Một số biện pháp gây hứng thú cho trẻ khi làm thí nghiệm trong hoạt động khám phá khoa học tại lớp 3-4 tuổi C4 ở Trường Mầm non Quang Châu
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số biện pháp gây hứng thú cho trẻ khi làm thí nghiệm trong hoạt động khám phá khoa học tại lớp 3-4 tuổi C4 ở Trường Mầm non Quang Châu, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO VIẾT SÁNG KIẾN
Giáo dục mầm non là ngành giáo dục hết sức quan trọng trong hệ thống
giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện nhân cách trẻ. Đến
trường trẻ được học, được chơi, được tiếp xúc với nhiều bạn, được sống trong
tình thương của cô giáo, được khám phá thế giới bí ẩn xung quanh. Trường mầm
non chính là tổ ấm thứ hai của trẻ.
Trẻ mẫu giáo “chơi mà học, học mà chơi”. Trẻ rất hiếu động, tò mò, ham
muốn học hỏi, tìm hiểu thế giới xung quanh. Trong khi chơi, trẻ thực sự học để
lĩnh hội các khái niệm ban đầu hoặc các tri thức tiền khoa học. Qua đó hình
thành bước đầu của phẩm chất đạo đức, khuyến khích việc khám phá khoa học
và làm chủ những kiến thức công nghệ trong thời đại mới.
Khám phá khoa học là phương tiện để giao tiếp và làm quen với môi
trường xung quanh, để giao lưu và bày tỏ nguyện vọng của mình hình thành và
nhận thức sự vật, hiện tượng xung quanh mà giáo dục thái độ ứng xử đúng đắn
với thiên nhiên, với xã hội cho trẻ. Thông qua môn học này hình thành cho trẻ kĩ
năng quan sát, tư duy, phân tích tổng hợp khái quát. Khám phá khoa học với trẻ
mầm non là quá trình tham gia các hoạt động thăm dò, tìm hiểu thế giới tự nhiên
qua đó giúp trẻ được hoạt động và tự phục vụ bản thân. Những công việc đó có
thể sẽ là bài học trải nghiệm tốt cho trẻ về khoa học.
Trẻ mầm non rất thích tìm hiểu, khám phá môi trường xung quanh, bởi
thế giới xung quanh thật bao la rộng lớn, có biết bao điều mới lạ hấp dẫn và còn
có bao lạ lẫm khó hiểu, trẻ tò mò muốn biết, muốn được khám phá.
Tổ chức thí nghiệm trong hoạt động khám phá khoa học đòi hỏi trẻ phải
sử dụng tích cực các giác quan chính vì vậy sẽ phát triển ở trẻ năng lực quan sát,
khả năng phân tích, so sánh, tổng hợp Nhờ vậy khả năng cảm nhận của trẻ sẽ
nhạy bén, chính xác, những biểu tượng, kết quả trẻ thu nhận được trở nên cụ thể,
sinh động và hấp dẫn hơn. Qua những thí nghiệm nhỏ trẻ được tự mình thực
hiện trong độ tuổi mầm non sẽ hình thành ở trẻ những biểu tượng về chính là cơ
sở khoa học sau này của trẻ.
Chính vì những lí do trên, để giúp trẻ hứng thú tiếp cận và học tốt hoạt
động khám phá khoa học tôi luôn trăn trở nghiên cứu làm thế nào để tạo hứng
thú cho trẻ tham gia hoạt động khám phá khoa học một cách tốt nhất. Vì vậy bản
thân tôi đã nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp gây hứng thú cho trẻ khi làm
thí nghiệm trong hoạt động khám phá khoa học tại lớp 3-4 tuổi C4 ở Trường
Mầm non Quang Châu” nhằm giúp trẻ hứng thú, tích cực tham gia vào các hoạt 2
động một cách chủ động, tích cực hơn, thu hút trẻ tham gia vào hoạt động khám
phá, với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao chất lượng
giáo dục cho trẻ mầm non.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Khi thực hiện đề tài này bản thân tôi đặt ra mục đích đưa các thí nghiệm
đơn giản, phù hợp vào hoạt động khám phá khoa học cho trẻ ở lứa tuổi mầm non
như sau:
+ Trẻ biết thực hành đầy đủ các bước trong hoạt động thí nghiệm mà cô
đưa ra một cách sáng tạo;
+ Phát triển hài hòa các kĩ năng quan sát, phán đoán, thực hành, tư
duy, nhằm phát triển phẩm chất, năng lực, phát huy tính tích cực sáng tạo của trẻ;
+ Khơi gợi hứng thú, tinh thần ham học hỏi của trẻ trong hoạt động khám
phá khoa học;
+ Giúp trẻ tích lũy được kiến thức, kĩ năng về tự nhiên, giúp trẻ được phát
triển về các mặt: Nhận thức – Ngôn ngữ – Thể chất – Tình cảm – Thẩm mỹ. Khi
trẻ được thực hành các thí nghiệm, phát triển ở trẻ các mặt: Khoa học - Công
nghệ - Kỹ thuật - Toán học. Thông qua đó trẻ sẽ được phát triển toàn diện nhân
cách, phát triển phẩm chất năng lực, tinh thần sáng tạo, làm việc nhóm Đây là
mục đích hàng đầu của giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng.
- Giáo viên linh hoạt và sáng tạo hơn trong quá trình tổ chức các hoạt
động khám phá khoa học, kích thích trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động khám phá.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Tôi đã chọn 19 trẻ lớp mẫu giáo 3-4 tuổi C4 - Khu Trung tâm - Trường
Mầm non Quang Châu làm đối tượng nghiên cứu một số biện pháp gây hứng thú
cho trẻ khi làm thí nghiệm trong hoạt động khám phá khoa học.
IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu tại lớp mẫu giáo 3-4 tuổi C4 - Khu Trung tâm - Trường
Mầm non Quang Châu – Thị Xã Việt Yên - Bắc Giang;
- Thời gian nghiên cứu năm học 2024 – 2025.
V. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn khi làm thí nghiệm trong hoạt động
khám phá khoa học;
- Khảo sát, tìm hiểu thực trạng của hoạt động khám phá khoa học thông
qua tổ chức các hoạt động thí nghiệm; 3
- Đưa ra các giải pháp gây hứng thú cho trẻ khi làm thí nghiệm trong hoạt
động khám phá khoa học;
- Thống kê số liệu kết quả đạt được khi thực hiện các giải pháp;
- Đề xuất cách tổ chức hoạt động khám phá khoa học khi cho trẻ thực
hành thí nghiệm.
VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp nghiên cứu lý luận;
- Phương pháp điều tra thực trạng;
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn;
- Phương pháp quan sát, dùng lời;
- Phương pháp đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm.
VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA SÁNG KIẾN
Đi sâu nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp gây hứng thú cho trẻ khi làm
thí nghiệm trong hoạt động khám phá khoa học tại lớp 3-4 tuổi C4 ở Trường
Mầm non Quang Châu”, tôi nhận thấy bước đầu có những thành công rõ nét, để
đạt được hiệu quả trong hoạt động khám phá khoa học, bản thân đã sử dụng một
số giải pháp mang tính khả thi, phù hợp với tình hình thực tế ở lớp.
- Giải pháp mới giúp trẻ ham mê khám phá khoa học phát triển tính sáng
tạo và mở rộng vốn kiến thức cho trẻ.
- Dùng giải pháp mới giúp phát triển tư duy, ngôn ngữ củng cố các kỹ năng
nhận thức của trẻ.
- Rèn khả năng tri giác, phân tích, so sánh tổng hợp ở trẻ.
- Để hoàn thành được đề tài này, tôi có những điểm mới sau:
+ Điểm mới nghiên cứu dựa trên những cơ sở lý luận khoa học của việc
cho trẻ làm thí nghiệm trong hoạt động khám phá khoa học.
+ Phân tích thực trạng cho trẻ khi làm thí nghiệm trong hoạt động khám
phá khoa học ở trẻ mẫu giáo lớp 3-4 tuổi C4 ở Trường Mầm non Quang Châu
+ Từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể để giúp trẻ hứng thú hơn, đạt kết quả
cao hơn khi làm thí nghiệm trong hoạt động khám phá khoa học.
4
PHẦN II: NỘI DUNG
I. CƠ SỞ VIẾT SÁNG KIẾN
1. Cơ sở lý luận
Theo tâm - sinh lý học trẻ em, lứa tuổi 3 - 6 tuổi là lứa tuổi trẻ thích được
trải nghiệm, được tìm hiểu về thế giới xung quanh, đặc biệt trẻ thích được đặt
câu hỏi, được chính mình tham gia các hoạt động. Để đáp ứng được mục tiêu đổi
mới, ngành giáo dục nói chung, cấp học mầm non nói riêng đang linh hoạt lồng
ghép nhiều phương pháp giáo dục tiên tiến như: Montesri, đa giác quan, giáo
dục sớm, steam, giáo dục phát triển lấy trẻ làm trung tâm, nhằm phát triển
phẩm chất năng lực cho trẻ. Với chương trình giáo dục tiên tiến như vậy, trẻ em
không chỉ được trau dồi kiến thức chuyên môn mà còn có nhiều cơ hội phát triển
bản thân, kích thích tính tự chủ, chủ động, sáng tạo của trẻ mầm non. Và với
những phương pháp này trẻ hoàn toàn được chủ động sáng tạo, được tìm tòi
khám phá thế giới xung quanh mình.
Trong thực tế, các giáo viên mầm non đã rất quan tâm, đã biết cách tổ
chức cho trẻ tham gia vào các hoạt động khám phá khoa học đạt được một số
hiệu quả nhất định. Hoạt động khám phá khoa học sử dụng biện pháp trải
nghiệm, thí nghiệm trong giáo dục mầm non hầu như vẫn chỉ xem như là một
phương pháp kèm theo ít được chú ý đến, thông qua sáng kiến kinh nghiệm này
tôi mong muốn thí nghiệm được đưa vào như một phần tất yếu của tiết học
khám phá. Nhưng thực tế cũng tồn tại một vấn đề khác, đó là các giáo viên
thường rất ngại việc tổ chức thí nghiệm trong quá trình giảng dạy, nhiều giáo
viên chỉ nghĩ đơn thuần các hoạt động khám phá chỉ đơn giản là trò chuyện, đàm
thoại, xem tranh, xem video hay các giáo viên cho rằng trải nghiệm, thí nghiệm
quá phiền phức và vẫn chưa có những phương pháp phù hợp khi tổ chức, số
lượng các thí nghiệm.
Nhiều nội dung thí nghiệm đưa vào tổ chức hoạt động giáo dục đã đổi mới
nhưng vẫn chưa có tính hấp dẫn, sáng tạo, thu hút trẻ, các thí nghiệm lại được
thiết kế sẵn mang nhiều tính khuôn phép. Giáo viên hầu như còn đóng vai trò là
người chủ đạo trên tiết học, mà chưa cho trẻ được thỏa sức sáng tạo và trẻ ít được
tổ chức làm thí nghiệm.
