Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 phát triển năng lực tự chủ trong học tập
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 phát triển năng lực tự chủ trong học tập, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN VIỆT YÊN
TRƯỜNG TIỂU HỌC HOÀNG NINH
SÁNG KIẾN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 4
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ CHỦ TRONG HỌC TẬP
Họ và tên: Nguyễn Thị Huyền
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường TH Hoàng Ninh
Lĩnh vực nghiên cứu: Giáo dục
Việt Yên, tháng 5 năm 2022
1 Phần I: MỞ ĐẦU
I. LÝ DO VIẾT SÁNG KIẾN
Đất nước Việt Nam ta từ xưa tới nay đã có rất nhiều những danh nhân đã
thành nhân tài của đất nước như: Vào thế kỉ XIII, Nguyễn Hiền chỉ mới 13 tuổi
đã đỗ Trạng nguyên – đó là trạng nguyên trẻ tuổi nhất nước Nam ta. Thế kỉ XIV,
Mạc Đĩnh Chi đỗ trạng nguyên. Còn Lương Thế Vinh đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ
cập đệ nhất danh (trạng nguyên) khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận thứ 4,
đời Lê Thánh Tông vào thế kỉ XV. Thế kỉ XIX, đất nước ta xuất hiện vị lãnh tụ
vĩ đại-Bác Hồ. Bác là Người khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Bác
ra đi tìm đường cứu nước từ hai bàn tay trắng. Bác nói được 29 ngôn ngữ. Bác
học bằng cách nào? Bác viết lên tay, học dưới ánh trăng... Để có được những
thành quả như vậy, chính là nhờ vào sự kiên trì trong quá trình tự chủ trong học
tập của những danh nhân. Đó cũng là những tấm gương mà chúng ta cần noi
theo.
Lê-nin từng nói: "Học, học nữa, học mãi". Câu nói đó luôn có giá trị ở
mọi thời đại, đặc biệt là khi xã hội ngày nay đang hướng tới nền kinh tế tri thức,
đòi hỏi mọi người phải vận động để theo kịp sự phát triển của xã hội. Chính vì
vậy mà tinh thần tự chủ trong học tập có vai trò vô cùng quan trọng.
Tự chủ là làm chủ chính bản thân mình, được hiểu một cách cụ thể thì
“tự” nghĩa là tự bản thân mình làm việc gì đó, tự mình điều khiển hành vi, suy
nghĩa của mình, đồng thời cũng chính mình sẽ tự đưa ra quan điểm trong mọi
vấn đề gặp phải, nói cách khác đây chính là yếu tố tự tác động đến mọi vấn đề,
còn “chủ” ở đây có thể hiểu nghĩa chính là chủ quyền, là sự dân chủ.
Hiểu một cách đơn giản nhất thì tự chủ chính là khả năng tự bản thân
mình sẽ đưa ra các quyết định sáng suốt, xuất phát từ chính bản thân mình mà
không chịu sự tác động, ép buộc bởi bất cứ ai. Tự chủ được biểu thị qua hành
động, qua lời nói, suy nghĩ, tâm tư hay tình cảm của chính bản thân mình trong
mọi hoàn cảnh.
Việc tự chủ sẽ giúp con người hiểu vấn đề một cách sâu sắc, giải quyết
vấn đề nhanh chóng chính xác. Việc tự chủ trong học tập có thể được coi là
chiếc chìa khóa đưa ta đến kho tàng tri thức, là điều kiện giúp ta thành công
trong học tập. Nếu biết tự chủ trong học tập thì chúng ta chắc chắn sẽ thành
công và nâng cao được tri thức của chính mình. Những người có tinh thần tự chủ
trong học tập sẽ chủ động suy nghĩ, tìm tòi, khám phá, nghiên cứu và nắm được
bản chất vấn đề. Tinh thần tự chủ trong học tập có thể giúp con người tiếp thu
được kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau như sách, báo, từ truyền hình ti vi, từ
bạn bè hoặc từ những người xung quanh, những kinh nghiệm sống... Tự chủ còn
giúp cho mỗi cá nhân có nhiều cơ hội hơn, dám ước mơ, dám thực hiện khả
1 năng của bản thân mình trong mọi lĩnh vực, tâm lý sẽ không chịu sự tác động
của những yếu tố không tốt từ môi trường bên ngoài, đồng nghĩa với việc bản
thân có lợi thế trong việc phát triển cuộc sống sau này, học tập phát triển đi lên
không ngừng.
