Một số biện pháp dạy kỹ năng sống cho trẻ nhà trẻ 24–36 tháng
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số biện pháp dạy kỹ năng sống cho trẻ nhà trẻ 24–36 tháng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
THUYẾT MINH MÔ TẢ BIỆN PHÁP 1. Tên biện pháp: “Một số biện pháp dạy kỹ năng sống
cho trẻ nhà trẻ 24 – 36 tháng.
THUYẾT MINH MÔ TẢ BIỆN PHÁP
1. Tên biện pháp: “Một số biện pháp dạy kỹ năng sống cho trẻ nhà trẻ 24 – 36 tháng.”
2. Ngày biện pháp được dụng lần đầu hoặc áp dụng thử
Ngành học mầm non giữ vai trò quan trọng bởi nó là bậc học đầu tiên
trong hệ thống giáo dục quốc dân, là bậc học đặt nền móng cho các bậc học sau.Vì vậy
các em phải được chăm sóc, phải được giáo dục khi trẻ còn ở lứa tuổi nhà trẻ mẫu giáo.
Ngay từ lứa tuổi này, các em phải được giáo dục tiếp thu kiến thức một cách tốt nhất
được trang bị đầy đủ những tri thức của chủ nhân tương lai đất nước.Trong thời gian
gần đây vấn đề dạy kỹ năng sống cho trẻ được rất nhiều các bậc phụ huynh quan tâm.
Nhằm đáp ứng về kỹ năng sống cho trẻ, nhiềutrung tâm dạy kỹ năng sống cho trẻ cũng
lần lượt ra đời. Tuy nhiên dạy kỹ năng sống cho trẻ như thế nào lại là vấn đề cần đặt ra
những câu hỏi. Có thể từ kỹ năng sống còn rất mới mẻ nên chúng ta còn quan trọng hóa
vấn đề mà không để ý rằng ở nhà, ở trường lớp trẻ vẫn được rèn luyện “Kỹ năng
sống” cơ bản. Những kỹ năng sống rất quan trọng ảnh hưởng tới quá trình hình thành
nhân cách cho trẻ. Trong những năm gần đây, ngành học mầm non đã triển khai xây
dựng lồng ghép chuyên đề “Giáo dục kỹ năng sống” vào chương trình chăm sóc giáo
dục trẻ mầm non. Giáo dục kỹ năng sống là giáo dục cách sống tích cực, xây dựng những
hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực giúp trẻ có được những
nhận thức, kiến thức, hành vi, thái độ và kỹ năng thích hợp.
Là giáo viên đứng lớp, tôi luôn băn khoăn, suy nghĩ làm thế nào để giáo dục, uốn nắn
cho trẻ những hành vi đúng, cách cư xử lịch sự, văn minh. Vì thực tế qua công tác, tôi
thấy được một số khó khăn trong việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ: Ở lứa tuổi mầm
non đặc biệt là trẻ nhà trẻ, trẻ còn thực hiện theo ý thích, chưa tự ý thức được hành
động, hành vi của mình, chưa có nề nếp thói quen tốt trong sinh hoạt. Trẻ chưa nhận biết và thể hiện được một số trạng thái cảm xúc của bản thân và những người xung
quanh để trẻ có những hành động đúng. Về phía các bậc cha mẹ trẻ, còn số đông các
gia đình còn chiều chuông, cung phụng con cái khiến trẻ không có kỹ năng tự phục vụ,
chưa có nề nếp trong sinh hoạt hàng ngày. Cha mẹ không chú ý đến con mình ăn uống
như thế nào, trẻ có biết sử dụng những đồ dùng, vật dụng trong ăn uống hay không Và
vì sao chúng ta cần những đồ dùng, vật dụng đó. Những đồ dùng đó để làm gì?. Một số
cha mẹ thì quan tâm đến con cái nhưng chưa chú ý dạy con cách cư xử, nhiều lúc vô
tình còn hùa theo cái sai của con cái.
