thế HS ít có hứng thú và trách nhiệm trong học tập. 6
Bảng khảo sát trước khi áp dụng:
Mức đạt được của các năng lực và các phẩm chất
Tổng
Lớp Tốt Đạt Cần cố gắng
số HS
Số HS Tỉ lệ % Số HS Tỉ lệ % Số HS Tỉ lệ %
5A1 28 6 21,4 22 78,6 0 0,0
2.1. Thuận lợi
- Ngành giáo dục luôn có sự chỉ đạo cụ thể, sâu sát; Nhà trường luôn
động viên, khích lệ, tạo điều kiện để giáo viên chúng tôi thực hiện đổi mới
phương pháp dạy học. Trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục luôn
được sự chỉ đạo sâu sát, kịp thời của lãnh đạo và bộ phận chuyên môn nhà
trường.
- Nhà trường luôn quan tâm đầu tư, sửa chữa cơ sở vật chất. Phòng học
được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, có ti vi và mạng Internet, trang thiết bị
dạy học hiện đại cơ bản đáp ứng được yêu cầu đổi mới.
- Một số học sinh đã khá mạnh dạn, tự tin, tích cực khi tham gia các
hoạt động.
- Một bộ phận cha mẹ học sinh đã quan tâm đến con em mình, phối kết
hợp với giáo viên chủ nhiệm chức tốt các hoạt động giáo dục (kể cả vật chất,
ngày giờ công, tinh thần)
2.2. Khó khăn
- Học sinh đa số các em là con em dân tộc, sống vùng nông thôn. Do đó
năng lực giao tiếp hạn chế vì vậy nên các em còn rụt rè, thiếu tự tin khi tham
gia vào các hoạt động tập thể.
- Nhiều em có kết quả học tập các môn học tốt nhưng khả năng tự quản
và khả năng giao tiếp kém, chưa linh hoạt khi xử lí các tình huống trong cuộc
sống. Nguyên nhân sâu xa là do các em còn hạn chế về năng lực và phẩm chất
dẫn đến thiếu kĩ năng sống. 7
- Một số phụ huynh vì mải mê làm ăn nên đã phó mặc việc dạy dỗ con
cái cho nhà trường, cho giáo viên; chưa quan tâm đúng mức đến việc học tập
cũng như nắm bắt tâm tư, tình cảm của con em mình kịp thời. Họ coi nhà
trường là nơi có thể gửi gắm hoàn toàn việc hình thành nhân cách cho con cái
họ, trong khi lại không hề biết rằng: thời gian các em ở nhà mới là nhiều nhất.
Họ không biết rằng, gia đình cũng là nơi hình thành nhân cách các em, nhân
cách nhiều em bị ảnh hưởng từ phía gia đình.
Từ thực trạng một số vấn đề trên, tôi xin chia sẻ một số giải pháp của
mình trong việc tổ chức cho HS tham gia các hoạt động tập thể nhằm góp
phần nâng cao chất lượng xây dựng lớp học thân thiện, học sinh tích cực để
góp phần phát triển năng lực, phẩm chất HS.
3. Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất HS
3.1. Tìm hiểu đặc điểm của học sinh
Trong mỗi năm học, sau khi được phân công nhiệm vụ giáo dục trong
mỗi lớp. Điều mà bản thân tôi luôn xác định đóng vai trò hàng đầu đó là tìm
hiểu về đặc điểm tình hình học sinh trong lớp mà trọng tâm vào các vấn đề
sau:
Thứ nhất: Tìm hiểu về điều kiện, hoàn cảnh gia đình học sinh. Vì qua
đó, bản thân sẽ hiểu hơn về mỗi học sinh để từ đây gây dựng, tạo môi trường
giáo dục phù hợp nhất, xây dựng mối đoàn kết trong tập thể hiệu quả nhất.
Thứ hai: Tìm hiểu năng lực học sinh để từ đó tìm ra các phương pháp,
cách thức tổ chức các hoạt động sao cho hiệu quả nhất để mỗi học sinh có cơ
hội phát triển năng lực của cá nhân trong từng hoạt động. Tạo cho các em
niềm tin khi tham gia giúp đỡ, hỗ trợ các bạn trong mỗi hoạt động giáo dục.
