Một số biện pháp giúp trẻ 4-5 tuổi B6 phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động kể chuyện tại trường mầm non Quang Châu
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số biện pháp giúp trẻ 4-5 tuổi B6 phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động kể chuyện tại trường mầm non Quang Châu, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. LÝ DO VIẾT SÁNG KIẾN
Trong môi trường giáo dục mầm non, ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất
trong quá trình giao tiếp và học tập của con người. Đối với trẻ mầm non, đặc biệt
là lứa tuổi 4-5 tuổi – giai đoạn “vàng” của sự phát triển ngôn ngữ, việc tạo điều
kiện cho trẻ được rèn luyện và phát triển ngôn ngữ một cách toàn diện là điều vô
cùng cần thiết. Trong chương trình giáo dục mầm non, phát triển ngôn ngữ không
chỉ là một lĩnh vực riêng biệt mà còn là nền tảng, là phương tiện để trẻ tiếp cận với
các lĩnh vực phát triển khác như nhận thức, tình cảm xã hội, thẩm mỹ, thể chất
Hoạt động kể chuyện đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ cho
trẻ. Đây là hình thức dạy học gần gũi, hấp dẫn, dễ gây hứng thú và kích thích khả
năng tưởng tượng, tư duy, cảm xúc và phát triển lời nói của trẻ. Khi được tham gia
kể chuyện, trẻ không chỉ lắng nghe mà còn được tham gia vào quá trình tưởng
tượng, đối thoại, tái hiện lại nội dung truyện bằng lời nói, cử chỉ, nét mặt, qua đó
hình thành kỹ năng sử dụng ngôn ngữ mạch lạc, rõ ràng, linh hoạt và có cảm xúc.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy không phải trẻ nào cũng có điều kiện phát triển ngôn
ngữ đồng đều. Nhiều trẻ còn ngại nói, vốn từ nghèo, diễn đạt chưa mạch lạc, phát
âm chưa chuẩn. Bên cạnh đó, một số giáo viên còn tổ chức hoạt động kể chuyện
theo lối truyền thống, thiếu sự đổi mới trong hình thức và phương pháp, khiến trẻ
chưa thực sự hứng thú, chủ động tham gia.
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp mẫu giáo 4-5 tuổi, tôi nhận thấy việc sử
dụng các biện pháp linh hoạt, sáng tạo trong hoạt động kể chuyện sẽ giúp trẻ phát
triển ngôn ngữ tốt hơn. Chính vì vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Một số biện pháp
giúp trẻ 4-5 tuổi B6 phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động kể chuyện tại
trường mầm non Quang Châu” làm sáng kiến kinh nghiệm với mong muốn chia
sẻ những kinh nghiệm thực tiễn đã áp dụng hiệu quả trong quá trình giảng dạy, góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục tại lớp mình cũng như trong toàn trường.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Tìm ra những biện pháp thiết thực và hiệu quả giúp trẻ lớp 4-5 tuổi B6 phát triển ngôn
ngữ thông qua hoạt động kể chuyện tại lớp học mầm non. Góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục ngôn ngữ trong trường mầm non nói chung và tại lớp B6 nói riêng.
Giúp trẻ: Mở rộng vốn từ vựng, phát âm chuẩn, nói mạch lạc. Tự tin, mạnh dạn giao
tiếp, biết thể hiện suy nghĩ và cảm xúc qua lời nói. Tăng cường khả năng tư duy và
sáng tạo thông qua việc kể lại hoặc sáng tác nội dung truyện theo cách riêng. Nâng cao
năng lực tổ chức hoạt động kể chuyện sáng tạo cho giáo viên, từ đó đổi mới phương
pháp giáo dục ngôn ngữ trong lớp học phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu
giáo 4-5 tuổi.
III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu: Trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi cụ thể là năm học 2024- 2025 tôi
được phân công phụ trách lớp 4 -5 tuổi B6 với 37 học sinh. Trong đó có 20 nam và 17
nữ. 2
2. Phạm vi nghiên cứu: Trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi trong các hoạt động kể chuyện thuộc
lĩnh vực phát triển ngôn ngữ, cụ thể là hoạt động làm quen với văn học trong chương
trình giáo dục mầm non.
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, đặc biệt là
trẻ 4-5 tuổi, thông qua hoạt động kể chuyện.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng việc tổ chức hoạt động kể chuyện nhằm phát triển
ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi tại lớp mẫu giáo B6 – Trường Mầm non Quảng Châu.
- Phân tích những thuận lợi, khó khăn trong việc sử dụng hoạt động kể chuyện để
phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi.
- Đề xuất và áp dụng một số biện pháp cụ thể, thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động kể chuyện trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
- Đánh giá hiệu quả của các biện pháp đã thực hiện thông qua việc theo dõi, quan
sát, so sánh kết quả trước và sau khi áp dụng biện pháp
V. PHƯƠNG PHÁP NGIÊN CỨU.
- Phương pháp quan sát sư phạm Quan sát trực tiếp các hoạt động kể chuyện của cô và
trẻ trong lớp học nhằm đánh giá mức độ hứng thú, khả năng ngôn ngữ, vốn từ và khả
năng diễn đạt của trẻ trước và sau khi áp dụng các biện pháp.
- Phương pháp điều tra – khảo sát Sử dụng bảng hỏi, phiếu khảo sát dành cho giáo
viên, phụ huynh và trẻ (thông qua trò chuyện, hỏi đáp) để nắm được thực trạng và mức
độ quan tâm của các bên đến việc phát triển ngôn ngữ qua kể chuyện.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm Thực hiện áp dụng các biện pháp kể chuyện sáng
tạo trong quá trình giảng dạy, sau đó theo dõi, kiểm tra, đối chiếu kết quả trước và sau
khi thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của từng biện pháp.
- Phương pháp phân tích – tổng hợp tài liệu Tìm hiểu các tài liệu chuyên môn, sách,
báo, tài liệu tham khảo, văn bản hướng dẫn của ngành về giáo dục mầm non, phát triển
ngôn ngữ và hoạt động kể chuyện để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
- Phương pháp thống kê – xử lý số liệu Thu thập, tổng hợp, phân tích và so sánh các dữ
liệu khảo sát, đánh giá định lượng và định tính để rút ra kết luận khách quan về tính
hiệu quả của các biện pháp đã áp dụng.
VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA SÁNG KIẾN
- Đưa ra hệ thống biện pháp cụ thể, sát thực tiễn
- Đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động kể chuyện trong lớp mẫu giáo
- Phát huy vai trò chủ động, tích cực của trẻ trong quá trình học tập
- Tăng cường tính tương tác giữa cô và trẻ, giữa trẻ với nhau
- Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ngôn ngữ tại lớp mẫu giáo 4-5 tuổi
- Có tính khả thi cao, dễ áp dụng và nhân rộng. 3
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
I. CƠ SỞ VIẾT SÁNG KIẾN
1. Cơ sở lý luận:
Giáo dục mầm non là giai đoạn đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện
của trẻ, trong đó phát triển ngôn ngữ và thẩm mỹ có vai trò quan trọng. Hoạt động kể
chuyện là một hình thức đặc trưng trong lĩnh vực làm quen với văn học, giúp trẻ mở
rộng vốn từ, phát triển tư duy, trí tưởng tượng và tình cảm đạo đức.
Theo Chương trình giáo dục mầm non (Bộ GD&ĐT ban hành), hoạt động làm
quen văn học giúp hình thành ở trẻ khả năng lắng nghe, hiểu nội dung truyện, kể lại theo
tranh, sáng tạo tình huống mới... từ đó phát triển năng lực ngôn ngữ và kỹ năng giao
tiếp.
Các nhà giáo dục như L.X. Vưgôtxki, J. Piaget... đều khẳng định: trải nghiệm
thông qua hình thức kể chuyện, nghe và kể lại truyện giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, tư
duy logic, trí tưởng tượng và khả năng tái hiện.
Hoạt động kể chuyện còn giúp trẻ hình thành các giá trị đạo đức, nhân cách, biết
phân biệt đúng sai, học cách ứng xử phù hợp thông qua các nhân vật, tình huống trong
truyện
2. Cơ sở thực tiễn:
Qua quá trình trực tiếp giảng dạy trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi, giáo viên nhận thấy nhiều
trẻ chưa hứng thú với hoạt động kể chuyện, còn thụ động, khả năng ghi nhớ nội dung
truyện chưa tốt, ngôn ngữ chưa phong phú.
Một số giáo viên chưa linh hoạt trong hình thức tổ chức, còn sử dụng phương
pháp kể chuyện truyền thống, chưa phát huy tính tích cực, chủ động của trẻ.
Cơ sở vật chất, thiết bị hỗ trợ hoạt động kể chuyện còn hạn chế, chưa có nhiều đồ
dùng trực quan, tranh ảnh, mô hình, rối tay, nhạc nền, mô hình chiếu bóng...
Thực tế cho thấy, nếu có biện pháp tổ chức phù hợp, trẻ sẽ hứng thú, tiếp thu tốt
nội dung câu chuyện và tích cực tham gia kể lại, đóng vai nhân vật..., từ đó nâng cao
hiệu quả giáo dục.
II. THỰC TRANG CỦA VẤN ĐỀ CẦN ĐƯỢC GIẢI QUYẾT
2.1. Ưu điểm
- Được sự quan tâm và tạo điều kiện của ban giám hiệu nhà trường về cơ sở vật
chất, trang thiết bị, phương tiện dạy học đảm bảo cho việc học tập và vui chơi của trẻ. 4
- Nhà trường thường xuyên tổ chức những buổi sinh hoạt chuyên môn, học chuyên
đề, tổ chức các hoạt động, các hội thi giúp cho chị em đồng nghiệp được học tập và rút
kinh nghiệm.
- Bản thân là một giáo viên đạt chuẩn về trình độ chuyên môn. Luôn yêu nghề, mến
trẻ, ham học hỏi, tìm tòi và nâng cao trình độ chuyên môn. Giúp cho trẻ mạnh dạn hơn
trong giao tiếp.
- Trẻ ngoan, đi học đều và đa số trẻ ra lớp đúng độ tuổi.
- Phụ huynh đã quan tâm đến trẻ thường xuyên trao đổi nắm bắt thông tin của trẻ
thông qua điện thoại hoặc zalo nhóm lớp.
2.2. Tồn tại, han chế và nguyên nhân
2.2.1. Giáo viên
* Tồn tại và hạn chế:
Giáo viên còn tổ chức hoạt động kể chuyện theo phương pháp truyền thống
khiến trẻ thụ động và kém hứng thú.
Giáo viên chưa thiết kế hoạt động kể chuyện một cách sinh động hơn.
Giáo viên chưa cá nhân hoá việc rèn ngôn ngữ cho trẻ: Trong lớp có sự chênh lệch
rõ về khả năng ngôn ngữ giữa các trẻ nhưng cô chưa có phương pháp hỗ trợ theo năng
lực của từng trẻ.
* Nguyên nhân:
Ngại đổi mới, chưa mạnh dạn ứng dụng các hình thức tổ chức hoạt động kể
chuyện phong phú, linh hoạt.
Giáo viên còn bận rộn với nhiều hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ, hồ sơ sổ sách
nên chưa đầu tư đủ thời gian thiết ké tiết dạy kể chuyện sinh động.
Sĩ số lớp khá đông, cô không cô khó bao quát. Thời gian tiết học hạn chế chưa
có thời gian hỗ trợ cho từng trẻ, đặc biệt là những trẻ cần hỗ trợ riêng.
2.2.2. Trẻ em
- Tồn tại, hạn chế:
Một số trẻ nhận thức chậm, một số trẻ chậm nói, có trẻ nhát, có trẻ tăng động
Vốn từ còn hạn chế: Nhiều trẻ sử dụng từ ngữ chưa phong phú, thường lặp lại một
số từ quen thuộc, ít biết dùng các từ chỉ đặc điểm, hành động, cảm xúc Trẻ còn gặp
khó khăn khi diễn đạt suy nghĩ bằng câu nói đầy đủ và chính xác.
Phát âm chưa rõ ràng, còn nói ngọng khó nghe. Điều này ảnh hưởng đến khả năng
giao tiếp và sự tự tin khi tham gia kể chuyện. 5
Khả năng diễn đạt chưa mạch lạc: Trẻ thường diễn đạt ngắt quãng, không theo
trình tự, kể chuyện bị lẫn lộn nội dung, thiếu câu mở đầu – kết thúc, câu chuyện không
rõ ý.