Giáo viên còn lúng túng trong việc thiết kế và sử dụng hoạt động trải
nghiệm như một giờ học chính, thí nghiệm chưa thật sự linh hoạt, chưa mang
tính phát triển, chưa phù hợp với đặc điểm cá nhân trẻ và điều kiện thực tiễn của
trường lớp, địa phương. Từ đó dẫn tới các kiến thức của trẻ nắm bắt được chưa
chắc chắn, trẻ hay quên, hay nhầm lẫn và hứng thú của trẻ chưa cao, dẫn tới hiệu
quả giáo dục chưa thực sự tốt. Điều đó cũng có nghĩa là chúng ta chưa hình 5
thành được cho trẻ một thói quen chủ động, tự khám phá về thế giới xung
quanh. Đứng trước vấn đề trên, là một giáo viên mầm non đang công tác trong
ngành giáo dục, bản thân tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Một số biện pháp
gây hứng thú cho trẻ khi làm thí nghiệm trong hoạt động khám phá khoa học
tại lớp 3-4 tuổi C4 ở Trường Mầm non Quang Châu” làm đề tài nghiên cứu.
2. Cơ sở thực tiễn
Qua nhiều năm được Ban giám hiệu nhà trường phân công chủ nhiệm độ
tuổi mẫu giáo, được trực tiếp tiếp xúc với trẻ, được dạy trẻ học trẻ chơi, tôi nhận
thấy rằng khi trẻ tham gia vào các hoạt động khám phá khoa học, trẻ rất hứng
thú, thích tò mò, ham hiểu biết về các sự vật hiện tượng xung quanh, nhờ được
học được tiếp xúc, với các sự vật hiện tượng đó thông qua những đồ dùng, mới
lạ, hấp dẫn, đặc biệt là những đồ dùng sáng tạo mà do tự tay cô và trẻ tự làm
ra, nhằm dẫn dắt trẻ cảm nhận được những giá trị nội dung, về các sự vật hiện
tượng xung quanh trẻ và giúp trẻ có khả năng mô tả cuộc sống xung quanh
phong phú hấp dẫn. Qua việc quan sát trò chuyện giúp trẻ trao đổi những điều
được nghe, được thấy và bộc lộ những suy nghĩ của mình. Song trong quá trình
giảng dạy và theo dõi kết quả từ những năm học trước tôi nhận thấy khả năng
tạo hứng thú cho trẻ ở hoạt động khám phá khoa học của bản thân tôi còn hạn
chế rất nhiều. Còn đối với trẻ thì khả năng nhận biết về các đối tượng và sự vật
xung quanh còn chưa rõ nét, chưa nói lên được các đặc điểm nổi bật. Chính vì
vậy mà tôi thiết nghĩ cần phải đưa ra “Một số biện pháp gây hứng thú cho trẻ
khi làm thí nghiệm trong hoạt động khám phá khoa học tại lớp 3-4 tuổi C4 ở
Trường Mầm non Quang Châu”
2.1.Thuận lợi
- Được ban giám hiệu nhà trường quan tâm tạo mọi điều kiện để tôi thực
hiện tốt qui chế chuyên môn;
- Được sự ủng hộ tin yêu của phụ huynh học sinh;
- Được chị em đồng nghệp luôn nhiệt tình giúp đỡ trong công tác chuyên môn;
- Được sự chỉ đạo của Ban giám hiệu về lịch trình và kế hoạch tổ chức các
hoạt động giáo dục, các hoạt động giao lưu, các hoạt động ngoại khóa;
- Trẻ đến lớp đạt tỷ lệ chuyên cần cao;
- Giáo viên nắm vững phương pháp và hình thức dạy, được bồi dưỡng
thường xuyên va tham gia học tập các lớp chuyên đề do trường, huyện tổ chức
đầy đủ;
- Giáo viên trong lớp có tinh thần đoàn kết, có sự phối hợp với nhau trong
công tác giảng dạy. 6
2.2. Khó khăn
- Cơ sở vật chất đồ dùng trang thiết bị phục vụ dạy trẻ làm thí nghiệm
trong hoạt động khám phá khoa học chưa được đầy đủ.
- Việc vận dụng phương pháp tổ chức dạy trẻ làm thí nghiệm trong hoạt
động khám phá khoa học của giáo viên còn gò bó, chưa linh hoạt sáng tạo phù
hợp với trẻ.
- Một số trẻ còn mải chơi, hiếu động chưa hứng thú tập trung chú ý trong
giờ học.
- Trẻ hứng thú tham gia hoạt động này chưa cao nên đa phần trẻ chưa trả
lời được hết câu hỏi của cô.
- Một số ít phụ huynh chưa nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động khám
phá khoa học nên chưa quan tâm đúng mức đến việc học của trẻ, chưa hiểu hết
việc giáo dục phát triển tính khám phá, tò mò của trẻ với các hiện tượng và môi
trường xung quanh như thế nào.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT
1. Tình hình khảo sát
Dựa trên đặc điểm nhận thức, tâm sinh lý mỗi trẻ mỗi năm học hay mỗi
độ tuổi sẽ khác nhau, chính vì thế ngay từ đầu năm học tôi và đã tiến hành khảo
sát kết quả trên trẻ dựa trên 3 tiêu chí lớn:
- Sự hứng thú, yêu thích tham gia hoạt động khám phá khoa học;
- Tính tích cực, chủ động trong khám phá khoa học;
- Kết quả trẻ đạt được trong quá trình thực hiện hoạt động khám phá khoa học.
