Kinh nghiệm phát triển vốn từ cho trẻ 24–36 tháng
Bạn đang xem nội dung tài liệu Kinh nghiệm phát triển vốn từ cho trẻ 24–36 tháng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THUYẾT MINH MÔ TẢ BIỆN PHÁP
1. Tên biện pháp: “Kinh nghiệm phát triển vốn từ cho trẻ 24 – 36 tháng.”
2. Ngày biện pháp được dụng lần đầu hoặc áp dụng thử.
Như chúng ta đã biết ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong cuộc sống của con người. Nhờ
ngôn ngữ mà con người có thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho nhau
những kinh nghiêm, tâm sự với nhau những điều thầm kín. Bác Hồ của chúng ta đã dạy:
“Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải
giữ gìn, tôn trọng nó. Trong công tác giáo dục thế hệ mầm non cho đất nước, chúng ta
càng thấy rõ vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục trẻ thơ.
Dạy ngôn ngữ tiếng phổ thông cho trẻ lứa tuổi mầm non, đặc biệt là trẻ dân tộc
thiểu số, miền núi vùng sâu vùng xa như địa bàn xã Hữu Sản lại càng quan trọng, nhất
là trẻ em lứa tuổi nhà trẻ 24- 36 tháng tuổi có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ngôn
ngữ của trẻ phát triển tốt sẽ giúp trẻ nhận thức và giao tiếp tốt góp phần quan trọng
vào việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ.
Xuất phát từ những lý do trên mà tôi chọn biện pháp: “Kinh nghiệm phát triển vốn từ
cho trẻ lứa tuổi 24- 36 tháng tuổi” làm bài thuyết minh mô tả.
- Bài thuyết minh mô tả của tôi được thực hiện trong vòng 4 tháng của học kỳ 1. Năm
học: 2021 – 2022.
3. Các thông tin cần bảo mật: Không có
4. Các biện pháp cũ thường làm.
a, Tình trạng lớp và nhược điểm.
Có thể nói rằng rèn luyện và phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non là góp phần tích cực
vào việc trang bị cho thế hệ mầm non một phương tiện mạnh mẽ để tiếp thu kinh nghiệm quý báu của thế hệ cha anh, đồng thời tạo điều kiện cho các cháu lĩnh hội các
kiến thức, những hiểu biết mới lạ về thế giới xung quanh.
Đặc biệt trẻ ở lứa tuổi 24- 36 tháng tuổi ở lớp tôi phụ trách, đa số các cháu đều là trẻ
em dân tộc thiểu số ( Có cả dân tộc: Tày, dao, san chí ). Vốn ngôn ngữ tiếng phổ thông
của các cháu rất hạn chế, mà đặc biệt giai đoạn này người ta còn gọi là giai đoạn tiền
ngôn ngữ vì đặc điểm sinh lý ở lứa tuổi này có vùng ngôn ngữ bắt đầu hình thành và
phát triển mạnh, do đó mà trẻ được tác động mạnh mẽ về ngôn ngữ từ phía môi trường
xung quanh trẻ, thì vùng ngôn ngữ của trẻ có điều kiện phát triển nhanh. Nhưng trong
thực tế môi trường gia đình: ông, bà., bố, mẹ hay môi trường xã hội: cô giáo còn ít
quan tâm đến việc phát triển vốn từ cho trẻ nên nhìn chung vốn từ của trẻ có một số
nhược điểm như:
* Nhược điểm và hạn chế của biện pháp cũ.
Trẻ 24- 36 tháng tuổi, là độ tuổi còn non nớt, các cháu bắt đầu đi học còn khóc nhiều,
chưa quen với các cô và các bạn, 100% các cháu đều có bố mẹ là người dân tộc ở nhà
môi trường sinh hoạt của các cháu khác ở lớp nên đến lớp các con chưa thích nghi với
điều kiên sinh hoạt và các hoạt động ở lớp, các cháu không cùng tháng tuổi, mỗi cháu
đều có sở thích và cá tính khác nhau, nên các cô thường dùng phương dùng phương
pháp dạy học cũ. Vì vậy sẽ có một số hạn chế sau:
- Đa số giáo viên nhà trẻ 24 – 36 tháng đều dạy cho trẻ phát triển ngôn ngữ thông qua
giờ học là chủ yếu. Trong giờ học chủ yếu dùng tranh. Hình ảnh minh họa nghèo nàn,
han chế do các cô thụ động.