Thứ ba: Tìm hiểu phẩm chất học sinh qua đó gắn trách nhiệm cho mỗi
học sinh trong các hoạt động sao cho phù hợp.
Để tìm hiểu được sâu sắc các đặc điểm của mỗi học sinh, tôi đã tổ chức
thực hiện thông qua các phương pháp sau:
Một là, tổ chức thăm gia đình học sinh; 8
Hai là, tìm hiểu thông qua GVCN đã dạy các năm trước;
Ba là, qua trực tiếp với mỗi học sinh;
Bốn là, tổ chức học sinh được chia sẻ trước lớp;
Năm là, thông qua việc phối hợp với phụ huynh học sinh;
Sáu là, thông qua các đoàn thể.
3.2. Xây dựng Ban cán sự lớp
Xác định, để các hoạt động giáo dục của lớp đi vào hoạt động và phát
huy hết năng lực, phẩm chất cá nhân của mỗi cá nhân học sinh thì việc hình
thành, xây dựng Ban cán sự lớp là vô cùng cần thiết.
Để có một Ban cán sự lớp hoạt động hiệu quả và được các thành viên
trong lớp ủng hộ. Với bản thân, tôi đã tiến hành như sau:
Thứ nhất: Tôi đã tổ chức chia sẻ để học sinh hiểu rõ về vai trò và trách
nhiệm của lớp trưởng, lớp phó trong Ban cán sự lớp.
Thứ hai: Tổ chức cho học sinh được bày tỏ suy nghĩ của cá nhân về
từng vị trí, vai trò, trách nhiệm đối với từng thành viên trong Ban cán sự lớp.
Các em sẽ làm gì? Tham gia như thế nào khi đặt trong mỗi vị trí đó?
Thứ ba: Tôi khuyến khích các em xung phong ứng cử. Nếu không có em
nào ứng cử, tôi đề nghị lớp đề cử 5 bạn học sinh tiêu biểu để cả lớp bầu chọn.
Thứ tư: Tổ chức HS tranh cử và bầu Ban cán sự lớp thông qua biểu
quyết.
Học sinh tự tin tranh cử vào ban cán sự lớp 9
Sau khi xây dựng được Ban cán sự lớp, tôi phân công nhiệm vụ cụ thể
cho từng em, luôn đồng hành, hỗ trợ các em trong suốt năm học.
Với cách tổ chức xây dựng Ban cán sự lớp như chia sẻ trên, trong những
năm qua các lớp do tôi làm công tác chủ nhiệm đã thực sự phát huy hiệu quả
rõ rệt trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục để phát triển năng lực và
phẩm chất của học sinh.
3.2. Phát huy vai trò của Ban cán sự trong việc trang trí lớp.
Việc trang trí lớp học một cách sáng tạo, phù hợp với đặc điểm tâm lý
học sinh sẽ giúp cho các em biết yêu và tạo ra cái đẹp, giúp các em có ý thức
gìn giữ trường lớp của mình.
Để việc trang trí lớp học thêm ý
nghĩa và lôi cuốn HS vào hoạt động.
Theo tôi, cần có sự tham gia của cả
giáo viên, HS và phụ huynh từ khâu
xây dựng ý tưởng, chuẩn bị đến hoàn
thiện. Đặc biệt trong quá trình thực
hiện thì giáo viên, phụ huynh cần đồng
hành cùng các em như những người
bạn để các em tự tin khi được chia sẻ,
được bày tỏ ý tưởng của mình. Từ đó
mối quan hệ giữa GV-HS, PHHS-HS,
Giáo viên cùng học sinh xây dựng cây
HS-HS,GV-PHHS sẽ được gắn bó một «Quy ước lớp chúng mình»
cách mật thiết. Trên cơ sở ý tưởng đã
được hình thành, GVCN giao cho ban cán sự lớp tổ chức phân công và thực
hiện mọi hoạt động. Qua đó nâng cao ý thức trách nhiệm, góp phần hình
thành các năng lực tự quản của ban cán sự lớp và sáng tạo của mỗi HS, đồng
thời góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất yêu nước; nhân ái; chăm
chỉ; trung thực; trách nhiệm cho các em. 10
Trong quá trình tổ chức thực hiện, tôi luôn xác định vai trò của người
giáo viên là vô cùng quan trọng trong việc khuyến khích, khích lệ, động viên
học sinh sáng tạo. Do đó, ngoài các quy định về trang trí lớp học ở tiểu học
như: Trích thư Bác Hồ, 5 điều Bác Hồ dạy TNNĐ và một số khẩu hiệu ... theo
quy định của ngành thì tôi đã khuyến khích các em sáng tạo theo một số góc
và các khẩu hiệu mang ý nghĩa và tính giáo dục cao như sau:
“Không thầy đố mày
làm nên”, “Muốn
biết phải hỏi, muốn
giỏi phải học”,
“Góc cộng đồng”,
“Góc sản phẩm quê
em”, “Góc thư
viện”, ...