Chính vì vậy, bản thân tôi đã chọn sáng kiến: “Một số biện pháp giúp
học sinh lớp 4 phát triển năng lực tự chủ trong học tập”nhằm phát huy năng
lực tự học, tự chủ nâng cao tính sáng tạo, chủ động, tự tin cho học sinh, góp
phần đẩy mạnh chất lượng dạy và học trong nhà trường Tiểu học.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Tìm biện pháp nhằm phát triển năng lực tự chủ trong học tập cho học sinh.
- Giúp học sinh chủ động, tự tin, mạnh dạn phát huy năng lực tự chủ trong
học tập của mình.
- Giúp học sinh chia sẻ mạnh dạn và giúp đỡ bạn cùng tự chủ trong học tập.
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VỊ NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng
- Biện pháp phát triển năng lực tự chủ trong học tập cho học sinh lớp 4.
2. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Lớp 4B, Trường Tiểu học Hoàng Ninh
- Thời gian: Từ tháng 9 năm 2021 đến tháng 5 năm 2022
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Khái niệm về tự chủ.
- Mối quan giữa cha mẹ học sinh và học sinh
- Nắm được thực trạng việc tự chủ trong học tập của học sinh.
- Nắm được vai trò của giáo viên trong quá trình hình thành năng lực tự
chủ cho học sinh.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp thực hành.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp phỏng vấn.
- Phương pháp kiểm tra, đánh giá.
VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA SÁNG KIẾN
Việc bồi dưỡng và phát huy khả năng tự chủ trong học tập cho học sinh
(HS) là rất cần thiết trong quá trình dạy học vì theo thông tư 27/2020/TT-
2
BGDĐT ngày 04/09/2020 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục thì chúng ta đang dần áp
dụng kết hợp với thông tư 22/2016/TT-BGDĐT ngày 22/09/2016 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục để đánh giá HS tiểu học. Trong đó, giáo viên (GV) có vai trò quan
trọng. Giáo viên không chỉ trực tiếp bồi dưỡng mà còn là người phát huy khả tự
chủ trong học tập của học sinh thông qua các bài giảng của mình. Với những
kinh nghiệm phát huy năng lực tự chủ trong học tập cho học sinh, tôi đã chia sẻ
với các đồng nghiệp trong tổ, khối trong nhà trường.
Phần II: NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC TỰ CHỦ TRONG HỌC TẬP CỦA
HỌC SINH
1. Cơ sở lí luận
Tự chủ trong học tập cũng chính là một trong các năng lực chung trong
Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT khi đánh giá sự hình thành và phát triển năng lực
của học sinh.
Tự chủ là làm chủ chính bản thân mình, được hiểu một cách cụ thể thì
“tự” nghĩa là tự bản thân mình làm việc gì đó, tự mình điều khiển hành vi, suy
nghĩa của mình, đồng thời cũng chính mình sẽ tự đưa ra quan điểm trong mọi
vấn đề gặp phải, nói cách khác đây chính là yếu tố tự tác động đến mọi vấn đề,
còn “chủ” ở đây có thể hiểu nghĩa chính là chủ quyền, là sự dân chủ.
Hiểu một cách đơn giản nhất thì tự chủ chính là khả năng tự bản thân
mình sẽ đưa ra các quyết định sáng suốt, xuất phát từ chính bản thân mình mà
không chịu sự tác động, ép buộc bởi bất cứ ai. Tự chủ được biểu thị qua hành
động, qua lời nói, suy nghĩ, tâm tư hay tình cảm của chính bản thân mình trong
mọi hoàn cảnh.
Đức tính tốt đẹp này luôn được đề cao trong mọi giai đoạn hình thành,
phát triển của xã hôi, các giá trị tốt đẹp này đã không ngừng phát triển và được
phát huy ở nhiều khía cạnh khác nhau.