Tôi nhận ra rằng, tất cả những kỹ năng đó phải bắt đầu từ việc chúng ta
muốn trẻ lớn lên trở thành những người như thế nào, bản thân chúng ta cần gì,
thiếu gì, dựa vào cái gì để thành công thì hãy dạy cho con cái chúng ta những
điều y như thế. Việc xây dưng kỹ năng sống cho trẻ không gì hơn là cho trẻ cơ hội để
trải nghiệm, thích nghi và hướng dẫn cho trẻ cách tự thể hiện mình. Có thế chúng ta
mới có thể có những người chủ động, tích cực, hòa đồng và đầy đặc biệt.Trong quá trình
phát triển nhân cách nếu trẻ được sớm hình thành và tôn vinh các giá trị đích thực của
mình thì các em sẽ có một nhân cách phát triển toàn diện, bền vững, có khả năng thích
ứng và chống chọi với mọi biến động xã hội, biết tự khẳng định mình trong cuộc sống.
Trẻ em là giai đoạn học, tiếp thu, lĩnh hội những giá trị sống để phát triển nhân cách do
đó cần giáo dục “Kỹ năng sống” cho trẻ để trẻ có nhận thức đúng và có hành vi ứng xử
phù hợp ngay từ khi còn nhỏ. Với khả năng tiếp thu, nhận thức của trẻ mầm non, trẻ dễ
nhớ mau quên đặc biệt là lứa tuổi trẻ nhà trẻ 24 - 36 tháng tuổi. Để bước đầu trang bị
những hành trang, kiến thức về cuộc sống, những kỹ năng sống sao cho phù hợp với
nhân cách con người, với cuộc sống thế giới xung quanh cho trẻ thì cô giáo chính là
người giữ vai trò và nhiệm vụ quan trọng cũng như bước đầu giúp trẻ có kỹ năng như:
Tự nhận thức, tự phục vụ, biết đoàn kết với bạn bè,... Nhưng làm thế nào để cung cấp
những kỹ năng sống cho trẻ một cách có hiệu quả nhất. Chính vì vậy, tôi đã mạnh dạn
chọn đề tài “Một số biện pháp dạy kỹ năng sống cho trẻ nhà trẻ 24 - 36 tháng” tuổi tại
lớp nhóm trẻ Khu Sản. trường mầm non Hữu Sản – Sơn Động - Bắc Giang. 3. Thông tin bảo mật
- Với biện pháp của bản thân tôi không có thông tin bảo mật.
4. Biện pháp cũ thường làm.
- Thực ra thì kỹ năng sống của trẻ trong phương pháp dạy học cũ tôi cũng đã dạy, đã
quan tâm nhưng theo phương pháp dạy học truyền thống. Cách dạy cũ theo kiểu giảng
suông, dạy suông, học không đi đôi với thực hành nên không đạt được sự thay đổi
mong muốn trong hành vi này. Thực tế nhiều trường hiện nay dường như chỉ quan
niệm dạy kiến thức chứ chưa dạy trẻ thái độ ứng xử các mối quan hệ đó là (quan hệ với
con người, với thiên nhiên), vì vậy rất nhiều điều trong cuộc sống mà trẻ không được
học. Trẻ chỉ biết ăn, ngủ, học và vui chơi, trong khi đó kỹ năng tự chủ và kỹ năng giao
tiếp không được chú ý và thực hiện còn kém. Trẻ chưa có những kiến thức, kinh nghiệm
về kỹ năng giao tiếp và kỹ năng sống phù hợp. Như vậy, có thể thấy hành trang vào đời
của trẻ còn nhiều thiếu hụt, trong đó có sự thiếu hụt về kỹ năng sống, những kỹ năng
đó sẽ giúp trẻ có hành trang tự tin, làm chủ cuộc sống. Vậy để trẻ có những kỹ năng
sống tốt, phù hợp với cuộc sống bên ngoài, thế giới xung quanh. Ngay từ lứa tuổi mầm
non trẻ cần được các cô giáo cung cấp cho trẻ những kỹ năng sống, những kỹ năng đơn
giản qua các hoạt động hàng ngày của trẻ ở lớp.
5. Sự cần thiết phải áp dụng biện pháp mới.
Với biện pháp dạy kỹ năng sống cho trẻ nhà trẻ 24 - 36 tháng trên tôi muốn giúp trẻ có
những kỹ năng ban đầu về cuộc sống, có những kinh nghiệm sống, sao cho phù hợp với
cuộc sống đang biến đổi không ngừng. Sau một 4 tháng thực hiện, tôi nhận thấy trẻ lớp
tôi rất thích thú khi trẻ được học về những kỹ năng sống cơ bản qua các hoạt động học,
giờ ăn, hoạt động trò chơi và các kỹ năng tự phục vụ của trẻ. Việc tìm ra các biện pháp
phù hợp giúp cho trẻ tiếp thu tốt hơn, trẻ có nề nếp hơn và mạnh dạn, tự tin khi tham
gia các hoạt động.