Sáng tạo trong Góc trưng bày sản phẩm địa phương, góc cộng đồng 11
Các em say sưa sáng tạo để trang trí lớp học Hứng thú chia sẻ khi thầy cô đến thăm lớp
3.3. Vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp lấy học sinh làm
trung tâm, các kĩ thuật dạy học tích cực.
Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn cố gắng vận dụng linh hoạt, sáng tạo
các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực như: Thảo luận nhóm, đóng vai,
trò chơi, khăn trải bàn, sơ đồ tư duy, bài học STEM để hình thành và phát
huy các năng lực và phẩm chất cho học sinh.
Việc áp dụng phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm, giúp
học sinh cảm thấy được tôn trọng, nhờ đó học sinh tham gia tích cực hơn, tự
tin hơn trong quá trình học tập. Trong giảng dạy, tôi đặc biệt chú ý những em
còn rụt rè, nhút nhát ngại phát biểu bằng cách thường xuyên tạo điều kiện cho
các em phát biểu để các em trình bày những kiến thức từ đơn giản đến phức
tạp. Giáo viên đóng vai trò là người gợi mở, trợ giúp, hướng dẫn, động viên,
định hướng cho HS cách tư duy như phân tích, tổng hợp, khái quát để dần
hình thành tiềm năng sáng tạo của HS.
HS hứng thú, tích cực tham gia vẽ sơ đồ tư duy và đóng vai trong các tiết học 12
HS tự lên ý tưởng, lựa chọn vật liệu và tự làm đồ chơi mình thích.
Tự tin giới thiệu sản phầm của nhóm trước lớp.
3.4. Tổ chức hoạt động “Giáo dục nhà trường gắn liền với hoạt động
lao động và sản xuất”
Xác định, mô hình giáo dục nhà trường gắn liền với hoạt động lao động
và sản xuất là hình thức giáo dục ý thức, thói quen và kĩ năng lao động, củng
cố và phát huy những kiến thức văn hóa, khoa học và kĩ thuật thu nhận ở lớp
học, tăng thêm thể lực của học sinh, phục vụ cho việc dạy tốt, học tốt, đảm
bảo không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục theo định hướng phát triển
năng lực học sinh đồng thời góp phần tạo ra một môi trường giáo dục xanh,
sạch, đẹp, an toàn. Với ý nghĩa trên cùng với thực trạng đơn vị, của lớp tôi đã
tiến hành thực hiện như sau:
Tiến hành triển khai kế hoạch thực hiện tới 100% HS trong lớp để lấy ý
kiến chia sẻ từ cá nhân mỗi học sinh.
Căn cứ kế hoạch đã xây dựng cùng với ý kiến của học sinh, tôi đã triển
khai tới 100% phụ huynh trong lớp để xin ý kiến chia sẻ, tư vấn từ các bậc
PHHS (trong buổi họp PHHS đầu năm).
Sau khi nhận được sự đồng thuận của các bậc PHHS, tôi tiến hành tổ
chức thực hiện. Cô và trò đã không quản khó khăn cùng tham gia với nhà
trường cải tạo khuôn viên. Mỗi PHHS, CBGV chúng tôi đều tham gia tích 13
cực trong tất cả mọi việc. Qua đó càng khuyến khích được tinh thần lao động
của các em HS.