Tôi đã nhận về các kết quả như sau:
40% 35%
60%
65%
Trẻ hứng thú, yêu thích tham gia hoạt Trẻ tích cực, chủ động hơn trong hoạt
động khám phá khoa học động khám phá khoa học
Trẻ chưa hứng thú tham gia hoạt động Trẻ vẫn còn thụ động trong hoạt động
khám phá khoa học khám phá khoa học 7
30%
70%
Kết quả trẻ đạt được trong quá trình thực
hành hoạt động khám phá khoa học
Trẻ chưa thực hiện được
2. Thuận lợi
- Về phía nhà trường: Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, giúp đỡ,
tạo các điều kiện tốt nhất để chăm sóc - giáo dục trẻ;
- Về phía phụ huynh: Lớp học luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của
các bậc cha mẹ học sinh trong việc phối kết hợp với nhà trường để giáo dục trẻ
đạt hiệu quả cao hơn;
- Về phía giáo viên: Bản thân là giáo viên trẻ, nhiệt tình, tích cực nghiên
cứu tài liệu để nâng cao trình độ chuyên môn cho bản thân;
- Về phía trẻ: Đa số trẻ trong lớp đều có sức khoẻ bình thường, chăm chỉ đi
học chuyên cần và tích cực tham gia vào các hoạt động.
3. Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi trên, trong công tác giáo dục vẫn còn gặp một
số khó khăn như sau:
- Về phía nhà trường: Đồ dùng đồ chơi tuy đã được đầu tư song chưa
phong phú về chủng loại, chưa có nhiều hình ảnh đẹp, sinh động để trẻ quan sát.
- Về phía phụ huynh: Đa số phụ huynh làm công nhân gửi con ở nhà
cho ông bà chăm sóc, nên sự phối kết hợp với giáo viên chủ nhiệm chưa
được hiệu quả.
- Về phía giáo viên: Giáo viên còn ôm đồm nhiều nội dung, nặng về cung
cấp kiến thức hơn là tạo cơ hội cho trẻ tham gia các thí nghiệm.
- Về phía trẻ: Nhận thức của trẻ không đồng đều, chưa mạnh dạn, tự tin,
thao tác thực hiện theo yêu cầu của cô, tương tác với cô còn hạn chế. 8
III. ĐỀ XUẤT
1. Các giải pháp thực hiện
1.1.Giải pháp 1: Tạo môi trường, đồ dùng học liệu cho trẻ tiến hành thí
nghiệm trong hoạt động khám phá khoa học
Như chúng ta đã biết, tổ chức hoạt động khám phá khoa học theo nguyên
tắc lấy trẻ làm trung tâm hay phát triển phẩm chất năng lực của trẻ chính là việc
để trẻ được thỏa sức trải nghiệm, tham gia vào chính quá trình học tập của mình
mà giáo viên chỉ là người hướng dẫn.
Trên hết để khơi gợi sự hứng thú, tò mò, thích học hỏi của trẻ thì đòi hỏi
phải có môi trường và đồ dùng học liệu đẩy đủ, sáng tạo, mới mẻ. Việc
tạo môi trường trong và ngoài lớp thuận lợi, hấp dẫn, đồ dùng học liệu đa dạng,
phong phú sẽ lôi cuốn trẻ tham gia khám phá, yêu thích hoạt động khám phá vì
hoạt động khám phá không chỉ diễn ra trong giờ học mà diễn ra mọi nơi mọi lúc,
có thể được tổ chức trong hoạt động góc, hay trong hoạt động ngoài trời. Mà các
giờ học cũng không nhất thiết phải dạy ở trên lớp mà sẽ tùy vào từng hoạt động
cụ thể mà giáo viên sẽ hướng trẻ đến một góc bất kì hay ở trong lớp, ngoài trời.
- Môi trường trong lớp: Ngay từ đầu năm học bản thân tôi đã cùng giáo
viên trong lớp thực hiện trang trí lớp theo hướng mở. Các góc cho trẻ hoạt động
được bố trí thuận tiện, hợp lý, linh hoạt, đáp ứng nhu cầu hứng thú hoạt động
trải nghiệm của trẻ, có đa dạng đồ dùng, đồ chơi, cho trẻ hoạt động, với đồ chơi
đa dạng phong phú theo hướng trải nghiệm dưới nhiều hình thức hấp dẫn trẻ.
Ví dụ: Ở góc Khám phá trải nghiệm sắp xếp các đồ dùng thí nghiệm như:
Ly thí nghiệm, phễu, màu nước, bông, xốp, muối, đường luôn được sắp xếp
khoa học, ngăn nắp, dễ thấy, dễ lấy.
Hình ảnh: Góc khám phá 9
- Môi trường ngoài lớp: Một số hoạt động khám phá có thể tổ chức ở ngoài
lớp học.Tùy thuộc vào các hoạt động khám phá khác nhau, mà môi trường ngoài
trời, góc thiên nhiên, các khu trải nghiệm sẽ phù hợp hơn với trong lớp và cũng
sẽ tạo cho trẻ một không gian mới lạ, khơi gợi sự hứng thú của trẻ. Chính vì vậy,
môi trường ngoài lớp, các khu trải nghiệm, cũng được chú tâm, trang trí.
Ví dụ: Thí nghiệm “Tan và không tan” trong chủ đề nước và các hiện tượng
tự nhiên được thực hiện ở ngoài trời vì thí nghiệm này cần nước và trẻ cần thực
hiện theo nhóm, nhiều lần nên việc thực hiện ngoài trời sẽ giúp trẻ dễ dàng lấy
nước, sạch sẽ và thoáng mát hơn trong lớp rất nhiều.