Thiếu tự tin, ngại nói trước đám đông: Một số trẻ còn rụt rè, thụ động, không chủ
động phát biểu hoặc tham gia kể chuyện. Khi được mời kể, trẻ thường từ chối hoặc nói
rất nhỏ.
Khả năng chú ý – ghi nhớ chưa tốt: Trẻ khó tập trung khi nghe chuyện, hay bị
phân tán bởi yếu tố bên ngoài. Khi được hỏi lại, trẻ thường nhớ không đầy đủ nội dung
câu chuyện, dẫn đến khó khăn khi kể lại hoặc nhập vai.
- Nguyên nhân:
Do đặc điểm cá nhân: Mỗi trẻ có tốc độ phát triển ngôn ngữ khác nhau, phụ thuộc
vào môi trường sống, tính cách, thể chất và khả năng bẩm sinh.
Thiếu môi trường ngôn ngữ phong phú: Trẻ ít được nghe người lớn trò chuyện,
kể chuyện hoặc khuyến khích nói chuyện hàng ngày. Một số trẻ chủ yếu tiếp xúc với
thiết bị điện tử nên hạn chế giao tiếp.
Ảnh hưởng từ gia đình: Nhiều phụ huynh bận rộn, ít trò chuyện với con hoặc chỉ
đáp ứng nhu cầu vật chất mà không quan tâm đến phát triển ngôn ngữ. Có trẻ sống trong
gia đình mà người lớn cũng nói ngọng, ảnh hưởng đến cách phát âm của trẻ.
Trẻ ít được khuyến khích thể hiện bản thân: Trong môi trường học hoặc ở nhà,
nếu trẻ không được lắng nghe, động viên hoặc bị chê cười khi nói sai, trẻ sẽ dần mất tự
tin và không muốn giao tiếp.
2.2.3. Phụ huynh
- Một số phụ huynh còn coi nhẹ, chưa nhận thức được tầm quan trọng của tác phẩm
văn học.
- Nguyên nhân: Do cuộc sống bận rộn nhiều phụ huynh không có thời gian dành
cho trẻ.Trẻ học tập chủ yếu ở trên lớp còn về với gia đình một số phụ huynh suy nghĩ
trẻ mầm non chưa cần học tập nhiều nên phụ huynh cho thường cho con xem ti vi và các
thiết bị điện tử khác và chưa nhận thức được tầm quan trọng của tác phẩm văn học.
2.2.4. Nhà trường
- Tuy lớp học được thiết kế đảm bảo nhưng diện tích còn nhỏ, hẹp, trang thiết bị
đồ dùng còn thiếu.
- Nguyên nhân: Do nguồn thu của nhà trường hàng năm còn nhiều hạn chế. Do
thường xuyên phải tu sửa, nâng cấp nên kinh phí đầu tư mua sắm trang thiết bị đồ dùng
cho các lớp còn hạn chế. 6
- Chính vì vậy mà ảnh hưởng tới kết quả. Để khắc phục tồn tại trên, tôi thấy cần
phải nghiên cứu vấn đề này. Nên ngay từ đầu tôi đã tiến hành theo dõi đánh giá trẻ ở lớp
tôi phụ trách với sĩ số trẻ là 37 trẻ.
Khảo sát mức độ phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động kể chuyện thực tế đầu năm,
kết quả nhận được như sau:
Thực hiện
Thực hiên tốt
chưa tốt
STT Nội dung khảo sát
Số Số Tỉ lệ
Tỉ lệ %
lượng lượng %
1 Trẻ hứng thú với nội dung truyện 20 54% 17 46%
2 Trẻ hiểu được nội dung câu truyện, nhân
18 49% 19 51%
vật trong truyện,nắm được cốt truyện
3 Trẻ tham gia tích cực vào các hình thức
15 41% 22 59%
kể chuyện sáng tạo
4 Trẻ thể hiện cảm xúc phù hợp khi nhập
15 41% 22 59%
vai nhân vật
5 Trẻ chủ động 18 49% 17 51%
6 Trẻ kể lại một phần hoặc toàn bộ câu
16 43% 18 57%
chuyện bằng lời nói của mình
7 Trẻ sử dụng từ ngữ rõ ràng, nói câu đầy
15 41% 17 59%
đủ và mạch lạc.
III. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN: ( Gồm 6 biện pháp)
1. Biện pháp 1: Lựa chọn nội dung truyện phù hợp với độ tuổi 4-5 tuổi
1.1.Nội dung biện pháp:
Giáo viên cần nghiên cứu kỹ đặc điểm của trẻ để chọn truyện phù hợp, đảm bảo vừa
mang tính giáo dục, vừa kích thích khả năng cảm thụ và phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
1.2. Cách thức, quá trình thực hiện biện pháp:
Để thực hiện biện pháp này hiệu quả, tôi tiến hành khảo sát mức độ tiếp nhận
ngôn ngữ của trẻ trong lớp nhằm phân loại và đánh giá khả năng ngôn ngữ của từng
nhóm trẻ. Dựa vào đó, tôi lựa chọn những câu chuyện phù hợp với trình độ chung của
lớp. Tôi ưu tiên những câu chuyện có đặc điểm sau: Nội dung trong sáng, nhân văn, gần
gũi với cuộc sống hằng ngày như tình cảm gia đình, bạn bè, lòng nhân ái, sự giúp đỡ...
Cấu trúc truyện ngắn gọn, có tình tiết lặp lại, lời thoại sinh động,những câu chuyện âm
nhạc như các truyện: “Ba chú heo con”,“Thỏ và rùa”, “Cáo, thỏ và gà trống”, “ Vũ hội
trong vườn”... Lời kể có nhịp điệu, có kết hợp lời ca,có nhiều từ tượng thanh, tượng hình
giúp trẻ dễ nghe, dễ nhớ. Có hình ảnh minh họa phong phú (tranh truyện, sách truyện, 7
ảnh) và kể chuyện kết hợp với công nghệ AI để hỗ trợ trẻ trong việc ghi nhớ và tưởng
tượng. Ngoài ra, tôi tận dụng các nguồn truyện từ thư viện trường, sách truyện tranh
dành cho lứa tuổi mầm non, tài liệu điện tử (video, slide truyện) để đa dạng hóa tư liệu.