MỘT SỐ HÌNH ẢNH HỌC SINH THAM GIA CHĂM SÓC RAU, HOA TẠI
VƯỜN TRẢI NGHIỆM VÀ CÔNG TRÌNH MĂNG NON CỦA LỚP
14
3.6. Tổ chức hoạt động Sinh hoạt dưới cờ
Tiết sinh hoạt dưới chào cờ là một trong những tiết học giúp học sinh
bộc lộ được năng lực, các phẩm chất để tổ chức các hoạt động tập thể như
mạnh dạn, tự tin, ... linh hoạt trong xử lý các tình huống trước tập thể. Song
để giúp học sinh thể hiện được năng lực, phẩm chất của mình trước tập thể,
tôi luôn xác định người giáo viên cần tạo cho học sinh một điểm tựa vững
chắc để các em có được sự tự tin khi thể hiện mình. Do đó, trong mỗi tuần mà
lớp được phụ trách tổ chức tiết sinh hoạt dưới cờ, tôi chỉ là người định hướng
cho học sinh để bản thân các em được làm, được chuẩn bị, được chia sẻ
những vấn đề theo chủ đề của nhà trường và gắn với thực tiễn HS địa phương.
Lúc này, vai trò của Ban cán sự lớp càng được nâng lên trong việc phân công
nhiệm, tổ chức thực hiện,... vì vậy, càng tạo niềm tin và động lực cho các em
khi tổ chức các hoạt động.
Các em tự tin khi tổ chức tiết sinh hoạt dưới cờ
3.7. Tổ chức hoạt động Sinh hoạt lớp
Trên cơ sở đã tìm hiểu đặc điểm, sở trường, năng lực của HS như đã
chia sẻ ở trên. Để tổ chức tiết sinh hoạt lớp hiệu quả, bản thân tôi đã tiến hành
tổ chức thực hiện như sau để phát huy hiệu quả các năng lực, phẩm chất của
toàn thể HS trong lớp:
Trước khi tổ chức:
- Ngay đầu tuần, GV tổ chức hướng dẫn HS tự cập nhật hàng ngày các
hoạt động của bản thân HS tham gia các hoạt động giáo dục trong tuần 15
(những việc các em đã làm tốt, những việc còn gặp khó khăn, của bản
thân).
- Lớp trưởng, lớp phó cùng các tổ trưởng có trách nhiệm xây dựng ý
tưởng, định hướng nội dung sinh hoạt (nội dung phù hợp với đặc điểm tâm
sinh lý HS tránh nặng nề về lý thuyết không gắn với thực tiễn), cách tổ chức
(trên cơ sở chủ đề nhà trường phát động), phân công thực hiện nhiệm vụ.
- Các tổ trưởng chia sẻ ý tưởng trong tổ và phân công nhiệm vụ các
thành viên. Lấy ý kiến để tổ chức thực hiện, tham gia vào cuối tuần.
Tổ chức thực hiện:
GV định hướng cho lớp trưởng điều khiển tổ chức theo các hoạt động cơ
bản sau:
Hoạt động 1: Lớp trưởng tổ chức cho HS tự chia sẻ những nội dung đã
tham gia tốt hay còn gặp khó khăn trong tuần (tùy thuộc từng tuần nếu cần
thiết tổ chức để điều chỉnh hoạt động trong tuần sau).
- Tổ chức HS trong lớp cùng chia sẻ để đưa ra giải pháp khắc phục
những khó khăn còn tồn tại.
Lưu ý trong hoạt động này: Tránh việc tập trung đánh giá hạn chế và
phê bình HS. Mà tập trung cùng nhau đưa ra hướng khắc phục.
Hoạt động 2: Tổ chức sinh hoạt theo chủ đề
Trong hoạt động này, căn cứ kế hoạch tổ chức giao lưu bằng hình thức
(văn nghệ chào mừng, hái hoa dân chủ, kể chuyện, ) nhằm tạo không khí
lớp học thân thiện, đoàn kết, giúp các em tự tin, có hứng thú chia sẻ.