Trí nhớ của trẻ còn nhiều hạn chế, trẻ chưa biết hết khối lượng các âm tiếp thu
cũng như trật tự các từ khi nhắc lại câu của người lớn. Vì thế trẻ thường xuyên bỏ bớt
từ, bớt âm khi nói. Ở lớp nhà trẻ, thời gian chăm sóc trẻ chiếm đa số nên việc giáo viên
chú ý phát triển vốn từ cho trẻ đôi khi còn gặp nhiều khó khăn.
Đa số phụ huynh đều bận công việc hoặc có những lý do khách quan nào đó ít có
thời gian trò chuyện với trẻ và nghe trẻ nói. Trẻ được đáp ứng đầy đủ về nhu cầu mà
trẻ cần. + VD: Trẻ chỉ cần chỉ, cần nhìn vào những gì mình thích thì được đáp ứng ngay mà không
cần phải dùng lời để yêu cầu hoặc xin. Đây cũng là một trong những nhược điểm của
việc vốn từ của trẻ rất nghèo nàn.
5. Sự cần thiết phải áp dụng biện pháp mới:
Đứng trước một số khó khăn như vậy, tôi đã tìm tòi, suy nghĩ và nghiên cứu tài liệu để
tìm ra một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ và qua thực tiễn dạy trẻ hàng ngày
trong 4 tháng đầu của năm học tôi mạnh dạn áp dụng vào lớp học của mình và tôi đã
rút ra một số kinh nghiệm sau.
Đây là biện pháp theo tôi là rất cần thiết. Qua khảo sát tôi có thể nắm rõ những
mặt ưu điểm và hạn chế của trẻ. Bên cạnh đó khảo sát trẻ trên lớp khiến tôi và học sinh
của mình có thể hiểu nhau hơn.
* Số liệu điều tra trước khi thực hiện đề tài
Qua điều tra thực tế về vốn ngôn ngữ của trẻ trong lớp tôi, tôi nhận thấy kết quả khảo
sát trước khi thực hiện biện như sau:
Đạt Chưa đạt
Mức độ nội dung khảo sát
Số trẻ Tỷ lệ Số trẻ Tỷ lệ
% %
1.Kinh nghiệm sống của trẻ thông qua ngôn 4/ 18 22% 14/ 18 78%
ngữ
2. Kỹ năng phát âm ngôn ngữ 8/ 18 44,4,% 10/ 18 55,6%
3. Vốn từ ngữ của trẻ. 10/ 18 55,6% 8/ 18 44,4%
4.Trẻ mạnh dạn giao tiếp trả lời câu hỏi của 8/ 18 44,4% 10/ 18 55.6%
cô.
6. Mục đích của biện pháp mới. Muốn phát triển vốn từ cho trẻ, theo tôi điều đầu tiên chúng ta phải hiểu được
phát triển vốn từ cho trẻ là gì ? Phát triển vốn từ cho trẻ giúp trẻ nắm vững được nhiều
từ, hiểu ý nghĩa của từ và biết sử dụng từ trong các tình huống giao tiếp.
Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ nhà trẻ: Vốn từ của trẻ tăng nhanh, số lượng
từ chủ động của trẻ từ 500- 600 từ. Trong vốn từ của trẻ có tất cả các loại từ đơn, từ
ghép.ở trẻ có cả từ ghép 3- 4 tiếng bên cạnh đó trẻ có nhu cầu giao tiếp với mọi người,
trẻ thích tìm hiểu những điều mới lạ trong cuộc sống xung quanh, những từ các cháu
được sử dụng hầu hết là những từ chỉ tên gọi, những gì gần gũi xung quanh mà hàng
ngày mà trẻ tiếp xúc. Ngoài ra, trẻ cũng nói được một số từ chỉ hành động, chỉ những
công việc của bản thân và mọi người xung quanh, chỉ hành động của những con vật mà
trẻ biết.