2. Cơ sở thực tiễn
Tự chủ trong học tập là một xu thế tất yếu giúp nâng cao kết quả học tập
của học sinh và chất lượng giáo dục của nhà trường, là biểu hiện cụ thể của việc
đổi mới phương pháp dạy học ở các trường phổ thông. Nhưng nhiều HS cảm
thấy thời gian học tập sao quá nhàn hạ để có thể cho phép mình được vui chơi
thoải mái.
HS chưa thấy được kiến thức sách vở là bắt nguồn từ cuộc sống và mục
đích cuối cùng của chúng là sẽ trở lại phục vụ cuộc sống. HS cũng chưa thấy
được mối quan hệ giữa các các kiến thức mình đang học có liên quan gì với kiến
thức trước và sau nó. Do vậy, HS cũng chưa biết vận dụng cái đã biết để giải
quyết những vần đề chưa biết và cần biết.
3
II. THỰC TRẠNG VỀ VIỆC TỰ CHỦ TRONG HỌC TẬP CỦA
HỌC SINH
1. Thực trạng
Năm học 2021-2022 tôi được nhà trường phân công giảng dạy lớp 4B,
tổng số 33 học sinh trong đó có 19 học sinh nam và 14 học sinh nữ.
Vào đầu năm học bản thân tôi thấy một số em có tinh thần chủ trong học
tập cao như em: Dũng, Huyền, Nhật Hoàng, Huy Hoàng,...
Song còn một số các em có biểu hiện: thường xuyên chỉ biết thu nhận
kiến thức sẵn có từ giáo viên và sách giáo khoa, chỉ biết hoàn thành công việc
mà thầy cô giao cho. Ví dụ, đối với bài toán các em chỉ cần tìm ra đáp số là đủ
mà quên mất phải tìm ra cách hay nhất. Đặc biệt khi gặp bài toán khó các em
không chịu suy nghĩ mà chờ giải đáp của giáo viên. Mọi suy nghĩ của các em
đều rất thụ động, chậm chạp.
Học sinh đã quá phụ thuộc vào các bài giảng của thầy cô trên lớp. Thầy cô
dạy như thế nào thì hiểu và học như thế ấy dẫn đến quá trình thụ động, thiếu suy
nghĩ và sáng tạo trong lúc học để đào sâu kho tàng kiến thức còn ẩn sâu trong
các bài giảng của thầy cô, chưa có thói quen đọc sách, báo.
Các em tự chủ ở mức chưa đạt trong học tập là các em: Phong, Long,
Hưng, Đức Anh..
2. Nguyên nhân
Các em chưa yêu thích môn học, chưa có phương pháp học tập tốt, rất
nhiều học sinh học tủ, học vẹt một cách ép buộc để đối phó với kiểm tra thi cử.
Các em không hiểu hết bản chất của vấn đề dẫn đến việc mau chóng lãng quên
mà lại còn lãng phí thời gian và công sức. Các học thuộc bài nhưng không hiểu
bài dẫn đến tình trạng thuộc lí thuyết nhưng không biết làm thực hành. Việc học
của học sinh chưa đem lại hiệu quả cao vì các em thụ động khi tiếp thu kiến thức
mà thầy cô truyền lại.
Bên cạnh đó tình trạng học “đối phó” diễn ra phổ biến trong lớp. Hầu hết
HS chưa chủ động được thời gian, chưa biết sắp xếp hợp lí thời gian cho toàn bộ
chương trình cũng như kế hoạch học tập hàng tháng, hàng tuần, hàng ngày của
mình. Đa số HS chưa biết và cũng chưa có ý thức chủ động tìm kiếm kiến thức
mới. Giáo viên (GV) dạy tới đâu, HS học đến đó, GV dặn điều gì thì HS học và
làm điều ấy.
Bố mẹ thì không coi trọng tới việc tự chủ, tự học trong học tập của con
em mình. Rất ít phụ huynh dành thời gian hướng dẫn hoặc cùng học với con.
3. Qua khảo sát đầu năm học, tôi thống kê được cụ thể về năng lực tự
chủ trong học tập như sau:
Mức độ Số học sinh Tỉ lệ (%)
HS tự chủ trong học tập cao 7 21,2
4
HS tự chủ trong học tập chưa cao 15 45,5
HS chưa tự chủ trong học tập 11 33,3
Kết quả trên cho thấy số học sinh chưa có năng lực tự chủ trong học tập
chiếm tỉ lệ là 33,3%.