Trước mỗi hoạt động kể chuyện, tôi chuẩn bị thật kỹ nội dung, tranh minh họa, rối tay
nếu có, đồng thời dự kiến trước những từ ngữ, câu hỏi gợi mở phù hợp với khả năng của
trẻ. Tôi cũng phân loại truyện theo chủ đề tuần/tháng trong chương trình giáo dục mầm
non như: Thế giới động vật, Gia đình, Giao thông, Nghề nghiệp, Bản thân... để lồng
ghép một cách linh hoạt, hiệu quả vào kế hoạch giảng dạy.
1.3. Kết quả áp dụng biện pháp:
Nhờ lựa chọn đúng đắn nội dung truyện, trẻ trở nên hứng thú và tập trung hơn
trong giờ kể chuyện. Trẻ có khả năng ghi nhớ nhanh tên truyện, tên nhân vật, nội dung
chính của câu chuyện. Những trẻ yếu ngôn ngữ trước đây cũng bắt đầu có phản ứng tốt
hơn, có thể trả lời câu hỏi của cô, kể lại được một phần truyện, thậm chí diễn đạt lại câu
chuyện theo cách riêng của mình. Qua một thời gian áp dụng, vốn từ vựng của trẻ được
mở rộng rõ rệt, đặc biệt là các từ chỉ hành động, trạng thái, cảm xúc. Trẻ biết sử dụng
các câu có cấu trúc đơn giản để mô tả, kể lại, hoặc trò chuyện cùng cô và bạn. Khả năng
chú ý, ghi nhớ và diễn đạt của trẻ được cải thiện rõ rệt, giúp phát triển toàn diện ngôn
ngữ cả về nghe, hiểu và nói.
2. Biện pháp 2: Tạo môi trường sinh động để kích thích trẻ phát triển ngôn ngữ
thông qua hoạt động kể chuyện
2.1. Nội dung biện pháp
Biện pháp này tập trung vào việc thiết kế không gian lớp học, chuẩn bị học liệu
và tạo bối cảnh hỗ trợ trẻ tham gia vào hoạt động kể chuyện một cách chủ động, sáng
tạo.
Các yếu tố cụ thể của môi trường kể chuyện sinh động. Ngoài ra, còn trang trí
thêm góc thư viện bên ngoài lớp học như tận dụng ở các gầm cầu thang.
Hình ảnh trẻ đọc sách, truyện ở góc thư viện bên ngoài
Học liệu phong phú, đa dạng: giúp trẻ dễ dàng tiếp cận và sử dụng khi kể chuyện. 8
Thay đổi chủ đề thường xuyên: Cập nhật chủ đề kể chuyện theo tháng (ví dụ: chủ
đề gia đình, thế giới động vật, thiên nhiên, nghề nghiệp ), thay đổi cách trình bày không
gian (trang trí góc lớp theo truyện), tạo cảm giác mới mẻ và hấp dẫn.
Tổ chức không gian mở rộng ngoài lớp học: Có thể tổ chức “góc kể chuyện ngoài
trời”, sử dụng bối cảnh thật (gốc cây, sân chơi, vườn hoa ) để giúp trẻ hòa mình vào
không gian truyện kể, tăng tính trải nghiệm thực tế.
2.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp
Lên kế hoạch trang trí, sắp xếp không gian kể chuyện: Giáo viên phối hợp với
đồng nghiệp và phụ huynh tạo dựng một góc kể chuyện sinh động trong lớp học. Có thể
dùng vật liệu tái chế để làm rối, mô hình, hộp truyện vừa tiết kiệm chi phí vừa rèn
tính sáng tạo.
Hướng dẫn trẻ sử dụng học liệu kể chuyện: Dạy trẻ cách dùng rối, tranh minh họa
để kể chuyện; cách lật tranh theo trình tự câu chuyện; tổ chức các trò chơi kể chuyện
qua hình ảnh, xếp tranh theo cốt truyện
Khuyến khích trẻ tự sáng tạo không gian kể chuyện: Trẻ được vẽ hình, trang trí
góc kể chuyện theo ý thích, giúp trẻ gắn bó và yêu thích hoạt động hơn.
Tổ chức thường xuyên các buổi “bé kể chuyện”: Mỗi tuần tổ chức 1 – 2 buổi cho trẻ tự
chọn câu chuyện, bốc thăm kể chuyện, hoặc kể theo nhóm. Giáo viên tạo không khí cổ
vũ, nhẹ nhàng, không áp lực, để trẻ mạnh dạn sử dụng ngôn ngữ.
2.3. Hiệu quả đạt được
Tăng cường hứng thú và khả năng tập trung: Trẻ bị cuốn hút vào không gian
truyện kể sinh động, từ đó dễ tập trung lắng nghe, ghi nhớ và tham gia tương tác bằng
lời nói.
Phát triển vốn từ và kỹ năng kể chuyện: Nhờ được tiếp xúc với hình ảnh, mô hình
minh họa và có môi trường kể chuyện đa dạng, trẻ dễ dàng tiếp nhận nội dung, diễn đạt
lại bằng ngôn ngữ của mình.
Hình thành khả năng sáng tạo và diễn đạt cá nhân: Trẻ được khuyến khích tưởng
tượng, xây dựng nội dung, kể lại câu chuyện theo ý tưởng riêng, tăng cường sự tự tin và
chủ động trong giao tiếp. 9
Gắn kết tình cảm trong lớp: Môi trường kể chuyện là không gian thân thiện giúp
trẻ gần gũi với bạn bè, cô giáo, biết chia sẻ, hợp tác và tôn trọng nhau khi lắng nghe –
kể lại câu chuyện.
3. Biện pháp 3: Tổ chức hoạt động kể chuyện sinh động, sáng tạo để thu hút trẻ
3.1. Nội dung biện pháp:
Ở lứa tuổi 4-5, trẻ rất thích những hình thức thể hiện sinh động, có sự tương tác
như kể chuyện bằng tranh, kể chuyện sử dụng rối tay, kể chuyện đóng vai... Những
hình thức này không chỉ tạo hứng thú cho trẻ mà còn giúp trẻ rèn luyện khả năng nghe
– nói, ghi nhớ ngôn ngữ, phát âm chuẩn và diễn đạt trọn vẹn ý tưởng.