Tôi nhận thấy vốn từ của trẻ tuy phát triển nhưng vẫn còn hạn chế bộ máy phát
âm của trẻ đang hoàn thiện dần nên khi trẻ nói, trẻ hay nói chậm, hay nói kéo dài giọng,
đôi khi còn ậm, ừ, ê, a, không mạch lạc. Để giúp trẻ phát triển vốn từ, tôi thấy người
giáo viên cần phải nắm vững vốn từ của trẻ. Mặt khác, các cô giáo phải nói to, rõ ràng,
mạch lạc, dễ nghe.
7. Nội dung:
7.1 Thuyết minh biện pháp mới.
- Nội dung: Xuất phát từ những thực tế trên tôi đã mạnh dạn áp dụng bài thuyết minh
mô tả: Kinh nghiệm phát triển vốn từ cho trẻ ở lớp 24 – 36 tháng. Áp dụng vào lớp nhà
trẻ 24- 36 tháng khu sản với tổng số trẻ là 18.Trong đó có 10 trẻ nam và 8 trẻ nữ,
100% trẻ là có bố mẹ là người dân tộc.
- Tôi đã tiến hành thực hiện kinh nghiệm này thông qua một số hoạt động sau:
* Phát triển vốn từ cho trẻ thông qua hoạt động học:
Phát triển vốn từ cho trẻ ở trường Mầm Non là công tác giáo dục có kế hoạch, có
mục đích, có tổ chức và phải mang tính hệ thống nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ như
một phương tiện giao tiếp quan trọng vì thế chúng ta phải dạy cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi, trên những tiết học cụ thể, trong đó phát triển ngôn ngữ, vốn từ phải được đặt lên
vị trí hàng đầu.
* Thông qua giờ nhận biết tập nói.
Đây là môn học quan trọng nhất đối với sự phát triển ngôn ngữ và cung cấp từ vựng
cho trẻ. Trẻ lứa tuổi 24- 36 tháng tuồi đang bắt đầu học nói, bộ máy phát âm chưa hoàn
chỉnh, vì vậy trẻ thường nói một từ, nói ngọng, nói lắp. Cho nên trong tiết học cô phải
chuẩn bị đồ dùng trực quan đẹp, hấp dẫn để gây hứng thú cho trẻ. Bên cạnh đó cô cũng
phải chuẩn bị một hệ thống câu hỏi rõ ràng, ngắn gọn, trong khi trẻ trả lời cô hướng dẫn
trẻ nói đúng từ, đủ câu, không nói câu cụt lủn hoặc cộc lóc.
Ví dụ :
Trong bài nhận biết quả dưa, quả cam, quả đu đủ ” Cô muốn cung cấp từ “ Múi cam”
cho trẻ. Cô phải chuẩn bị đầy đủ các loại quả thật, để trẻ sử dụng các giác quan: sờ,
nhìn, nếm, ngửi, nhằm phát huy được tính tích cực của tư duy, rèn khả năng ghi nhớ
có chủ đích
Đề giúp trẻ hứng thú tập trung vào đối tượng quan sát, cô cần đưa ra một hệ thống câu
hỏi:
+ Đây là quả gì? ( Đây là quả cam ạ )
+ Quả dứa có màu gì ( Màu vàng )
+ Đây là cái gì của quả cam (Vỏ quả cam ạ )
+ Vỏ cam như thế nào ?( Vỏ cam trơn nhẵn nhụi ạ ) Như vậy nhờ có sự giao tiếp giữa cô và trẻ đã giúp trẻ phát huy được tính tích cực của
tư duy, rèn khả năng ghi nhớ, phát triển năng lực quan sát, phát triển các giác quan,
kích thích lòng ham hiểu biết tìm tòi khám phá về những điều bí ẩn của các sự vật xung
quanh.Qua đó củng cố, mở rộng vốn hiểu biết, làm giầu vốn từ cho trẻ.
* Qua giờ thơ, truyện.
Trên tiết học khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là phát triển ngôn ngữ
nói cho trẻ và còn hình thành phát triển ở trẻ kỹ năng nói mạch lạc mà muốn làm được
như vây trẻ phải có vốn từ phong phú hay nói cách khác là trẻ cũng học thêm được các
từ mới qua giờ học thơ truyện. Khi tiếp xúc với bài thơ, câu chuyện là trẻ đã được tri
giác các bức tranh có hình ảnh và từ ngữ mới tương ứng với nội dung bức tranh.