6. Mục đích của biện pháp mới. Tôi sử dụng biện pháp giúp này với mục đích giúp trẻ phát triển kỹ năng sống cơ bản
cho bản thân, hình thành ở trẻ các kỹ năng như: Tự phục vụ, giao tiếp, tự nhận thức,
hợp tác. Từ đó trẻ có ý thức về bản thân, thấu cảm với người khác, suy nghĩ sáng tạo và
có phán đoán và giải quyết vấn đề phù hợp với độ tuổi.
7. Nội dung.
7.1. Thuyết minh biện pháp mới hoặc cải tiến
Nội dung: Để nghiên cứu và thực hiện đề tài này tôi đã thực nghiệm trên trẻ lớp nhà trẻ
24- 36 tháng ( Khu Sản) - Trường mầm non Hữu Sản.Với tổng số trẻ là 18 học sinh. Trong
đó có 10 trẻ nam và 8 trẻ nữ. Thời gian nghiên cứu 4 tháng (bắt đầu từ tháng 9/2021
đến cuối tháng 12/2021).
Đặc biệt là lứa tuổi nhà trẻ 24 -36 thàng tuổi khả năng nhận thức của trẻ
còn có nhiều hạn chế, trẻ dễ nhớ dễ quên và hay hành động theo ý muốn. Vì vậy để dạy
những kỹ năng sống cho trẻ chỉ là những bước đầu giúp trẻ các kỹ năng như: Biết về
bản thân mình, mạnh dạn tự tin, kỹ năng giao tiếp, tự phục vụ bản thân, biết hợp tác
chơi với các bạn, kỹ năng thích nghi với môi trường,... Để trẻ có được những kỹ năng ở
lứa tuổi này, cô giáo cần nhẹ nhàng, linh hoạt, sáng tạo, lồng ghép các hoạt động để
truyền thụ các kỹ năng cho trẻ. Giáo dục kỹ năng sống là một tiến trình: giáo viên trang
bị cho trẻ kiến thức; giúp trẻ có ý thức và niềm tin để thay đổi. Trẻ phải được thực hành
để có kỹ năng. Trẻ cần được hướng dẫn vận dụng kỹ năng vào các sinh hoạt thường
ngày của trẻ. Điều quan trọng nhất là những kỹ năng này trở thành một thói quen tốt.
Trong cách giáo dục mới, trẻ được giúp đỡ để biết mình là ai, mình muốn.
Tuy nhiên, Giáo dục kỹ năng sống không dễ chút nào, vì nó nằm ngoài cách suy nghĩ và
thói quen của ta từ trước đến nay. Việc đầu tiên là tin vào khả năng của trẻ để suy nghĩ
và có hành động đúng. Người lớn không nên áp đặt ý kiến của mình mà cần khơi dậy
tiềm năng trẻ, hỗ trợ sự phát triển tiềm năng này bằng thái độ thông cảm và tôn trọng.
Lòng tự tin của trẻ sẽ lớn rất nhanh nếu người lớn nhìn chúng bằng con mắt mới và sáng
tạo, đồng thời với thái độ kiên nhẫn. Do đó, Giáo dục kỹ năng sống chỉ thành công với
nhà giáo dục “kiểu mới” khác với người thầy mệnh lệnh, bao cấp, suy nghĩ và hành động thay cho trẻ. Trẻ phải chủ động mới biến được nhận thức thành hành động. Nhà giáo
dục này không chỉ phải rành tâm lý lứa tuổi, mà còn phải có kiến thức và kỹ năng về
nhóm để biết vận dụng tâm lý nhóm vào công tác giáo dục. Sinh hoạt nhóm rất quan
trọng trong việc giúp trẻ nên chủ động để tự quyết. Giáo dục kỹ năng sống cũng không
thể thành công nếu xã hội, nhất là gia đình, không đổi cách nhìn đứa trẻ, xem nó như
“con nít, chẳng biết gì”, giáo dục theo kiểu nhục mạ, hạ thấp
* Các bước bản thân tôi áp dụng khi thực hiện biện pháp.