Chính vì vậy, bản thân tôi đã chọn một số biện pháp: “Giúp học sinh lớp
4 phát triển năng lực tự chủ trong học tập” nhằm phát huy năng lực tự học, tự
chủ nâng cao tính sáng tạo, chủ động, tự tin cho học sinh, góp phần đẩy mạnh
chất lượng dạy và học trong nhà trường Tiểu học.
III. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1. Tạo cho học sinh niềm say mê môn học
Muốn học sinh có ý thức tự chủ trong học tập thì trước hết học sinh phải
yêu thích môn học đó. Vì vậy tôi tạo cho HS niềm say mê môn học. Tôi có thể
dùng tiết dạy để giới thiệu về môn học, về những giá trị của môn học trong thực
tiễn bằng những ví dụ minh họa cụ thể nhằm kích thích động cơ học tập ở các
em. Ví dụ ở môn Khoa học, tôi làm thông qua cách đặt vấn đề bằng những câu
chuyện hay đơn giản chỉ là những câu hỏi thú vị như: “Tại sao lại có mưa?”.
Câu hỏi vừa đặt ra tưởng chừng rất đơn giản nhưng để trả lời được câu hỏi này
đòi hỏi HS cần phải kiến thức về sự bay hơi, ngưng tụ của nước. Hay môn kĩ
thuật ở chương 2: Kĩ thuật trồng rau, hoa thì HS học lí thuyết gắn liền với thực
tế chăm sóc vườn trường tạo ra sản phẩm thực.
HS chăm sóc, thu hoạch rau.
2. Hướng dẫn cho HS cách ghi chép và nghe giảng
Cách ghi chép và nghe giảng là những kỹ năng học tập vô cùng quan
trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập của HS. HS thường mang lối
học thụ động, quen tách việc nghe và ghi chép ra khỏi nhau, thậm chí nhiều HS
chỉ chờ GV đọc mới có thể ghi chép được nội dung bài học, nếu ngược lại thì bỏ
trống vở. Điều này khiến HS có tâm lí ức chế, ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận
kiến thức. Để khắc phục vấn đề này này, tôi đã phải rèn luyện cho HS cách ghi
chép nhanh bằng các hình thức gạch chân, tóm lược ý chính bằng sơ đồ hình vẽ
(sơ đồ tư duy). Đối với các vấn đề quan trọng, tôi thường nhấn mạnh, lặp lại
nhiều lần để HS tiếp thu dễ dàng hơn.
5
HS tóm tắt Sơ đồ vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên
3. Giao nhiệm vụ cụ thể cho HS ở tiết học tiếp theo đồng thời cho HS
sắp xếp thời gian học tập và vui chơi hợp lí
- Để phát huy tối đa năng lực tự chủ và thúc đẩy HS tận dụng hết thời gian
tự học, tôi thường giao nhiệm vụ cụ thể cho HS. Có như thế, các em mới định
hướng được cụ thể các nhiệm vụ mình cần làm tiếp theo. Sau khi đã tiếp nhận
được kiến thức cũ, các em có thể tìm hiểu kiến thức mới. Khi có sự chuẩn bị
trước ở nhà, việc học trên lớp sẽ trở nên có hiệu quả hơn rất nhiều.
Ví dụ: Học xong bài Âm thanh, để chuẩn bị tốt cho bài sau: Sự lan truyền
âm thanh. Tôi dặn HS chuẩn bị đồ dùng cần thiết cho tiết học theo nhóm: ống
bơ, giấy vụn, đồng hồ, 2 miếng ni lông,..
Hay bài: Bóng tối (Khoa học 4 – bài 46)
HS chuẩn bị trước đồ dùng: Đèn pin, quyển sách hoặc bảng
6
HS chuẩn bị đầy đủ đồ dùng để học.
Hoặc bài: Phép cộng phân số (toán 4)
Thì HS chuẩn bị một băng giấy để chia các phần bằng nhau và tô màu hai
lần các phần chia, rồi tự tìm tổng số phần đã tô màu.