Đặc biệt, với những tháng có các phong trào thi đua quan trọng như
chào mừng ngày 20/11, 22/12, ngày Tết quê em... giáo viên có thể mời Ban
đại diện Hội cha mẹ học sinh của lớp đến dự tiết sinh hoạt lớp. Qua đó, phụ
huynh vừa nắm bắt được các phong trào thi đua của lớp, của trường để tuyên
truyền, nhắc nhở các em tích cực tham gia và phấn đấu vừa biết được năng
lực của HS trong lớp để phối hợp giáo dục, rèn luyện con em mình.
16
MỘT SỐ HÌNH ẢNH HS THAM GIA TRONG BUỔI SINH HOẠT LỚP
CHỦ ĐỀ CHÀO MỪNG 20/11
Em Phạm Huyền Trân tổ chức tiết học Em Trần Thảo My chia sẻ những việc làm
của HS sẽ khiến thầy (cô) vui trong lòng
Em Ngàn Quang Đại chia sẻ những việc Em Phạm Huyền Trân chia sẻ những giải
mình đã làm để chào mừng ngày 20/11 pháp của mình để khắc phục khó khăn
trong tuần tiếp theo
Hoạt động 3: Định hướng đưa ra chủ đề tuần sau
Với hoạt động này, định hướng Ban cán sự lớp tổ chức bằng nhiều
phương pháp khác nhau tạo cơ hội cho HS có thể là phán đoán, có thể tìm
hiểu qua nội dung, trao đổi, (qua bài hát, bài thơ, câu chuyện, hành động,
) để tìm ra chủ đề tuần sau và phát động phong trào tới HS.
*Lưu ý khi tổ chức tiết Sinh hoạt lớp: Đặt niềm tin ở HS, giáo viên
nên sẵn sàng lắng nghe, tôn trọng ý kiến HS. Đảm bảo nguyên tắc HS tự quản
toàn diện, tiết sinh hoạt lớp là của HS, do HS thực hiện và vì lợi ích của mỗi
HS và của cả tập thể lớp. GVCN cần linh hoạt vai trò của mình trong suốt quá 17
trình tổ chức thực hiện. Qua đó mới khơi dậy tiềm năng, động viên khuyến
khích HS thực hiện một cách tự tin, chủ động.
Em Phùn Thị Ngọc Huyền đọc thơ để có Em Phạm Huyền Trân tự tin tổ chức cho các
nội dung thể hiện chủ đề tuần sau bạn chia sẻ đưa ra chủ đề tuần tới
3.8. Công tác phối hợp với phụ huynh học sinh
Ngay từ buổi họp phụ huynh đầu năm, ngoài việc trao đổi tình hình của
lớp, biện pháp giáo dục các em, tôi đã:
- Tuyên truyền tới PHHS việc cần thiết phải xây dựng môi trường học tập.
- Triển khai tới PHHS kế hoạch, các biện pháp xây dựng môi trường
học tập để trưng cầu ý kiến từ PHHS.
- Chia sẻ với PHHS các phương pháp giúp các em tự học tập tại nhà có hiệu quả.
- Trao đổi với PHHS để phối hợp tổ chức hoạt động cho HS tham gia
trong những dịp nhà trường phát động thi đua chào mừng các ngày lễ lớn.
- Công khai, minh bạch các hoạt động tổ chức cho HS và kết quả thực hiện.
18
Phụ huynh tham gia trải nghiệm cùng học sinh
III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG
1. Kết quả: a) Đối với học sinh
Các phẩm chất của học sinh được hình thành và bộc lộ rõ ràng hơn: tự
tin, đoàn kết, yêu thương gần gũi bạn bè, tích cực tham gia các hoạt động giáo
dục, yêu lao động, ...
Sự tương tác trong học tập của học sinh với học sinh, học sinh với bài
học, kỹ năng lắng nghe, hỗ trợ, chia sẻ, ... của học sinh được hình thành.
Năng lực tổ chức các hoạt động tập thể, tự quản của HS luôn được nhà
trường đánh giá cao (đạt giải Nhất trang trí lớp học, tổ chức hoạt động giáo
dục găn liền với lao động sản xuất; Tổ chức hiệu quả các tiết sinh hoạt lớp;
Bộ máy Ban cán sự lớp tự tin, trách nhiệm, xây dựng một lớp học đoàn kết,
biết yêu thương giúp đỡ nhau để cùng tiến bộ).