3.2. Cách thức, quá trình thực hiện biện pháp:
Sau khi lựa chọn truyện phù hợp, tôi chú trọng đổi mới hình thức tổ chức kể
chuyện để tạo sự hấp dẫn và cuốn hút đối với trẻ. Tôi sử dụng luân phiên hoặc kết hợp
các phương pháp kể chuyện sau:
Kể chuyện bằng tranh minh họa: Tôi chuẩn bị các bức tranh sáng tạo, tương ứng
với từng đoạn nội dung truyện, các nhân vật trong truyện xuất hiện lần luợt theo lời kể
của cô. Khi kể, tôi vừa nói vừa chỉ vào tranh, . Hình ảnh giúp trẻ ghi nhớ nội dung dễ
hơn và kích thích khả năng quan sát, tưởng tượng.
Kể chuyện sử dụng rối tay hoặc mô hình: Với những câu chuyện có nhiều nhân vật, tôi
sử dụng rối tay hoặc mô hình các con vật để thể hiện nhân vật. Khi kể, tôi thay đổi
giọng nói, biểu cảm, cử động của rối cho phù hợp với từng nhân vật. Trẻ rất thích hình
thức này và thường bắt chước theo, từ đó phát triển khả năng nói và biểu cảm ngôn
ngữ.
Kể chuyện đóng vai (kịch hóa câu chuyện): Tôi cho trẻ cùng tham gia vào hoạt động
kể chuyện thông qua hình thức nhập vai. Trẻ được phân vai, tập lời thoại và thể hiện
lại nội dung câu chuyện theo cách hiểu của mình. Tôi hướng dẫn trẻ cách nói câu trọn
ý, dùng từ phù hợp với nhân vật, đồng thời khuyến khích trẻ sáng tạo thêm lời thoại
hoặc kết thúc truyện mới.
Kể chuyện sáng tạo: Tôi mời trẻ tham gia kể tiếp câu chuyện, thay đổi tình huống hoặc
kết thúc truyện theo trí tưởng tượng. Đây là hoạt động giúp trẻ phát triển ngôn ngữ
sáng tạo, tư duy linh hoạt và tự tin trong giao tiếp.
Trong quá trình thực hiện, tôi luôn tạo không khí lớp học vui vẻ, cởi mở, khen ngợi sự
cố gắng của trẻ. Tôi cũng ghi nhận các biểu hiện tiến bộ và những nét riêng trong cách
kể chuyện của từng trẻ để điều chỉnh hình thức phù hợp hơn trong các tiết học sau.
3.3. Kết quả áp dụng biện pháp:
Sau thời gian áp dụng các hình thức kể chuyện sáng tạo, tôi nhận thấy rõ sự tiến bộ
trong kỹ năng ngôn ngữ của trẻ. Trẻ chủ động hơn trong việc thể hiện bản thân, mạnh
dạn kể lại nội dung truyện theo cách riêng. Trẻ không còn thụ động nghe kể mà tích
cực tham gia tương tác, đóng vai, trò chuyện. Sự tự tin của trẻ khi nói trước tập thể 10
được cải thiện rõ rệt. Ngoài ra, khả năng ghi nhớ, tư duy logic và sử dụng từ ngữ của
trẻ được nâng cao. Trẻ biết dùng từ phù hợp, nói câu trọn vẹn, có biểu cảm khi kể
chuyện. Những trẻ yếu trước đây cũng dần mạnh dạn tham gia, biết diễn đạt ý tưởng
của mình. Điều quan trọng nhất là trẻ cảm thấy yêu thích hoạt động kể chuyện và xem
đó là một trò chơi ngôn ngữ thú vị, từ đó tạo nền tảng vững chắc để phát triển ngôn
ngữ toàn diện cho trẻ.
4. Biện pháp 4: Lồng ghép kể chuyện vào các hoạt động hằng ngày để phát triển
ngôn ngữ tự nhiên cho trẻ
4.1. Nội dung biện pháp
Biện pháp này tập trung vào việc tích hợp kể chuyện vào các hoạt động hằng
ngày, từ đó tạo cơ hội cho trẻ tiếp xúc và sử dụng ngôn ngữ một cách tự nhiên, linh hoạt,
và phong phú.
4.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp
Các thời điểm và hình thức có thể lồng ghép kể chuyện:
Khi đón – trả trẻ: Giáo viên kể những mẩu chuyện vui, chuyện ngắn có nội dung
nhẹ nhàng, gần gũi, gắn với trải nghiệm của trẻ (ví dụ: chuyện về bạn thỏ đi học, câu
chuyện về đồ chơi yêu thích ). Điều này giúp trẻ cảm thấy thân thiện, dễ hòa nhập và
sẵn sàng chia sẻ, trò chuyện.
Giờ chơi – hoạt động góc: Giáo viên khơi gợi hoặc cùng trẻ sáng tạo các câu
chuyện dựa vào bối cảnh góc chơi: ở góc gia đình – kể chuyện về mẹ nấu ăn; ở góc xây
dựng – kể chuyện về các bạn nhỏ xây nhà; ở góc nghệ thuật – kể chuyện về nhân vật
trong tranh trẻ vẽ, ở góc thư viện kể chuyện theo tranh
Hình ảnh trẻ chơi ở góc phân vai và góc xây dựng
Hoạt động ngoài trời: Tranh thủ các yếu tố thiên nhiên như cây cối, con vật, mây
trời để kể những câu chuyện liên quan: chuyện về giọt mưa nhỏ, chú kiến chăm chỉ,
chiếc lá biết bay giúp trẻ kết nối thế giới xung quanh với ngôn ngữ. 11
Giờ ăn – giờ ngủ: Kể chuyện nhẹ nhàng, có âm điệu êm dịu, nội dung tích cực
như chuyện cổ tích ngắn, chuyện về tình bạn để trẻ thư giãn, dễ đi vào giấc ngủ, đồng
thời tiếp thu thêm vốn từ mới và cách diễn đạt đơn giản.
Giáo viên chuẩn bị nội dung kể chuyện phù hợp. Ngoài ra, cũng có thể linh hoạt
sáng tạo các câu chuyện ngắn theo tình huống thực tế trong lớp.