- Đồ dùng học liệu: Ngoài việc tạo môi trường để trẻ khám phá thì đồ dùng
học liệu của hoạt động khám phá khoa học luôn phải được chuẩn bị đầy đủ,
chỉnh chu, và có tính sáng tạo. Giáo viên có thể tự tạo những đồ dùng học liệu
theo hướng vật liệu mở phục vụ cho hoạt động khám phá như vỏ hộp sữa, chai
nhựa, bìa catton, nắp chai,
- Một số đồ trải nghiệm, thí nghiệm phải được thay đổi theo từng chủ đề
khác nhau.
Sau khi thực hiện giải pháp môi trường lớp học được xây dựng sáng tạo và
hấp dẫn trẻ, các bé lớp tôi đã rất tích cực tham gia vào các hoạt động khám phá,
qua đó vốn hiểu biết cho trẻ về thế giới xung quanh, phát huy được khả năng tư
duy, sáng tạo của trẻ.
1.2. Giải pháp 2: Tổ chức các hoạt động trải thí nghiệm trong hoạt
động khám phá khoa học
Khả năng nhận thức của trẻ mầm non phát triển thông qua việc tiếp xúc
tìm hiểu, khám phá quan tâm đến môi trường xung quanh. Thông qua những câu
hỏi về môi trường xung quanh trẻ lĩnh hội được những kỹ năng tư duy, quan sát,
so sánh, phân loại, dự đoán. Với nhiệm vụ này đòi hỏi chúng ta phải hiểu được
nắm được đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, biết được trẻ khám phá môi trường xung
quanh bằng cách nào? Bằng kinh nghiệm sống, bằng các giác quan, bằng sự tư
duy độc lập của mình hay bằng sự khai thác gợi mở của giáo viên. Đặc biệt
trong hoạt động khám phá tôi thường cho trẻ “Suy luận ngược” thay vì giới
thiệu đề tài hay nói cho trẻ kết quả của quá trình khám phá tôi sẽ để trẻ tự
nghiệm ra chúng, tôi sẽ tạo những điều kiện cần thiết để trẻ tự tìm tòi khám phá,
khuyến khích trẻ tự tìm tòi khám phá, đưa ra các phát hiện, cách giải quyết và từ
đó trẻ là người đưa ra kết luận cuối cùng. 10
- Ví dụ: Thí nghiệm đồ chơi chìm nổi
+ Mục đích: Giúp trẻ biết xung quanh trẻ có rất nhiều đồ vật được làm từ
các chất liệu khác nhau. Có những vật khi thả xuống nước sẽ chìm và có những
vật khi thả xuống nước sẽ nổi. Phát triển tư duy cho trẻ thông qua việc phán
đoán và so sánh.
+ Chuẩn bị: 1 bể chơi với cát nước nước to, 4 chậu nước nhỏ hơn. Một số
đồ vật như: Gạch nhựa (trong góc xây dựng), những miếng gỗ, xốp, sỏi, kẹp sắt.
+ Cách tiến hành: Tôi hỏi trẻ về các đồ dùng đồ chơi mà tôi đã chuẩn bị.
Cho trẻ đoán xem khi thả xuống nước thì theo các con đồ chơi nào sẽ chìm, đồ
chơi nào sẽ nổi và vì sao? Sau đó tôi thả lần lượt các đồ chơi xuống nước và cho
trẻ nhận xét kết quả.
=> Khi trẻ nhận xét kết quả xong tôi giải thích cho trẻ biết: Xung quanh
chúng ta có rất nhiều đồ vật được làm từ các chất liệu khác nhau. Có những vật
khi thả xuống nước sẽ chìm và có những vật khi thả xuống nước sẽ nổi. Thường
những vật được làm bằng nhựa, xốp thì sẽ nhẹ hơn nên dễ dàng nổi lên trên mặt
nước. Còn những vật làm từ sắt, thủy tinh thì nặng hơn nên khi thả xuống nước
sẽ chìm.
- Ví dụ: Thí nghiệm sự đổi màu của nước
+ Mục đích: Trẻ biết được một số tính chất của nước ( không màu, không
mùi ). Trẻ biết được nước có thể chuyển sang các màu khác khi pha phẩm màu.
+ Chuẩn bị: Nước lọc, 3 cốc, thìa nhựa, đũa, khăn
+ Cách tiến hành: Hỏi trẻ: Cô có những đồ dùng gì? Khi cô đổ nước lọc
vào cốc nước có màu gì? Khi cô cho thêm màu nước vào cốc thì điều gì sẽ xảy
ra? Tại sao nước lại chuyển màu?
=> Khi trẻ nhận xét kết quả xong tôi giải thích cho trẻ biết: Khi cho màu
vào trong nước, nước đã hòa tan được phẩm màu và làm cho nước chuyển sang
màu khác. Tôi cho trẻ về nhóm làm thí nghiệm và quan sát kết quả.
- Ví dụ: Thí nghiệm trứng chìm trứng nổi
+ Mục đích: Trau dồi khả năng quan sát, khả năng phán đoán. Kích thích
tính tìm tòi, ham hiểu biết.
+ Chuẩn bị: 2 quả trứng sống, 2 cốc thủy tinh, nước lọc, muối, thìa.
+ Cách tiến hành: Cô hỏi trẻ các đồ dùng cô đã chuẩn bị, trẻ đoán xem cô
sẽ làm gì với những đồ dùng này? Một cốc cô sẽ cho muối vào khuấy đều, cốc
còn lại không cho gì, sau đó cô thả trứng vào 2 cốc, các con đoán xem điều gì sẽ
xảy ra. Cô cho trẻ thực hành và nêu nhận xét.