1. Biện pháp 1: Xác định các loại kỹ năng sống phù hợp độ tuổi để dạy trẻ:
Là một giáo viên mầm non, hàng ngày trực tiếp chăm sóc giáo dục trẻ.
Ngoài việc cung cấp dạy kiến thức cho các con ở các môn học, các hoạt động
trong ngày, các cô còn giúp trẻ hình thành nhân cách, các ứng xử với con người, với
thiên nhiên. Đặc biệt là những cô giáo lớp nhà trẻ từ 24 - 36 tháng sẽ giúp trẻ những
kiến thức ban đầu về kỹ năng sống, giúp trẻ phát triển hài hòa cân đối giữa các mặt để
khi lớn tuổi hơn trẻ không bỡ ngỡ, xa lạ trước những cuộc sống khác lạ xung quanh. Trẻ
sẽ học tốt nhất khi có được một cách tiếp cận cân bằng về các mặt, các kỹ năng nhận
thức, tình cảm quan hệ xã hội, các hành vi ứng xử cơ bản với bạn bè, cô giáo, thì trẻ sẽ
nhanh chóng sẵn sàng và có khả năng vào việc tập trung tiếp thu các kiến thức ở từng
môn học một cách tốt nhất.
Qua việc dạy trẻ các kỹ năng sống, các quá trình tâm lý của trẻ phát triển hơn
như: Trí nhớ, ngôn ngữ, tư duy..., sẽ giúp trẻ tiếp thu kiến thức từ các môn học sẽ tốt
hơn và khả năng ghi nhớ của trẻ sẽ nhanh hơn.
Kỹ năng sống là khả năng biết làm, biết thực hiện việc gì đó một cách tự giác,
thành thạo trong mọi hoàn cảnh. Vì vậy, có người nói: Dạy trẻ 24 - 36
tháng tuổi những kỹ năng sống như vậy có quá sớm không, trẻ có thực hiện được
không?. Thật ra việc học kinh nghiệm sống với trẻ chẳng bao giờ là sớm, có hàng trăm
kỹ năng sống cần thiết với trẻ. Tùy theo lứa tuổi của trẻ để chọn ra nội dung chương
trình dưới nhiều hình thức khác nhau. Người giáo viên phải có nhiệm vụ quan trọng để lựa chọn, xác định được các kỹ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi từ 24 - 36 tháng. Sau
một thời gian nghiên cứu, tôi đã lựa chọn một số kỹ năng sống cơ bản để cung cấp cho
trẻ 24 - 36 tháng tuổi cụ thể như sau:
* Kỹ năng tự phục vụ:
- Biết cất dép đúng nơi quy định.
- Biết cất ba lô đúng tủ của mình còn tủ của bạn nào cao quá thì trẻ sẽ chỉ tủ của trẻ để
cô giúp đỡ.
- Biết bê ghế về tổ, về bàn.
- Biết nhặt cơm rơi vãi vào khay.
- Đa số trẻ biết tự súc cơm ăn.
- Biết lấy và cất đồ dùng đồ chơi đúng nơi quy định.
- Biết lấy khăn, cốc để dùng.
* Kỹ năng giao tiếp:
- Bước đầu biết cách xưng hô chào hỏi cùng cô và một số trẻ tự
xưng hô tốt với người khác khi không có cô giúp đỡ.
- Biết lắng nghe cô nói và trả lời câu hỏi của cô khi được hỏi.
- Trẻ mạnh dạn tự tin khi giao tiếp với mọi người.
*Kỹ năng tự nhận thức.
- Trẻ tò mò ham hiểu biết, thích khám phá thế giới xung quanh.
- Trẻ nhận biết được tên, tuổi của mình, người thân và địa chỉ gia đình, biết được tên
những người xung quanh khi được hỏi đến.
* Kỹ năng hợp tác:
- Trẻ biết kết hợp với bạn khi chơi.
- Trẻ biết đoàn kết với bạn. - Trẻ có thái độ cư sử đúng mực với bạn và mọi người xung
quanh.