- HS suy nghĩ: “A! Cô giáo mình dặn chuẩn bị đồ dung làm gì nhỉ?” Từ
đó kích thích khả năng tìm tòi kiến thức mới, Khi được tìm hiểu các em sẽ tự
chủ hơn trong học tập. không còn học tủ, học vẹt nữa.
Đồng thời, bản thân tôi còn cho HS tự lập thời gian biểu theo
tuần để có cách học và nghỉ ngơi hợp lí.
Thời gian biểu em Minh tự làm.
7
4. Hình thành thói quen đọc sách, báo cho học sinh
Tự chủ trong học tập là giúp HS tự lĩnh hội kiến thức và đọc sách là hình
thức tự học. Nhờ đọc sách mà ta có kiến thức sâu rộng, “học một, biết mười",
tầm mắt được mở mang. Đọc các truyện lịch sử, ta biết được những trang sử
vàng của dân tộc. Đọc các câu chuyện về kĩ năng sống, ta cảm thấy tự tin, biết
ứng xử khi gặp các tình huống trong cuộc sống hằng ngày, Như chúng ta đã
biết: “sách là kho tàng kiến thức vô tận” nên tôi đã hướng dẫn HS các bước để
hình thành thói quen đọc sách.
Thực tế cho thấy, để nuôi dưỡng văn hóa đọc, giúp học sinh tự chủ trong
học tập cần rèn luyện thói quen này từ nhỏ và bằng nhiều hình thức.
Đọc sách mọi nơi: Đọc sách là việc cần làm nhưng tìm ra thời gian để
đọc lại là một câu chuyện khác. Bạn cần phải tìm ra một cách thật hay để có thể
đọc sách hàng ngày và gây chú ý với trẻ, giúp hình thành thói quen cho chúng.
Ví dụ, giờ ra chơi, tôi thường nói với các em: Sau giờ học hôm nay, cô muốn
nghe các bạn kể về một câu chuyện các bạn thích nhất. Và tôi sẵn sàng nghe các
em kể lại câu chuyện mà mình khám phá theo cách của riêng mình.
Giờ giải lao khi học online, HS chia sẻ những cuốn sách hay
mà mình đã đọc.
Lên khung giờ đọc sách: Thư viện trường Tiểu học Hoàng Ninh tổ chức
cho HS các khối lớp đọc sách theo lịch. Đây là hoạt động bổ ích được cô và trò
rất hưởng ứng. Có những em ham đọc, chưa tới giờ đọc nhưng những chiếc ghế
đỏ đã được xếp quanh gốc cây và các em đã say mê đọc những cuốn sách, cuốn
truyện mà mình mang theo. Các cô giáo cũng dành thời gian ngồi đọc với các
em, vừa là để tự học, đồng thời là tấm gương để các em học tập theo. Lớp tôi
8
cũng là một trong những lớp hưởng ứng tốt nhất phong trào mua, đọc và làm
theo báo Đội mà Liên đội phát động.
Giờ ra chơi của các bạn học sinh trường Tiểu học Hoàng Ninh.
Đọc mọi thứ: Tôi vẫn dặn học sinh: Các con hãy quan sát thật kĩ các chữ
trên đường các con đi. Đọc bất kì chữ nào con nhìn thấy. Từ ngữ có ở khắp mọi
nơi. Nơi nào có từ ngữ, nơi đó các con có thể đọc được. Học sinh của tôi có thể
kể tên tất cả các cửa hàng từ nhà đến trường, có thể nhớ các biểu bảng ở trường
bằng tiếng anh, tiếng việt. Thật là cách học tuyệt vời.
Khi đọc sách cần phải tập trung chú ý, tích cực suy nghĩ và ghi chép lại
những gì mà mình học tập được. Đây là phương pháp tự chủ về học tập rất hữu
ích, đọc sách sẽ giúp các bạn học sinh biết thêm nhiều kiến thức mới ngoài
những kiến thức được thầy cô cung cấp trên trường, lớp. Sau khi đọc xong một
cuốn sách, đôi khi tôi yêu cầu học sinh nêu nội dung chính của câu chuyện, hay
nêu cảm nghĩ của mình về câu chuyện đó hoặc thể hiện cuốn sách bằng tranh vẽ.
5. Vận dụng các phương pháp dạy và khuyến khích HS tích cực tham
gia các hoạt động ngoại khóa.
Dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào, mỗi giáo viên cần đảm bảo nguyên
tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng
dẫn của giáo viên”. Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học,
hình thành và phát triển năng lực tự chủ (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi
chép, tìm kiếm thông tin,...), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc
lập, sáng tạo của tư duy.
Bản thân tôi chú trọng rèn luyện cho HS những phương pháp để các em
biết cách đọc sách giáo khoa và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những
kiến thức đã có, biết cách suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới. Cần
rèn luyện cho HS các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái
quát hoá, tương tự, quy lạ về quen... để dần hình thành và phát triển tiềm năng
sáng tạo của học sinh.
Để bồi dưỡng và phát huy tốt năng lực tự chủ trong học tập của học sinh,
giải pháp cần làm đối với một giáo viên, đó là:
9
Một là: Xác định rõ mục tiêu bài học.
Hai là: Xác định rõ kiến thức cơ bản, trọng tâm. Từ đó tổ chức, dẫn dắt
học sinh lĩnh hội kiến thức đó. Đồng thời lường trước khó khăn học sinh sẽ mắc
phải.
Ba là: Không áp đặt cho học sinh kiến thức sẵn có mà phải hình dung
được yêu cầu mức độ khác nhau của từng nhóm học sinh. Để đảm bảo tính vừa
sức sao cho học sinh được làm việc nỗ lực nhất. Muốn vậy phải chuẩn bị tốt đồ
dung dạy học: bảng phụ, phiếu học tập. Luôn tạo ra “tình huống có vấn đề” cho
học sinh có hứng thú học tập.
Bốn là: Khi giải các bài tập khó phải tổ chức các hoạt động học tập từ dễ
đến khó, giản đơn đến phức tạp. Yêu cầu học sinh giải quyết bằng nhiều phương
án và lựa chọn phương án tốt nhất.
Năm là: Phải tổng hợp, hệ thống hóa và xác định mối liên hệ giữa các
kiến thức, giúp học sinh phân biệt và định hướng kiến thức đã học.
Đặc biệt khuyến khích HS tham gia các hoạt động ngoại khóa để các em
vận dụng kiến thức trong sách vào thực tế, từ đó HS tự chủ hơn trong học tập.
HS tham gia Ngày hội Gia đình đọc sách và bày mâm ngũ quả nhân ngày Tết Trung thu.
6. Kết hợp với gia đình học
Ở gia đình, mỗi HS cần có “góc học tập”cần thoáng, mát, đầy đủ ánh sáng
để tạo cảm giác thoải mái trong khi học bài.
Cha mẹ quan tâm, hướng dẫn con em mình tự lập thời gian biểu ở nhà và
thực hiện theo.
10
Góc học tập thoáng mát của em Vinh và Ánh.
Tôi và phụ huynh thường xuyên chia sẻ tình hình học tập của HS qua
nhóm zalo chung hoặc riêng, gọi điện hoặc gặp trực tiếp hướng dẫn phụ huynh
giúp HS tự chủ trong học tập.
Cha mẹ cần thường xuyên khuyến khích, động viên, chia sẻ, tôn trọng ý
kiến của con, không áp đặt con.
IV. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CỦA SÁNG KIẾN
- Sáng kiến này đã được tôi áp dụng trong quá trình giảng dạy lớp 4B –
Trường Tiểu học Hoàng Ninh.
- Có thể áp dụng cho tất cả các khối, lớp trong trường. Và nhân rộng ra
các trường khác trên địa bàn trong huyện.
V. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN
Sau khi áp dụng các biện pháp trên, tôi nhận thấy học sinh của mình ngày
càng tiến bộ hơn. Các học sinh đã tự chủ trong học tập. Các em có tư duy phân
tích, tổng hợp và lập sơ đồ tư duy rất tốt để tổng kết bài học. Trong các tiết học,
HS đã tự mình đưa ra ý kiến rất sôi nổi. HS tự tìm tòi, khám phá kiến thức mới
và thường xuyên đưa ra những câu hỏi để thảo luận với cô giáo và các bạn trong
giờ học.
11
Hình ảnh các em có tiến bộ trong học tập, tôi đã thưởng cho các em vào giờ sinh hoạt
lớp. Trên môi các em là những nụ cười tỏa sáng ví dụ em: Quang, em Hoàng, Lan,..