Ví dụ 1:
Trẻ nghe câu chuyện ” Bác gấu đen và hai chú thỏ” Cô muốn cung cấp cho trẻ từ ” Ướt
lướt thướt” Cô có thể cho trẻ xem tranh, mô hình và giải thích từ ” ướt lướt thướt”. Bên cạnh đó cô cũng chuẩn bị một số hệ thống câu hỏi giúp trẻ nhớ được nội dung
truyện và từ vừa học.
+ Bác gấu đen trong câu chuyện cô vừa kể đi đâu ?( Đi chơi rừng )
+ Khi gặp trời mưa , bác gấu đen bị làm sao ? ( Ướt lướt thướt )
Cô kể 1- 2 lần giúp trẻ hiểu tác phẩm và đặt tiếp hệ thống câu hỏi hướng vào việc hiểu
biết các hành động của nhân vật để trẻ hiều việc nào nên làm, việc nào không nên làm.
+ Qua câu chuyện, con yêu quý ai ? ( Bác gấu đen, bạn thỏ trắng )
+ Vì sao? ( Vì bạn thỏ trắng và bác gấu đen là những người tốt bụng )
Ví dụ 2:
Qua bài thơ “Cây bắp cải ” Cô muốn cung cấp cho trẻ từ ” Sắp vòng quanh”
Cô có thể cho trẻ quan sát vật thật. Cho trẻ được xem,được sờ các lá bắp cải sắp vòng
quanh như thế nào?. Cô vừa giải thích vừa chỉ cho trẻ xem và cho trẻ cùng làm động tác mô phỏng các là được xếp vòng quanh với nhau tạo thành cây bắp cải xanh. Bên cạnh
đó cô cũng chuẩn bị một hệ thống câu hỏi:
+ Cô vừa đọc cho các con nghe bài thơ gị ? Cây bắp cải
+ Cây bắp cải trong bài thơ được tác giả miêu tả đẹp như thế nào ? ( Xanh man mát )
+ Lá bắp cải trong bài thơ được tác giả miêu tả như thế nào ? ( Sắp vòng quanh)
Như vậy thơ truyện không những kích thích nhận thức có hình ảnh của trẻ mà còn
dạy trẻ thể hiện và mô phỏng những động tác tương ứng với nhân vật 8 trong bài thơ,
câu truyện.Khi trẻ đã biết kể lại truyện cùng với co điều đó chứng tỏ trẻ đã biết ghi nhớ
cốt truyện và biết sử dụng ngôn ngữ nói là phương tiện, lĩnh hội kinh nghiệm tiếp thu
kiến thức, biết sử dụng nhiều từ mới thể hiện sự tương ứng mới nội dung câu truyện
đó.
* Qua giờ âm nhạc
Các tiết học âm nhạc trẻ được tiếp xúc nhiều với đồ vật ( Trống, trống lắc, phách tre
và nhiều vật liệu), trẻ được học những giai điệu vui tươi kết hợp với các loại hoạt động (Vận động theo bài hát một cách nhịp nhàng). Để làm được như vậy đó là nhờ sự hiểu
biết, nhận thức, vốn từ, kỹ năng nhất là sự giao tiếp bằng ngôn ngữ của trể được tích
lũy và lĩnh hội, phát triển tính nghệ thuật, giúp trẻ yêu âm nhạc. Qua những giờ học hát,
vận động theo nhạc, trẻ đã biết sử dụng những hình ảnh đep của bài hát.
Ví dụ :
Hát và vận động bài ” Con voi”
Trẻ biết sử dụng động tác minh họa đơn giản như:
Trông đằng xa kia có con chi to ghê: Trẻ dùng một ngón tay vẫy vẫy
Sao trông giống như xe hơi : Hai tay tạo hình chữ nhật ở trước ngực
Lăn lăn bánh xe đi chơi : Hai tay quay vòng tròn.
À thì ra con voi : Dùng tay chỉ kết hợp với vẫy nhẹ.