* Kỹ năng vệ sinh:
- Biết tự đi vệ sinh khi được nhắc nhở.
- Trẻ tự biết ngồi bô.
Thông qua đó tôi đã xác định được một số kỹ năng sống cơ bản, cần thiết và quan
trọng với trẻ vì vậy thông qua việc xác đinh được những kỹ năng sống cơ bản cần cung
cấp cho trẻ trên đã giúp tôi thuận tiện trong quá trình dạy các kỹ năng sống cho trẻ giúp
trẻ phát triển toàn diện về năm mặt: Đức, trí, thể, mỹ.
2. Biện pháp 2: Khảo sát chât lượng đầu năm đối với trẻ.
Sau khi xác định được các kỹ năng sống cơ bản, cần thiết và quan trọng cần cung
cấp cho trẻ tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng đầu năm để nắm được tình hình của
trẻ và có kế hoạch dạy trẻ cho phù hợp.
Bảng số liệu trước khi thực hiện biện pháp:
+ Về phía trẻ.
Đạt Chưa đạt
Mức độ nội dung khảo sát
Số trẻ Tỷ lệ Số trẻ Tỷ lệ
% %
1.Kỹ năng giao tiếp 10/ 18 51,7% 14/ 29 48,3%
2.Kỹ năng tự lập, tự phục vụ 5/ 18 55,2% 13/ 29 44,8%
3.Kỹ năng nhận thức 8/18/ 38 % 18/ 29 62 %
4.Kỹ năng hợp tác 9/18 62 % 11/ 29 38 % 5. Kỹ năng vệ sinh 3/ 18 58 % 12/ 29 42%
Qua bảng khảo sát trên tôi thấy các kỹ năng sống cơ bản của trẻ còn khá thấp, kỹ
năng tự phục vụ, kỹ năng hợp tác của trẻ còn hạn chế, kỹ năng giao tiếp của trẻ với mọi
người xung quanh còn chưa linh hoạt, chưa nhanh nhẹn, khả năng tự nhận thức của trẻ
chưa cao nên tôi luôn băn khoăn làm sao để tỉ lệ các kỹ năng sống đó được nâng cao
lên.
Thông qua việc khảo sát trẻ đầu năm giúp cho tôi hiểu được sự thiếu hụt cao về kỹ
năng sống của trẻ. Từ những thực tế đó tôi đã lập kế hoạch và đưa ra các hình thức,
phương pháp phù hợp để dạy kỹ năng sống cho trẻ lớp tôi.
3. Biện pháp 3: Dạy các kỹ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt động.
Trong việc cung cấp các kỹ năng sống cho trẻ, giáo viên là người giữ vai
trò quan trọng và là người trực tiếp truyền dạy những kinh nghiệm sống cho trẻ thì việc
đầu tiên đó là cô giáo phải gương mẫu, yêu thương, tôn trọng, đối xử công bằng với trẻ
và đảm bảo an toàn cho trẻ.
* Thông qua hoạt động vui chơi.
Như chúng ta đã biết trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ nhà trẻ: “Học mà chơi, chơi mà
học”. Chơi là một trong các hoạt động học tập của trẻ và có mục đích to lớn đối với sự
phát triển toàn diện về nhân cách con người. Thông qua hoạt động vui chơi còn hình
thành ở trẻ những chức năng tâm lý, những cơ sở ban đầu của nhân cách con người.
Chính vì thế việc tổ chức các hoạt động vui chơi cho trẻ không chỉ giúp trẻ hình thành
kỹ năng mà còn đặt nền tảng khá vững chắc để phát triển những kỹ năng sống. Với trẻ
nhà trẻ, trẻ được học qua chơi điều đó khiến trẻ rất thích thú, trẻ cảm thấy việc tiếp thu
kiến thức sẽ nhẹ nhàng thoải mái mà không bị gò bó vì vậy giáo viên cần tạo các tình
huống chơi trong chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ. Đối với trẻ chơi trò chơi có một
vai trò rất quan trọng trong việc rèn kỹ năng sống cho trẻ. Trẻ khám phá thông qua trò chơi, các hành động chơi đòi hỏi trẻ phải suy nghĩ, giải quyết các vấn đề, thực hành các
ý tưởng.