Khi kể chuyện, giáo viên cần thay đổi giọng điệu theo từng nhân vật, thể hiện
cảm xúc phù hợp với nội dung câu chuyện. Điều này không chỉ thu hút sự chú ý của trẻ
mà còn giúp trẻ học cách diễn đạt cảm xúc qua lời nói.
Tạo cơ hội cho trẻ tương tác: Sau mỗi câu chuyện, giáo viên đặt câu hỏi gợi mở
để trẻ trả lời, khuyến khích trẻ kể lại câu chuyện bằng lời của mình, sáng tạo thêm tình
tiết, đặt tên nhân vật, thay đổi kết thúc, hoặc đóng vai các nhân vật.
Ghi nhận và khuyến khích sự sáng tạo của trẻ: Trong quá trình sinh hoạt, nếu trẻ
tự nghĩ ra câu chuyện khi chơi hoặc giao tiếp, giáo viên cần ghi lại, chia sẻ trước lớp,
khuyến khích trẻ phát triển thêm câu chuyện đó. Điều này tạo động lực tích cực, giúp
trẻ thấy việc kể chuyện và sử dụng ngôn ngữ là một phần thú vị trong cuộc sống hằng
ngày.
4.3. Hiệu quả đạt được
Trẻ không học ngôn ngữ một cách ép buộc, mà được tiếp nhận và sử dụng qua
tình huống thực tế. Nhờ đó, trẻ dễ nhớ từ mới, hiểu cách sử dụng từ ngữ phù hợp với
ngữ cảnh.
Trẻ mạnh dạn hơn trong giao tiếp, biết cách biểu đạt suy nghĩ, cảm xúc bằng lời
nói một cách rõ ràng và mạch lạc.
Phát huy trí tưởng tượng và tư duy sáng tạo: Khi được khuyến khích thay đổi nội
dung chuyện, trẻ phát triển tư duy logic, tưởng tượng phong phú, góp phần mở rộng vốn
từ và cách diễn đạt đa dạng.
Tạo môi trường học tập tích cực, thân thiện: Lớp học trở nên sinh động, hấp dẫn,
trẻ hứng thú tham gia các hoạt động ngôn ngữ mà không cảm thấy gò bó hay áp lực.
5.Biện pháp 5: Khuyến khích trẻ tham gia kể lại truyện và sáng tạo nội dung câu
chuyện
5.1. Nội dung biện pháp:
Sau khi được nghe kể chuyện, giáo viên khuyến khích trẻ kể lại câu chuyện theo
trí nhớ, theo tranh, theo nhóm, hoặc sáng tạo thêm chi tiết, kết thúc mới là một biện pháp
rất hữu hiệu trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi.
5.2. Cách thức, quá trình thực hiện biện pháp:
Sau mỗi hoạt động kể chuyện, tôi không kết thúc tiết học ngay mà dành thời gian
để trẻ được tham gia kể lại câu chuyện theo nhiều hình thức linh hoạt. Cụ thể như sau: 12
Cho trẻ kể lại truyện bằng lời: Trẻ được kể lại toàn bộ hoặc một phần câu chuyện
theo trí nhớ. Tôi thường bắt đầu từ nhóm trẻ khá để làm mẫu, sau đó khuyến khích các
bạn khác kể lại. Với những trẻ nhút nhát, tôi cho kể theo cặp hoặc nhóm nhỏ để trẻ tự
tin hơn. Tôi chú ý lắng nghe và hỗ trợ trẻ hoàn thiện câu kể bằng cách gợi ý, nhắc nhở
các chi tiết, từ ngữ cần thiết.
Kể chuyện theo tranh: Tôi chuẩn bị bộ tranh nội dung câu chuyện và cho trẻ sắp
xếp lại theo trình tự rồi kể dựa vào tranh. Cách này giúp trẻ nhớ lại tình tiết, sử dụng từ
ngữ phù hợp với nội dung bức tranh. Trẻ học được cách diễn đạt mạch lạc, rõ ràng và
dùng câu trọn ý.
Hình ảnh trẻ kể chuyện theo tranh
Kể chuyện theo nhóm – phân vai: Tôi chia lớp thành các nhóm nhỏ, mỗi nhóm
phân vai để kể lại nội dung câu chuyện theo cách của mình. Trẻ được tự do thể hiện cá
tính qua giọng nói, điệu bộ, lời thoại. Việc làm việc nhóm giúp trẻ học cách lắng nghe
nhau, điều chỉnh lời kể sao cho ăn khớp và có nội dung liền mạch.
Sáng tạo nội dung hoặc kết thúc truyện:Tôi khuyến khích trẻ suy nghĩ và đưa ra ý
tưởng sáng tạo như:“Nếu là bạn gà con, con sẽ làm gì khác đi?”, “Theo con, câu chuyện
nên kết thúc như thế nào?”, “Con hãy nghĩ ra một đoạn truyện tiếp theo về các nhân vật
nhé.”
Trẻ rất hào hứng khi được thể hiện ý tưởng riêng, đôi khi còn nghĩ ra những chi
tiết thú vị, hài hước, thể hiện được sự phát triển tư duy và ngôn ngữ đa dạng. Ngoài ra,
tôi tổ chức các buổi kể chuyện thi đua giữa các tổ, nhóm, hoặc giao nhiệm vụ “kể chuyện
cho bố mẹ nghe” như một hoạt động giao về nhà, sau đó trẻ sẽ chia sẻ lại trong lớp.
Những hoạt động này tạo động lực để trẻ luyện tập và hứng thú với việc kể chuyện.
5.3. Kết quả áp dụng biện pháp:
Sau khi áp dụng biện pháp này, khả năng kể chuyện và diễn đạt của trẻ tiến bộ rõ
rệt. Trẻ hứng thú với việc được kể lại truyện, biết sử dụng từ ngữ linh hoạt hơn, giọng 13
kể sinh động hơn, ngữ điệu và biểu cảm phù hợp với nội dung. Khả năng ngôn ngữ sáng
tạo được nâng cao khi trẻ có thể đưa ra những kết thúc mới, xây dựng nhân vật hoặc câu
chuyện theo trí tưởng tượng riêng. Từ một hoạt động nghe thụ động, trẻ chuyển sang vai
trò chủ động giao tiếp, thể hiện bản thân, góp phần hình thành và phát triển ngôn ngữ
mạch lạc, tư duy độc lập – yếu tố cần thiết trong quá trình học tập sau này.