Vậy mà đuôi trên đầu: Dùng tay phải đặt giữa đỉnh đầu vẫy nhẹ.
* Phát triển vốn từ của trẻ thông qua chơi.
Đây có thể coi là một trong những hình thức quan trọng nhất. Bởi giờ chơi có tác dụng rất lớn trong việc phát triển vốn từ, đặc biệt là tích cực hóa vốn từ cho trẻ. Thời
gian chơi của trẻ chiếm nhiều nhất trong thời gian trẻ ở nhà trẻ, là thời gian trẻ được
chơi thoải mái nhất. Trong quá trình chơi trẻ được sử dụng các loại từ khác nhau, có
điều kiện học và sử dụng các từ có nội dung rất khác nhau.
Ví dụ:
Trò chơi bế em
Búp bê của bạn ăn chưa ? ( Rồi ạ )
Bạn đã cho búp bê ăn lúc nào vậy? ( Vừa ăn xong )
Điều đó cho thấy giờ chơi không chỉ dạy trẻ kỹ năng chơi mà còn dạy trẻ nghe hiểu, giao
tiếp cùng nhau. Trong quá trình chơi, trẻ được thực hiện nhiều hành động khác nhau
với đồ chơi như vậy trẻ phải sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và phát triển lời nói cho trẻ.
Ví dụ : + Đạt ơi ! Con đang xếp gì đấy ? ( Con xếp đoàn tàu )
+ Con xếp đoàn tàu bằng những hình gì? (Hình vuông, hình chữ nhật, hình tròn ạ)
Như vậy trò chơi sáng tạo cũng góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ.Trong quá trình
chơi trẻ bắt buộc phải giao tiếp với nhau do vậy vốn từ của trẻ được phát triển ngày
một phong phú.
Ví dụ :
Trò chơi bế em, cô nhập vai làm mẹ cho búp bê bú, cho búp bê ăn, búp bê ngủ trẻ sẽ
bắt chước những lời cô nói như : “Con của mẹ ngoan quá!”
Biết hát ru “ à ơi ” cho em bé ngủ. Ngoài trò chơi, phản ánh sinh hoạt, trong giờ chơi, cô
tổ chức cho trẻ chơi những trò chơi học tập nhằm phát triển vốn từ cho trẻ.
Ví dụ :
- Trò chơi bắt chước tiếng kêu của các con vật:
Cô nói Trẻ kêu
Con mèo Mèo meo
Con vịt Cạp cạp
Con chó Gâu gâu
- Trò chơi đoán đặc điểm của các con vât: Cô nói Trẻ nói
Con gà mái Có hai chân
Con chó Có bốn chân
Trong quá trình chơi trẻ được thực hiện nhiều lần, nhiều hành động khác nhau, như
vậy trẻ phải sử dụng ngôn ngữ để tìm tòi, khám phá cách chơi, luật chơi. Cô giáo có vai
trò quan trọng thúc đẩy, kích thích trẻ sử dụng ngôn ngữ và phát triển lời nói mạch lạc,
đúng ngữ pháp của trẻ.
* Qua giờ đón trả trẻ.
– Cô phải tích cực trò chuyện cùng trẻ và yêu cầu trẻ trả lời các câu hỏi của cô rõ ràng.
Trò chuyện với trẻ là hình thức đơn giản nhất để cung cấp vốn từ và phát triển ngôn
ngữ cho trẻ, đặc biệt là phát triển ngôn ngữ mạch lạc. Bởi qua trò chuyện với trẻ, cô
cung cấp, mở rộng ” vốn từ” cho trẻ.
Ví dụ: Bố con tên gì ? ( Bố con tên là Tuấn ạ )
Sáng nay ai đưa con đi học ?( Mẹ con ạ )
Mẹ con đi bằng gì ? ( Xe máy ạ. )
Xe máy kêu như thế nào ? ( xình xịch ạ)
Nhà con có những ai ? ( Ông, bà, bố, mẹ )
* Thông qua các hoạt động khác.
Cung cấp vốn từ cho trẻ thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày.
+ Trong giờ ăn:
Trẻ tiếp nhận được số lượng những từ ngữ mới góp phần làm giầu vốn từ cho trẻ.