Trong hoạt động vui chơi trẻ có thể tích lũy được kinh nghiệm, kỹ năng
sống đó là qua giờ hoạt động vui chơi của trẻ. Trẻ được chơi ở các góc, chơi tức là trẻ
đang được nhập vai, trẻ đang được học làm (hoạt động với đồ vật) giống như người lớn,
thông qua các góc chơi: Bé và búp bê, góc vận động, góc sách truyện, góc di màu...
Những góc chơi đều cung cấp cho trẻ những kỹ năng sống.
VD: Ở góc bé và búp bê: Thông qua cách đóng vai trẻ học được các kỹ năng:
Giao tiếp, ứng sử, biết cách xưng hô, thể hiện tình cảm, biết quan tâm đến mọi người
như bế em, ru em ngủ, xúc bột cho búp bê ăn, thay quần áo cho búp bê.
Ví dụ: Ở góc vận động giáo viên tổ chức chơi trò chơi lăn bóng cho bạn, ... giúp trẻ có kỹ
năng chơi và sống với nhau gắn bó đoàn kết với bạn và mọi người xung quanh.
Qua hoạt động vui chơi tôi còn dạy cho trẻ những thói quen tốt: Đó là việc hướng
dẫn trẻ làm những việc nhẹ nhàng vừa sức, lần đầu cô có thể hướng dẫn trẻ làm cùng
cô sau đó cho trẻ tự làm cô quan sát, kiểm tra và sửa sai cho trẻ. Cứ như vậy tạo cho
trẻ có nề nếp và thói quen lấy, cất đồ dùng,đồ chơi đúng nơi quy định.
Ảnh minh họa:
* Thông qua tác phẩm văn học.
Giáo viên cần kể truyện cho trẻ nghe ở mọi lúc mọi nơi như giờ hoạt
động học, vui chơi ở một nhóm nhỏ, hoặc kể truyện cho trẻ nghe vào buổi trưa đối với
những trẻ khó ngủ. Tăng cường kể cho trẻ nghe các câu truyện cổ tích, qua đó rèn luyện
đạo đức cho trẻ, dạy trẻ yêu thương bạn bè, yêu thương con người. Tạo hứng thú cho
trẻ nhỏ qua các câu truyện bằng tranh phù hợp với lứa tuổi nhất là hiện nay công nghệ
thông tin đang được phổ biến thì có thể sưu tầm những hình ảnh minh họa nội dung
truyện để làm những hình động thì trẻ rất hứng thú, những câu truyện đó phải phù hợp
với lứa tuổi nhà trẻ để gợi mở tình tò mò, ham học hỏi ở trẻ.
Ví dụ: Cô kể chuyện “Cây táo” cô đưa ra câu hỏi gợi mở:
+ Mùa xuân đến ông đã làm gì?
+ Ai đã tưới nước cho cây? +Cây lớn phát triển như thế nào?
Câu chuyện giáo dục trẻ biết quan tâm, chia sẻ với mọi người bằng những
việc nhỏ vừa sức của mình.
Ngoài ra, tôi có thể kể cho trẻ nghe các câu chuyện về tinh thần đoàn kết hợp tác với
nhau, bé đi học không khóc nhè, bé là bé ngoan, bé vui đến trường, bé biết vâng lời,
tình cảm yêu quý bạn bè, tình cảm gia đình, bé yêu lao động, tính trung thực như:
chuyện: “Đôi bạn tốt”, “Vịt con nói dối”, “Mời bạn đến chơi nhà”, “Vì sao bé Bin nín
khóc”, “Con yêu mẹ lắm”
VD: Thể hiện tình bạn của gà con và vịt con khi rủ nhau đi chơi gặp phải cáo và chúng
đã giúp đỡ nhau khi hoạn nạn.
Cô kể truyện “Vườn hoa nhà bé Bi” trên máy vi tính.
vi tính”. VD: Khi trẻ mới đi học cô có thể kể cho trẻ nghe câu truyện “Vì sao bé Bin nín khóc” để
trẻ hiểu được nội dung và trẻ đi học sẽ không khóc nhè nữa.
VD: Khi tôi kể cho trẻ nghe câu truyện “Vịt con nói dối” thông qua nội dung
truyện trẻ biết được trong cuộc sống trẻ không nên nói dối, phải thật thà từ đó
giáo dục kỹ năng sống như tính trung thực cho trẻ trong cuộc sống hàng ngày.