Góp phần tạo một môi trường học tập an toàn, xanh-sạch-đẹp (từ trong
lớp đến cảnh quan bên ngoài) góp chung vào việc tạo nên vẻ đẹp chung của
quang cảnh nhà trường.
Khung cảnh lớp học Một phần quang cảnh trường học 19
HS thực tin tham gia các hoạt động trải nghiệm của nhà trường tổ chức
b) Đối với giáo viên
Thấy ý nghĩa hơn, trách nhiệm hơn trong các hoạt động giáo dục tổ chức
cho học sinh.
GV mạnh dạn đổi mới các hoạt động giáo dục (Phối hợp cùng phụ huynh
nhiều hơn để góp phần “Mang cuộc sống vào bài học - Đưa bài học vào cuộc
sống”), góp phần thu hút HS vào quá trình học tập.
Giáo viên linh hoạt hơn trong việc tổ chức được các hoạt động giáo dục
phù hợp với học sinh, tạo cơ hội cho HS phát triển các năng lực, phẩm chất
của bản thân.
Chủ động hơn khi tham gia sinh hoạt chuyên môn, thực hiện tốt mọi
nhiệm vụ được phân công.
Sau khi vận dụng các giải pháp trên, tôi đã tiến hành khảo sát học sinh để
kiểm chứng kết quả như sau:
Mức đạt được của các năng lực và các phẩm chất
Tổng Tốt Đạt Cần cố gắng
Thời điểm
số HS
Tỉ lệ
Số HS Số HS Tỉ lệ % Số HS Tỉ lệ %
%
Tháng
28 6 21,4 22 78,6 0 0,0
9/2022
Tháng
28 23 82,2 5 17,8 0 0,0
5/2023
20
2. Ứng dụng
Qua kết quả trên tôi khẳng định rằng những biện pháp mà tôi thực hiện
để hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cho HS mang lại hiệu quả cao
trong công tác chủ nhiệm lớp và có thể nhân rộng trong các trường Tiểu học
trên toàn tỉnh.
IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận: Để mỗi hoạt động giáo dục trong lớp đạt hiệu quả. Theo tôi,
cần tổ chức và thực hiện hiệu quả một số vấn đề:
Thứ nhất, mỗi GV cần linh hoạt trong tổ chức từng hoạt động giáo dục
trên cơ sở những quan điểm chỉ đạo, đổi mới của giáo dục và đào tạo. Tuyên
truyền tới PHHS sâu sắc và cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ,
giải pháp khi triển khai và tổ chức thực hiện kế hoạch của lớp.
Thứ hai, tạo sự đồng thuận cao trong PHHS. Nâng cao nhận thức về vai
trò của người GVCN với HS; Trách nhiệm phối hợp với nhà trường và xã hội
trong việc giáo dục nhân cách, lối sống cho con em mình của PHHS.
Thứ ba, đa dạng hóa các hoạt động, mô hình giáo dục, đẩy mạnh bồi
dưỡng, giáo dục năng lực, phẩm chất cho học sinh. Tạo nhiều cơ hội cho HS
được bộc lộ năng lực, phẩm chất cá nhân.
Thứ tư, trong mỗi hoạt động giáo dục cần tạo ra không khí thi đua tích
cực, thu hút HS tự giác tham gia.
2. Kiến nghị và đề xuất:
2.1.Đối với cấp quản lí giáo dục:
Kiểm tra, đánh giá về kế hoạch, quá trình tổ chức thực hiện của các đơn
vị một cách công bằng, khách quan.
Khuyến khích, động viên một cách kịp thời đối với đơn vị hoàn thành
xuất sắc các nội dung giáo dục.
Có đánh giá rút kinh nghiệm nhằm điều chỉnh các nội dung chưa phù
hợp và nhân rộng những điển hình tiên tiến.
2.2. Đối với lãnh đạo nhà trường:
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_gop_phan_hinh_thanh_va_phat_trien_nang_luc.pdf