Ví dụ : Cô giới thiệu món ăn, hỏi trẻ những chất dinh dưỡng có trong thức ăn. Cô mời
cả lớp ăn cơm. Trẻ mời lại.
+ Trong giờ ngủ:
Cô hát những ca khúc thân thương để hiểu những quy tắc trong giờ ngủ. Ví dụ: Cô hát bài “ Giờ đi ngủ” Khi lắng nghe cô hát thì trẻ nằm đúng tư thế, không nói
chuyện, không nằm sấp.
+ Khi cho trẻ dạo chơi thăm quan:
Dạo chơi thăm quan là loại tiết học đặc biệt nhằm phát triển vốn từ cho trẻ.Trong
giờ dạo chơi, thăm quan, trẻ được trực tiếp quan sát các sự vật hiện tượng phong phú
của cuộc sống. Mục đích của dạo chơi, tham quan là mở rộng tầm hiểu biết cho trẻ, trên
cơ sở đó cung cấp, củng cố một số lượng lớn vốn từ cho trẻ. Để dạo chơi, thàm quan có
hiệu quả, cô giáo cần phải chuẩn bị tốt nội dung cho trẻ quan sát, những từ, câu cần
dạy trẻ. Những câu hỏi yêu cầu trẻ trả lời, những phương pháp, biện pháp cần tích cực
hóa ngôn ngữ cho trẻ.
Ví dụ: Cho trẻ quan sát con gà trống.
Cô phải chọn được vị trí để con gà trống cho mọi trẻ đều quan sát được. Bên cạnh đó
cô cũng cần chuẩn bị một số hệ thống câu hỏi như:
+ Đây là con gì ?
+ Các con nhìn thấy con gà trống đang làm gì?
+ Con gà trống đang ăn gì đấy?
+ Con gà trống có dáng đi như thế nào?
Thường sau một thời gian đi thăm quan về, cô tổ chức đàm thoại về nội dung thăm
quan nhằm củng cố kiến thức thu được trong buổi thăm quan,củng cố và tích cực hóa
vốn từ cho trẻ. Bên cạnh đó cô luôn sửa sai câu nói của trẻ ở mọi lúc mọi nơi đề giúp
trẻ có một nguồn vốn từ phong phú, đa dạng.
* Kết hợp với phụ huynh
Để vốn từ của trẻ phát triển tốt điều không thể thiếu được đó là nhờ sự đóng góp
của gia đình. Cô thường xuyên gặp gỡ nói chuyện về tình hình hoạt động của trẻ
trong lớp qua đó phụ huynh nắm bắt được các nội dung chương trình giáo dục hiện
hành đồng thời hàng ngày cô cũng trao đổi với phụ huynh về ý nghĩa của việc phát triển
vốn từ cho trẻ. Đề phối hợp cùng giáo viên trong việc phát triển vốn từ cho trẻ thì phụ
huynh hàng ngày dành thời gian thường xuyên trò chuyện cùng trẻ cho trẻ được tiếp xúc nhiều hơn với các sự vật hiện tượng xung quanh, lắng nghe và trả lời các câu hỏi của
trẻ. Đối với những cháu mới học nói thì vài trò của phụ huynh trong việc phối hợp với
các cô giáo trong việc trò chuyện nhiều với trẻ là càng cần thiết bởi nó giúp trẻ được
vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống của trẻ, trẻ được giao tiếp, được sửa
phát âm, sửa ngọng.Có như vậy tiếng nói tích cực của trẻ mới được hoàn thiện và trong
sáng.
* Kết quả.
Trải qua quá trình thực hiện bền bỉ 4 tháng liền, liên tục, trẻ lớp tôi đã có những
chuyển biến rõ rệt, phần lớn số trẻ trong lớp đã có một số vốn từ rất khá, các cháu nói
năng mạch lạc, rõ ràng, biết cách diễn đạt ý muốn của mình, mạnh dạn, tự tin hơn trong
giao tiếp, vốn từ của trẻ đã phong phú hơn rất nhiều so với kết quả đầu năm tôi đã khảo
sát.