6. Biện pháp 6: Phối hợp với phụ huynh trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ
thông qua kể chuyện tại gia đình
6.1. Nội dung biện pháp:
Phối hợp chặt chẽ với phụ huynh để cùng giáo dục, rèn luyện ngôn ngữ cho trẻ qua hoạt
động kể chuyện là một biện pháp cần thiết và có tính lâu dài.
6.2. Cách thức, quá trình thực hiện biện pháp:
Để thực hiện biện pháp này hiệu quả, tôi đã tiến hành các bước cụ thể như sau:
Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho phụ huynh: Thông qua các buổi họp phụ huynh,
bảng tin lớp, nhóm Zalo của lớp tôi chia sẻ về vai trò của việc phát triển ngôn ngữ cho
trẻ, lợi ích của việc kể chuyện trong quá trình hình thành tư duy và kỹ năng giao tiếp
cho trẻ. Tôi nhấn mạnh rằng mỗi ngày, chỉ cần dành 10-15 phút kể chuyện hoặc đọc
sách cho trẻ nghe sẽ mang lại hiệu quả lớn trong việc phát triển ngôn ngữ.
Hướng dẫn phụ huynh cách kể chuyện cho trẻ tại nhà: Tôi gợi ý cho phụ huynh các
truyện ngắn, phù hợp với độ tuổi của trẻ; đồng thời hướng dẫn cách kể đơn giản, dễ hiểu,
có ngữ điệu, kết hợp tranh ảnh minh họa. Tôi khuyến khích phụ huynh sử dụng giọng
điệu biểu cảm, đặt câu hỏi cho trẻ trong quá trình kể để khơi gợi tư duy, sau đó trò
chuyện với trẻ về nội dung câu chuyện.
Cung cấp tài liệu và sách truyện phù hợp: Lớp tôi tổ chức “thư viện truyện nhỏ” – nơi
phụ huynh có thể mượn sách truyện tranh mang về cho trẻ đọc và kể mỗi tuần. Tôi cũng
giới thiệu các đường link truyện tranh, truyện kể có hình ảnh sinh động, video kể chuyện
online từ các nguồn uy tín để phụ huynh tiện sử dụng. 14
Hình ảnh phụ huynh mượn sách mang về
Tôi thường xuyên trao đổi riêng với phụ huynh về sự tiến bộ của trẻ trong ngôn ngữ, ghi
nhận các biểu hiện tích cực, đồng thời góp ý nhẹ nhàng nếu trẻ chưa tích cực hoặc cần
hỗ trợ thêm. Bên cạnh đó, tôi biểu dương trẻ trước lớp khi các em có tiến bộ, góp phần
tạo động lực cho cả trẻ và phụ huynh.
6.3. Kết quả áp dụng biện pháp:
Trẻ có vốn từ phong phú hơn, diễn đạt rõ ràng hơn và tự tin hơn khi kể chuyện trước
lớp. Các em thường chia sẻ rằng: “Hôm qua mẹ kể cho con nghe truyện gấu con ngoan
lắm”, hoặc “Con với bố kể chuyện Cáo và thỏ đó cô!”
Phụ huynh cũng phản hồi tích cực, nhiều người cho biết con mình đã chủ động nhắc
cha mẹ kể chuyện vào buổi tối, hoặc thích tự cầm sách kể lại theo trí nhớ. Từ đó hình
thành thói quen đọc sách, yêu thích ngôn ngữ và phát triển tư duy một cách tự nhiên,
bền vững. 15
Hình ảnh phụ huynh trao đổi về sự tiến bộ của trẻ
Việc phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường trong việc kể chuyện cho trẻ không
chỉ giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mà còn tăng cường tình cảm gắn bó giữa cha mẹ và
con, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển toàn diện về ngôn ngữ, tư duy và cảm
xúc của trẻ.
IV. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Sáng kiến “Một số biện pháp giúp trẻ lớp 4-5 tuổi B6 phát triển ngôn ngữ thông
qua hoạt động kể chuyện tại trường mầm non Quang Châu” có khả năng áp dụng rộng
rãi trong thực tiễn với các lý do sau: Phù hợp với chương trình giáo dục mầm non hiện
hành do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, đặc biệt trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ.
Các biện pháp đưa ra đều dễ thực hiện, linh hoạt, không đòi hỏi nhiều trang thiết
bị hiện đại, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của hầu hết các trường mầm non, kể
cả ở vùng nông thôn.
Nội dung sáng kiến đã được thực nghiệm hiệu quả tại lớp mẫu giáo 4-5 tuổi B6,
mang lại kết quả rõ rệt về sự tiến bộ trong phát triển ngôn ngữ của trẻ. Giáo viên mầm
non ở các lớp cùng độ tuổi có thể vận dụng linh hoạt sáng kiến này để tổ chức hoạt 16
động kể chuyện phong phú, sinh động hơn, giúp nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo
dục trẻ.
Sáng kiến cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các chuyên đề tập
huấn, sinh hoạt chuyên môn trong tổ, khối, từ đó thúc đẩy phong trào đổi mới phương
pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực trẻ.
V. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG
Dưới đây là các báo cáo số liệu về việc áp dụng biện pháp và hiệu quả đạt
được sự tiến bộ của trẻ.
Sau thời gian áp dụng các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4 - 5 tuổi B6
thông qua hoạt động kể chuyện tại trường mầm non Quang Châu, đã thu được nhiều kết
quả tích cực: Trẻ tích cực tham gia vào hoạt động kể chuyện, hứng thú khi nghe và kể
lại truyện.
Khả năng sử dụng ngôn ngữ của trẻ được cải thiện rõ rệt: phát âm chuẩn hơn, nói
to, rõ ràng và mạch lạc. Vốn từ vựng của trẻ được mở rộng, biết sử dụng từ đúng ngữ
cảnh và biểu đạt ý tưởng tốt hơn.