=> Khi trẻ nhận xét kết quả xong tôi giải thích cho trẻ biết: Quả trứng
trong cốc nước muối sẽ nổi lên trên mặt nước vì trứng nhẹ hơn nước muối,
nhưng quả trứng sẽ chìm trong nước lọc vì nó nặng hơn nước lọc. 11
+ Kết quả: Qua thí nghiệm trên trẻ lớp tôi hứng thú, tò mò và ham hiểu
hiết hơn. Thích thú với các thí nghiệm hơn.
- Ví dụ: Thí nghiệm thả thuyền giấy
+ Mục đích: Trẻ biết chiếc thuyền giấy có thể nổi trên mặt nước trong 1
khoảng thời gian nhất định. Rèn khả năng quan sát, suy đoán của trẻ.
+ Chuẩn bị: Mỗi trẻ 1 chiếc thuyền giấy, bể chơi cới cát nước.
+ Cách tiến hành: Cô cho trẻ nói tên đồ dùng cô đã chuẩn bị. Tôi hỏi trẻ:
nếu như cô thả chiếc thuyền giấy này xuống nước thì điều gì sẽ xảy ra? Sau đó
cho trẻ trải nghiệm thả thuyền giấy và quan sát.
=> Khi trẻ nhận xét kết quả xong tôi giải thích cho trẻ biết: Chiếc thuyền
giấy này có thể nổi trên mặt nước trong một khoảng thời gian, nếu để lâu nước
sẽ ngấm ướt giấy và thuyền sẽ chìm.
+ Kết quả: Thông qua thí nghiệm này đã kích thích được các nhu cầu
khám phá của trẻ. Trẻ hứng thú tham gia vào các hoạt động một cách hứng
thú hơn.
=> Và từ đó tôi rút ra: Các bước tiến hành thí nghiệm trong khám phá
khoa học:
- Xác định nội dung đề tài là gì?
- Mục đích yêu cầu của đề tài?
- Sử dụng phương pháp, biện pháp nào phù hợp để tiến hành?
- Các hoạt động trải nghiệm, thí nghiệm nào sẽ diễn ra?
- Với đề tài này cần phải chuẩn bị những gì?
- Lên giáo án cũng như cách tiến hành đầy đủ và cho trẻ thực hiện.
Sau khi áp dụng giải pháp này, bản thân tôi đã rút ra nhiều kinh nghiệm
cho bản thân khi tổ chức thí nghiệm trong hoạt động khám phá khoa học. Đã
biết lựa chọn các thí nghiệm, các hình thức phong phú và đa dạng lôi cuốn trẻ
tham gia vào hoạt động thí nghiệm mà không nhàm chán. Tôi đã tạo điều kiện
cho trẻ tiếp xúc, làm thí nghiệm với các sự vật hiện tượng và môi trường xung
quanh. Qua đó những tiết học nhẹ nhàng, linh hoạt, nhận thức của trẻ được mở
rộng, khả năng quan sát, suy luận, phán đoán, tri giác của trẻ phát triển tốt, đa số
trẻ thể hiện được tính tích cực, chủ động khi quan sát đối tượng, trong quá trình
quan sát trẻ nhanh nhẹn, linh hoạt hơn, vốn từ và khả năng diễn đạt của trẻ tốt hơn. 12
1.3. Giải pháp 3: Sử dụng các biện pháp hỗ trợ
Trong khám phá khoa học thí nghiệm có vai trò vô cùng quan trọng
nhưng bên cạnh đó còn là sự hỗ trợ, bổ sung của các biện pháp khác nhằm đưa
tiết học khám phá thành công nhất.
- Giải pháp sử dụng vật thật: Đối với trẻ mẫu giáo tư duy của trẻ là tư duy
hình tượng không thể dạy trẻ về một sự vật, một con vật hay đồ vậy nào đó khi
chỉ nói suông mà không đưa ra một hình ảnh nào để trẻ trực quan thì không thể
được. Nhưng nếu chỉ sử dụng tranh đơn thuần cho các tiết học thì cũng không
mang lại kết quả cao. Vì thế đối với trẻ phải sử dụng vật thật cho trẻ quan sát.
- Giải pháp sử dụng câu đố, đàm thoại, giải thích, trò chơi, công nghệ
thông tin: Câu đố chiếm một vai trò quan trọng trong công tác phát triển ngôn
ngữ cho trẻ. Sử dụng câu đố trong giờ học không chỉ nhằm củng cố kiến thức trẻ
về sự vật hiện tượng của thế giới xung quanh, phát triển ngôn từ mà còn giúp trẻ
hiểu được ngôn ngữ, hình ảnh của đồ vật. Ngoài ra giải pháp đàm thoại, áp dụng
công nghệ thông tin đã giúp tôi rất nhiều trong quá trình hướng dẫn trẻ giúp trẻ
hứng thú tập trung chú ý trong giờ học khơi gợi khả năng tư duy lôgic cho trẻ,
giải quyết được nhiều tình huống khó cho giáo viên.
Ví dụ: Với những đề tài giải thích sự vật hiện tượng thiên nhiên như gió,
mây và mưa. Với đề tài “Gió” để giúp trẻ cảm nhận và thấy đựơc một cách sống
động, rõ ràng, chính xác tôi lựa chọn những hình ảnh về gió: Gió nhẹ cây lá lao
xao, gió mạnh, gió bão, tôi sẽ cho trẻ xem và nghe tiếng gió thổi. Qua đó trẻ có
thể cảm nhận và biết được gió có ích như thế nào đối với môi trường, gió nhẹ thì
cây cối chuyển động như thế nào? Gió mạnh thì sự vật chuyển động ra sao?