* Thông qua giờ ăn.
Trẻ được làm quen với những đồ dùng ăn uống và phân biệt, nhận biết
những đồ dùng này qua giờ nhận biết tập nói ở chủ đề “mẹ và những người thân yêu
của bé”. Trẻ sẽ nhận biết tốt hơn cụ thể hơn nữa vì đó là qua giờ ăn của trẻ giúp trẻ
nhận biết và sử dụng đúng các chức năng của các đồ dùng đó đúng như: thìa để xúc
cơm, bát để đựng cơm và thức ăn, khay để cơm rơi vãi và khăn lau tay... từ đó cũng như
giúp trẻ có những hành vi ăn uống như: Tự xúc cơm ăn, ăn từ tốn, không làm vãi cơm,
nếu có vãi thì nhặt vào khay, vỏ hoa quả, bánh không thì vứt vào thùng rác tất cả những
yếu tố trên sẽ giúp trẻ có thói quen tốt để hình thành kỹ năng tự phục vụ và ý nghĩa hơn
là kỹ năng sống tự lập sau này.
Qua giờ ăn trẻ có thể học được những kỹ năng mà cô đã dạy trẻ ngay từ ban đầu
đó là trẻ biết mời cô và các bạn cùng ăn cơm, tự xúc cơm ăn, biết nhặt cơm rơi vãi ở
bàn khi ăn, biết cách cầm thìa thế nào cho đúng và trẻ ăn ngon miệng ăn hết xuất của
mình.
* Thông qua giờ đón, trả trẻ.
Qua giờ đón trả trẻ tôi thường dạy trẻ một số kỹ năng tự như: Trẻ tự cất dép đúng
nơi quy định, trẻ cất ba lô đúng nơi quy định. Khi mà trẻ tự cất ba lô, trẻ biết được đó là ngăn tủ để đựng đồ dùng cá
nhân của mình hàng ngày, trên đó cô giáo có dán tên và ký hiệu để trẻ dễ nhớ và nhận
ra tủ của mình. Trẻ uống nước song biết cất cốc đúng nơi quy định,... qua đó trẻ biết tự phục vụ mà
không cần nhờ đến sự giúp đỡ của người lớn.
Ngày đầu đi học trẻ đã được cô giáo hướng dẫn cất dép ở đâu để cho gọn
gàng ngăn nắp và giờ trẻ đã tự giác khi bước chân vào lớp cất dép như thế nào
cho đúng quy định .
Ảnh minh họa:
* Kết quả sau khi sử dung biện pháp.
Như vậy, qua một một thời gian 4 tháng của năm học 2021-2022 đi sâu và thực hiện
nghiên cứu tài liệu, kinh nghiệm của bản thân, sự ủng hộ tích cực của các bậc cha mẹ
đã giúp tôi đạt được một số kết quả và tiến hành đề tài một số biện pháp dạy kỹ năng
sống cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi tôi đã tìm ra những biện pháp tích cực phù hợp để nâng
việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ và điều đó đã cho được những kết quả sau.
- Sau 4 tháng thực hiện tôi thu được một số kết quả sau: + Bảng kết quả so sánh trẻ đạt ở các nội dung sau 4 tháng áp dụng:
Trước khi áp dụng Sau khi áp dụng
Mức độ nội dung khảo sát
Số trẻ đạt. Tỷ lệ Số trẻ đạt Tỷ lệ
% %
1.Kỹ năng giao tiếp 10/ 18 55,5% 16/18 88,8%
2.Kỹ năng tự lập, tự phục 5/ 18 27,7% 14/ 18 87,5%
vụ
3.Kỹ năng nhận thức 8/18 44,4% 16/ 18 88,8
%
4.Kỹ năng hợp tác 9/18 50% 17/ 18 94,4
%
5. Kỹ năng vệ sinh 3/ 18 16 % 17/ 18 94,4
%
7.2 Phạm vi ứng dụng của biện pháp.
Biện pháp này sẽ dễ dàng thực hiện cho học sinh các trường theo nhiều hình thức
phong phú hơn, củng cố, hệ thống hoá, chính xác hoá. Việc giáo dục kỹ năng sống cho
trẻ đóng một vai trò vô cùng quan trọng, không chỉ giúp trẻ phát triển tư duy, óc quan
sát, ghi nhớ, chú ý có chủ định. Mà còn giúp trẻ so sánh, phân tích, tổng hợp Còn là
những kinh nghiệm bổ ích đối với cuộc sống thực tiển hàng ngày diễn ra xung quanh
trẻ. Giúp trẻ có một hành trang vững vàng, một tâm thế tự tin để bước vào cuộc sống.