Trẻ có khả năng nhớ và kể lại truyện theo trình tự hợp lý, biết sáng tạo thêm chi
tiết hoặc thay đổi kết thúc câu chuyện. Trẻ mạnh dạn, tự tin hơn khi giao tiếp với cô
giáo và bạn bè, thể hiện rõ sự tiến bộ trong kỹ năng ngôn ngữ. Kết quả khảo sát cuối
đợt thực nghiệm cho thấy:
Thực hiện chưa
Thực hiên tốt
tốt
STT Nội dung khảo sát
Số Số
Tỉ lệ % Tỉ lệ %
lượng lượng
1 Trẻ hứng thú với nội dung truyện. 37 100% 0 0%
2 Trẻ hiểu được nội dung câu truyện,
nhân vật trong truyện,nắm được cốt 36 97% 1 3%
truyện
3 Trẻ tham gia tích cực vào các hình
36 97% 1 3%
thức kể chuyện sáng tạo
4 Trẻ thể hiện cảm xúc phù hợp khi nhập
35 95% 0 5%
vai nhân vật
5 Trẻ chủ động, thích đọc sách truyện 37 100% 0 0%
6 Trẻ kể lại một phần hoặc toàn bộ câu
36 97% 2 3%
chuyện bằng lời nói của mình
7 Trẻ sử dụng từ ngữ rõ ràng, nói câu
36 97% 0 3%
đầy đủ và mạch lạc. 17
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN:
Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện
là một hướng đi hiệu quả và phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ.
Qua quá trình nghiên cứu, áp dụng và thực tiễn giảng dạy tại lớp 4-5 tuổi B6, các
biện pháp được đề xuất trong sáng kiến đã phát huy tác dụng rõ rệt: giúp trẻ hứng thú
hơn với hoạt động kể chuyện, nâng cao khả năng diễn đạt, sử dụng ngôn ngữ linh hoạt
và tự tin trong giao tiếp.
Sáng kiến không chỉ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ngôn ngữ mà còn giúp
giáo viên đổi mới hình thức tổ chức hoạt động, tạo môi trường học tập tích cực, sáng tạo
cho trẻ.
II. KIẾN NGHỊ:
1. Đối với ngành giáo dục:
Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non về
phương pháp tổ chức hoạt động làm quen văn học, đặc biệt là kỹ năng kể chuyện sáng
tạo và ứng dụng công nghệ trong dạy học.
Xây dựng và cung cấp tài liệu hướng dẫn, học liệu mở, kho truyện tranh điện tử,
video kể chuyện, mô hình giáo cụ... nhằm hỗ trợ giáo viên tổ chức hoạt động kể chuyện
phong phú và hấp dẫn hơn.
Khuyến khích và nhân rộng các sáng kiến hay, mô hình hiệu quả trong tổ chức hoạt
động làm quen văn học thông qua các hội thi, diễn đàn chuyên môn hoặc các hình thức
chia sẻ kinh nghiệm trong toàn ngành.
Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục hiện đại cho các trường mầm
non, đặc biệt là ở khu vực còn khó khăn, để tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên tổ chức
các hoạt động kể chuyện hiệu quả.
2. Đối với nhà trường:
Tạo điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học như: tranh truyện, mô hình nhân
vật, rối tay, màn chiếu, loa, máy chiếu để giáo viên tổ chức hoạt động kể chuyện sinh
động, hấp dẫn hơn.
Khuyến khích và hỗ trợ giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy, tổ chức
chuyên đề, hội giảng chuyên môn về hoạt động làm quen văn học, giúp giáo viên trao
đổi và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.
Tạo điều kiện tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề hoặc hội thi kể chuyện sáng
tạo cho trẻ. 18
Dành kinh phí phù hợp cho việc sưu tầm, làm đồ dùng dạy học và tổ chức các
hoạt động ngoại khóa, kể chuyện theo chủ đề, hội thi kể chuyện cho trẻ nhằm phát huy
khả năng ngôn ngữ và tự tin của trẻ.
3. Đối với tổ chuyên môn
Nhân rộng sáng kiến đến các lớp cùng độ tuổi trong toàn trường để nâng cao hiệu quả
giáo dục ngôn ngữ. Tổ chức chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ giáo viên trong việc đổi mới
phương pháp kể chuyện cho trẻ.
4. Đối với giáo viên:
Thường xuyên tìm tòi, học hỏi và sáng tạo trong việc tổ chức các hình thức kể chuyện
đa dạng, hấp dẫn. Chủ động phối hợp với phụ huynh nhằm tạo môi trường giao tiếp ngôn
ngữ tích cực cho trẻ cả ở lớp và ở nhà.
* Trên đây là “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi B6 thông
qua hoạt động kể truyện tại trường mầm non Quang Châu ” mà tôi đã thực hiện. Trong
quá trình thực hiện tôi cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền, không sử dụng
biện pháp đã được đề xuất để xét duyệt thành tích khen thưởng cá nhân trước đó, các
biện pháp đã triển khai thực hiện và minh chứng về kết quả, sự tiến bộ của trẻ lớp 4 - 5
tuổi B6 trường mầm non Quang Châu là trung thực.
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Thông tư số 51/2020/TT-BGDĐT ngày 31/12/2020 của Bộ trưởng bộ giáo dục và
Đào tạo sửa đổi, bổ sung một số nội dung của chương trình Giáo dục mầm non ban hành
kèm theo Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25/7/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2016/TT-BGDĐT ngày
30/12/2016 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo.
- Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non mẫu giáo nhỡ 4 - 5
tuổi (Tái bản lần thứ mười hai có chỉnh lý theo Thông tư số 51/2020/TT-BGDĐT ngày
31/12/2020 sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Chương trình giáo dục mầm non).
- Số 120/KH- MNVT ngày 11 tháng 9 năm 2024. Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ
năm học 2024- 2025
- Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của tổ mẫu giáo 4 tuổi năm học 2024
- 2025
- Phiếu đánh giá theo dõi sự phát triển của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi
- Một số tạp chí, báo, tivi. Mạng internet.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Quang Châu , ngày tháng năm 2025 19
GIÁO VIÊN
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Thị Hồng Trang
PHẦN E. ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT CỦA NHÀ TRƯỜNG
1. Đánh giá, nhận xét của tổ chuyên môn
.
.
.
TỔ TRƯỞNG CHUYÊN MÔN
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trần Thị Huệ
2. Đánh giá, nhận xét, xác nhận của Hiệu trưởng
..
..
..
..
..
..
HIỆU TRƯỞNG
(Ký, đóng dấu)
Nguyễn Thị Mến
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_giup_tre_4_5_tuoi_b6_phat_trien_ngon_ngu_th.docx