Không khí học tập của lớp rất sôi nổi, không bị gò bó, các em hăng hái
phát biểu ý kiến cá nhân của mình.
Điều đặc biệt là các em rất thích đọc sách.
Kết quả cuối năm, tôi thống kê được cụ thể về năng lực tự chủ trong học
tập lớp 4B, trường Tiểu học Hoàng Ninh, năm học 2021-2022 như sau:
Mức độ Số học sinh Tỉ lệ (%)
HS tự chủ trong học tập cao 23 69,7
HS tự chủ trong học tập chưa cao 10 30,3
HS chưa tự chủ trong học tập 0 0
12
Lớp tôi được nhà trường đánh giá là lớp có nền nếp, có kỉ luật, tích cực
tham gia vào các hoạt động chung và có tinh thần sáng tạo khi tham gia hoạt
động tập thể.
Chi đội 4B cũng là một trong những chi đội có nhiều bạn tham gia mua,
đọc và làm theo báo Đội, hưởng ứng tốt các phong trào của Đội.
Phần III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN
Việc bồi dưỡng và phát huy năng lực tự chủ cho học sinh lớp 4 là việc
làm thiết thực và cần phải được chú trọng. Thông qua việc tự học, các em phát
triển óc tư duy, sáng tạo, hình thành phẩm chất người lao động trong thời đại
mới: năng động, sáng tạo, tự chủ.
II. KIẾN NGHỊ
Hình thành thói quen tự học, tự chủ trong học tập có kế hoạch, có kết quả
cho học sinh là nhiệm vụ quan trọng của giáo viên. Nó đòi hỏi mỗi giáo viên cần
thường xuyên trau dồi kiến thức, thay đổi phương pháp phù hợp với đối tượng
học sinh, kiên trì, tỉ mỉ, dành nhiều thời gian quan tâm học sinh, phối kết hợp
giữa gia đình với các đoàn thể của trường tạo cho HS phát huy hết năng lực của
mình.
Trên đây là sang kiến “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 phát triển
năng lực tự chủ trong học tập”. Tôi đã áp dụng biện pháp với học sinh lớp tôi
chủ nhiệm đạt hiệu quả rõ rệt. Tôi mong muốn chia sẻ sáng kiến này tới các bạn
đồng nghiệp ngoài trường cùng áp dụng để nâng cao chất lượng công tác chủ
nhiệm lớp.
Tuy nhiên, khi trình bày, sáng kiến không thể tránh khỏi thiếu sót. Rất
mong nhận được sự giúp đỡ, góp ý bổ sung của Ban giám hiệu nhà trường, các
cấp quản lý giáo dục để bản sáng kiến phát huy hiệu quả hơn nữa.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
“Đây là sáng kiến của bản thân tôi viết, không sao chép nội dung hoặc
vi phạm bản quyền của người khác.”
Nếnh, ngày 10 tháng 05 năm 2022
TÁC GIẢ
(ký, ghi rõ họ và tên)
Nguyễn Thị Huyền
13
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT ngày 04/09/2020 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục thì chúng ta đang dần áp dụng kết hợp với thông tư 22/2016/TT-
BGDĐT ngày 22/09/2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục để đánh giá HS tiểu học.
2. Khái nện tự chủ trên Internet
3. Hình ảnh về một số hoạt động của HS, tin nhắn trao đổi với phụ huynh
học sinh.
MỤC LỤC
14
Đề mục Trang
Phần I: MỞ ĐẦU 1
I. LÝ DO VIẾT SÁNG KIẾN 1
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng 2
2. Phạm vi
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA SÁNG KIẾN 2
Phần II: NỘI DUNG 4
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC TỰ CHỦ TRONG HỌC TẬP
CỦA HỌC SINH 4
1. Cơ sở lý luận
2. Cơ sở thực tiễn 4
II. THỰC TRẠNG VỀ VIỆC TỰ CHỦ TRONG HỌC TẬP
4
CỦA HỌC SINH
III. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 6
IV. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CỦA SÁNG KIẾN 14
V. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN 15
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
17
15
16
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_lop_4_phat_trien_nang_luc_tu.pdf