- Tích hợp trong các hoạt động khác: Ngoài ra có thể tích hợp hoạt động
trải nghiệm, thí nghiệm vào các hoạt động khác như ngoài trời, hoạt động góc,
hoạt động ngoại khóa hay các buổi tham quan trải nghiệm để thí nghiệm, trải
nghiệm được thực hiện một các nhiều nhất và đạt hiệu quả cao nhất.
Qua việc sử dụng các giải pháp hỗ trợ, tôi thấy các con hứng thú tham gia
vào các hoạt động học hơn, trẻ mạnh dạn và tự tin, nhanh nhẹn, linh hoạt hơn
trong các hoạt động thí nghiệm khám phá khoa học. Đó cũng là động lực để tôi
rèn luyện phấn đấu nhằm giúp trẻ lớp mình phát triển toàn diện hơn.
1.4. Giải pháp 4: Phối kết hợp với phụ huynh để các hoạt động thí nghiệm
khám phá khoa học đạt kết quả cao.
Để giúp trẻ phát triển toàn diện thì việc phối kết hợp giữa nhà trường và
gia đình rất quan trọng. Ngay từ đầu năm học tôi đó xây dựng nội dung tuyên 13
truyền tới các bậc phụ huynh giúp các con thực hành thí nghiệm khám phá đạt
kết quả cao và nội dung được thể hiện như sau:
* Nội dung:
- Thông báo từng chủ đề các con đang học để các bậc phụ huynh nắm được;
- Lên kế hoạch trước về nội dung khám phá trong chủ đề;
- Vận động phụ huynh đóng góp các nguyên liệu: Vỏ hộp, chai lọ, xi
măng, cát để các thí nghiệm của trẻ được phong phú;
- Trao đổi trực tiếp và hướng dẫn phụ huynh cùng làm tại nhà với trẻ khi
trẻ có yêu cầu với những thí nghiệm khó.
* Hình thức:
- Thông báo qua góc tuyên truyền của lớp, qua 2 nhóm Facebook và Zalo;
- Gửi những nội dung về kế hoạch khám phá khoa học qua tin nhắn tới
các phụ huynh để các bậc phụ huynh nắm bắt;
- Phát tờ rơi những kế hoạch quan trọng trong chủ đề;
- Trao đổi trực tiếp với các bậc phụ huynh trong các giờ đón, trả trẻ để
phụ huynh hiểu được các nội dung và yêu cầu thực hiện trong chủ đề.
Hình ảnh: Phụ huynh trao đổi với phụ huynh
Sau khi áp dụng biện pháp này, tôi thấy phụ huynh cảm thấy hài lòng với
kết quả của con mình đạt được, tin tưởng vào trẻ có thể làm được một số thí 14
nghiệm đơn giản. Từ đó tiếp tục quan tâm ủng hộ đóng góp những nguyên vật
liệu, để giáo viên và trẻ làm đồ dùng đồ chơi phục vụ cho trẻ ở lớp.
2. Khả năng áp dụng của sáng kiến
- Các giải pháp này tôi áp dụng trong lớp 3 tuổi C4 và đã đạt được các kết
quả tốt, được trẻ yêu thích, hứng thú khi tham gia hoạt động, tôi đã thấy được
hiệu quả của sáng kiến. Tôi nghĩ, với sự thành công như vậy, bản sáng kiến này
sẽ áp dụng hiệu quả vào việc nâng cao hứng thú cho trẻ 3-4 tuổi trong hoạt động
khám phá khoa học thông qua tổ chức các thí nghiệm cho trẻ ở trường mầm non.
Và nó sẽ khả quan khi áp dụng được cho các khối lớp 3 tuổi, 5 tuổi toàn trường
và có thể được nhân rộng sang các trường bạn trong toàn huyện, toàn tỉnh.
3. Hiệu quả của sáng kiến
3.1. Những kết quả cụ thể đạt được
3.1.1. Đối với trẻ
- 98% các thí nghiệm đã gây được hứng thú, thu hút trẻ;
- Trẻ chú ý hơn, sáng tạo và tích cực hơn, phát triển phẩm chất - năng lực
của trẻ;
- Các thí nghiệm đã cụ thể hóa, trực quan hóa các kiến thức khoa học trừu
tượng, giúp trẻ tiếp thu dễ dàng hơn;
- Hầu hết tất cả các trẻ đều háo hức chờ đón những giờ thí nghiệm, tập
trung cao độ để quan sát hiện tượng xảy ra, kiên nhẫn chờ đón kết quả. Trẻ rất tự
tin khi phát biểu và nói lên ý kiến của mình.
Nhìn vào biểu đồ ta thấy có sự chênh lệnh kết quả trẻ đạt được giữa trước
khi áp dụng và sau khi áp dụng biện pháp. Cột màu tím biểu thị cho trước khi áp
dụng, màu cam biểu thị sau khi áp dụng biện pháp, ở tất cả các nội dung như sự
hứng thú, yêu thích của trẻ trong hoạt động, trẻ tích cực...đều tăng lên rất nhiều
so với trước khi áp dụng biện pháp.
Qua bảng phân tích khảo sát của trẻ có sự tiến bộ rõ rệt mà tôi đã tiến
hành khảo sát: 15
120%
98% 97%
100% 90%
80%
60%
40%
35%
40% 30%
20%
0%
Sự hứng thú, yêu Trẻ tích cực, chủ Kết quả trẻ đạt được
thích của trẻ trong động hơn trong quá trong quá trình thực
Đầu nămhoạt học động (Khi chưa áp dụngtrình biệnhọc pháp) hànhSau khi đã áp dụng biện pháp
3.1.2. Đối với giáo viên
- Tạo cảm hứng cho giáo viên đổi mới đưa thí nghiệm vào trong hoạt
động khám phá khoa học cũng như hoạt động học;
- Là nguồn tài liệu thí nghiệm cho các giáo viên mầm non.