Qua quá trình thực hiện đề tài này, tôi thấy rằng sự nghiên cứu tìm hiểu việc giáo dục
kỹ năng sống cho trẻ ở trường mầm non rất quan trọng. Nó góp phần giúp cho giáo viên nâng cao chất lượng hoạt động, góp phần đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của phụ
huynh.
7.3.Dự kiến lợi ích thu được từ biện pháp.
Sau một thời gian thực hiện biện pháp tại lớp mình phụ trách bản thân tôi đã thu
được một số ích lợi sau:
+ Về phía giáo viên.
- Kết hợp chặt chẽ với phụ huynh, tạo uy tín tiềm năng đối với phụ huynh và với
trẻ, được phụ huynh tín nhiệm.
- Tự tin, sáng tạo hơn trong việc dạy kỹ năng sống cho trẻ.
- Mạnh dạn giám nghĩ, giám làm, khắc phục mọi khó khăn để giúp trẻ có được những
kỹ năng sống ngay từ khi còn nhỏ.
+ Đối với phụ huynh:
- Phụ huynh thường xuyên phối hợp chặt chẽ với cô giáo trong việc dạy trẻ các kỹ năng
sống, trao đổi với giáo viên bằng nhiều hình thức thông qua bảng thông tin dành cho
phụ huynh, bảng đánh giá trẻ ở lớp
- Giao tiếp giữa cha mẹ và con cái đã gần gũi thường xuyên chia sẻ với con hơn, ít la
mắng trẻ, phân việc cho trẻ, hướng dẫn trẻ tự làm những công việc phục vụ bản thân
như: Trẻ tự đeo ba lô, tự vào lớp...
- Cha mẹ cảm thấy hài lòng với kết quả của con mình đạt được và đã có sự quan tâm
bằng việc ủng hộ giáo viên những nguyên vật liệu để giáo viên và trẻ làm đồ dùng đồ
chơi phục vụ cho trẻ ở lớp...
+ Về phía trẻ.
- 100% trẻ trên lớp đều được cô giáo và cha mẹ tạo mọi điều kiện khuyến khích, khơi
dậy tính tò mò, phát triển trí tưởng tượng và óc sáng tạo, năng động, mạnh dạn, tự tin.
- Trẻ có một số thói quen tự phục vụ, được rèn luyện kỹ năng tự lập, nhận thức, kỹ năng
vận động thô các hoạt động hàng ngày trong cuộc sống của trẻ, được rèn luyện kỹ năng xã hội, kỹ năng về cảm xúc, giao tiếp, chung sống hòa bình, và tuyệt đối không sảy ra xúc
phạm và bạo hành trẻ
- 100% trẻ được giáo dục, chăm sóc nuôi dưỡng tốt, được bảo vệ sức khỏe, được bảo
đảm an toàn, phòng bệnh, được theo dõi cân đo.
- Trẻ đi học đều hơn, đạt tỷ lệ chuyên cần từ 100% trở lên và trẻ hứng thú vui vẻ khi
đến lớp, có một số kỹ năng tự phục vụ, tự cất giày dép, tự cất ba lô, tự lấy giấy lau mũi,
lau miệng...
Sau một thời gian ngắn ứng dụng biện pháp tôi thấy biện pháp đã thu được kết quả
theo mong muốn của bản thân. Biện pháp này cũng dễ dàng áp dụng đối với các nhóm
lớp khác trong trường và các trường lân cận. Bản thân tôi rất mong được bạn bè đồng
nghiệp nhân rộng biện pháp và đưa ra phản hồi, để biện pháp của bản thân tôi ngày
càng hoàn thiện hơn.
Xác nhận của nhà trường Tác giả của biện pháp
Hoàng Thị Lằm
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_day_ky_nang_song_cho_tre_nha_tre_2436_thang.docx