3.1.3. Đối với phụ huynh
- 100% phụ huynh quan tâm và ủng hộ các kế hoạch của giáo viên lớp;
- Rất nhiều phụ huynh phấn khởi khi thấy trẻ được tham gia thí nghiệm
khám phá khoa học;
- Nhiều phụ huynh đã cùng trẻ thực hiện được các thí nghiệm tại nhà:
Pháo hoa trong nước, thổi bóng bằng chai, khám phá vật chìm, nổi...;
- Phụ huynh đã ủng hộ nhiệt tình các nguyên vật liệu để phục vụ cho các
giờ hoạt động khám phá khoa học của trẻ trên lớp;
- Nhờ có sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo viên và phụ huynh mà những giờ
hoạt động khám phá của trẻ trở nên phong phú và hấp dẫn hơn, từ đó mà tiết học
của trẻ đạt được kết quả cao trẻ rất hứng thú và sôi nổi trong giờ học. 16
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN
- Hoạt động thí nghiệm là một cách học thông qua thực hành thực tế, qua
đây trẻ được cung cấp kiến thức, kỹ năng từ đó hình thành những năng lực,
phẩm chất và kinh nghiệm, đáp ứng được yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy
học lấy trẻ làm trung tâm hiện nay.
- Việc ứng dụng thí nghiệm trong hoạt động khám phá cho trẻ là rất cần
thiết. Nhằm giúp trẻ tích lũy được kiến thức, kĩ năng về tự nhiên và xã hội, giúp
trẻ được phát triển về các mặt: Đức – Trí – Thể – Mĩ. Thông qua việc tổ chức
cho trẻ được hoạt động khám phá, trẻ sẽ được phát triển toàn diện các mặt, nhân
cách được hình thành và phát triển.
- Việc làm này không chỉ có ý nghĩa lớn lao đối với các nhà nghiên cứu
mà đối với các trường Mầm non phải đặc biệt là các giáo viên mầm non cần nắm
vững những nội dung chương trình và thường xuyên mở rộng nội dung chương trình.
II. KIẾN NGHỊ
- Qua việc nghiên cứu và tổ chức các thí nghiệm cho trẻ mầm non hoạt
động khám phá khoa học theo hướng đổi mới, tôi có một số ý kiến đề xuất sau:
1. Đối với nhà trường
- Cho phép được tổ chức thí nghiệm đã được nghiên cứu trong phạm vi trường;
- Tạo điều kiện cho giáo viên trong trường tham gia kiến tập, thăm quan,
dự các lớp tập huấn để giáo viên có cơ hội học hỏi thêm kinh nghiệm tổ chức
các thí nghiệm trong hoạt động khám phá khoa học cho trẻ;
- Tăng cường đầu tư kinh phí, thời gian, đồng thời hướng dẫn, động viên,
khuyến khích giáo viên tích cực nghiên cứu, sáng tạo ra các hoạt động thí
nghiệm mới, hấp dẫn trẻ và có hiệu quả để phục vụ cho nội dung giảng dạy, để
bài giảng thêm sinh động.
2. Đối với phòng giáo dục
- Tổ chức các hoạt động dạy mẫu về đề tài khám phá khoa học ở các lứa
tuổi mầm non để giáo viên chúng tôi học tập và áp dụng vào thực tế nhóm lớp
mình phụ trách;
- Hỗ trợ những tài liệu hướng dẫn thực hiện chuyên đề khám phá khoa
học để giáo viên chúng tôi học tập, nghiên cứu, áp dụng vào thực tế giảng dạy.
Trên đây là một số giải pháp áp dụng vào việc tổ chức hoạt động thí
nghiệm nâng cao hứng thú cho trẻ 3-4 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học.
Trong quá trình thực hiện còn có những hạn chế nhất định mong nhận được sự 17
đóng góp bổ sung của đồng nghiệp, hội đồng khoa học các cấp, góp ý, bổ sung
để cho đề tài sáng kiến kinh nghiệm của tôi có nhiều biện pháp hữu hiệu và đạt
kết quả cao hơn.
III. LỜI CAM ĐOAN
Đây là sáng kiến của bản thân tôi viết, không sao chép nội dung hoặc vi
phạm bản quyền của người khác.
Tôi xin chân thành cảm ơn
Quang Châu, ngày 19 tháng 5 năm 2025
Người viết
Đỗ Thị Ngọc NHẬN XÉT CỦA HĐCSKKN CẤP TRƯỜNG
.
NHẬN XÉT CỦA HĐCSKKN CẤP HUYỆN
.
MỤC LỤC
PHẦN I. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO VIẾT SÁNG KIẾN 1
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2
IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
V. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2
VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
VII. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA SÁNG KIẾN 3
PHẦN II. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ VIẾT SÁNG KIẾN 4
1. Cơ sở lý luận 4
2. Cơ sở thực tiễn 5
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 6
1. Tình hình khảo sát 6
2. Thuận lợi 7
3. Khó khăn 7
III. ĐỀ XUẤT 7
1. Các giải pháp thực hiện 7
2. Khả năng áp dụng của sáng kiến 14
3. Hiệu quả của sáng kiến 15
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN 17
II. KIẾN NGHỊ 17
III. LỜI CAM ĐOAN 18
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_gay_hung_thu_cho_tre_khi_lam_thi_nghiem_tro.docx