2. Kết quả trước và sau khi thực hiện đề tài.
+ Bảng kết quả so sánh có đối chứng trẻ đạt ở các nội dung sau 4 tháng áp dụng:
Trước khi áp dụng Sau khi áp dụng
Mức độ nội dung khảo sát
Số lượng trẻ Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ
đạt % trẻ đạt %
1.Kinh nghiệm sống của trẻ thông 4/ 18 22% 14/18 77,7%
qua ngôn ngữ.
2. Kỹ năng phát âm ngôn ngữ. 8/ 18 44,4,% 15/18 83,3 %
3. Vốn từ ngữ của trẻ. 10/ 18 55,6% 15/18 83,3 %
4. Trẻ mạnh dạn giao tiếp trả lời câu 8/ 18 44,4% 16/18 88,8 %
hỏi của cô.
Bên cạnh đó ở lớp tôi có một số cháu đã sử dụng vốn từ các cô cung cấp cũng rất hay
và ngộ nghĩnh trong sinh hoạt hàng ngày. + Trong giờ hoạt động ngoài trời: Cô cho trẻ quan sát vườn hoa, nhiều cháu đã
phát hiện ra bông hoa hồng nhung có cánh hoa “ sắp vòng quanh”. Cách hiểu của các
cháu tuy còn nhiều hạn chế nhưng cháu đã biết sử dụng từ ” Sắp vòng quanh” trong giờ
văn học để ứng dụng vào cuộc sống hàng ngày.
Như vậy các cháu ở lớp tôi đã có những chuyển biến rõ rệt về phát triển vốn từ.
Điều rất mừng là sau 4 tháng “ vốn từ” của các cháu không chỉ tăng lên cả về số lượng
và chất lượng mà các cháu còn biết vận dụng những từ được học ở trên lớp vào sinh
hoạt hàng ngày và sử dụng chúng rất hiệu quả. Phụ huynh đa số hiểu về ý nghĩ của việc
phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
* Phạm vi ứng dụng
Biện pháp này sẽ dễ dàng thực hiện cho học sinh lớp mình và học sinh các
lớp khác trong phạm vi trường mầm non Hữu Sản và các trường mầm non lân cậntheo
nhiều hình thức phong phú hơn, củng cố, hệ thống hoá, chính xác hoá ngôn ngữ nói cho
trẻ. Tôi nhận thấy việc rèn luyện và phát triển vốn từ cho trẻ là cả quá trình liên tục và
có hệ thống đòi hỏi giáo viên phải kiên trì, bền bì, khắc phục khó khăn để tìm ra phương
tiện, điều kiên cần thiết cho sự phát triển toàn diện của các cháu, hơn nữa cô giáo là
người gương mẫu để trẻ noi theo, điều này đã góp phần bồi dưỡng thế hệ măng non
của đất nước, thực hiện mục tiêu của ngành.Vậy muốn có được kết quả trong việc phát
triển vốn từ cho trẻ qua quá trình thực hiện tôi rút ra một số bài học kinh nghiệm sau :
Giáo viên cẩn hiểu rõ tầm quan trọng của ngôn ngữ với việc hình thành và phát
triển nhân cách trẻ, không ngừng học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ,
tự rèn luyện ngôn ngữ của mình để phát âm chuẩn Tiếng Việt.
- Đề phát triển ngôn ngữ của trẻ một cách toàn diện thì cô giao cẩn phải thực hiện ba
nhiệm vụ:
+ Làm giầu vốn từ của trẻ qua việc hướng dẫn trẻ quan sát, đàm thoại, hướng dẫn trẻ
chơi, kể chuyện và đọc truyện cho trẻ nghe.
+ Củng cố vốn từ cho trẻ
+ Tích cực hóa vốn từ cho trẻ - Giáo viên phải biết phối hợp chặt chẽ ba nội dung trên để góp phần tạo điều kiện cho
trẻ lĩnh hội những điều mới lạ về thế giới xung quanh.
- Giáo viên luôn tạo không khí vui tươi, thoải mái cho trẻ, động viên trẻ đi học đều,
tạo điều kiện quan tâm đến những trẻ nhút nhát,dành thời gian gần gũi, trò chuyện vói
trẻ để trẻ mạnh dạn, tự tin tham gia các hoạt động tập thể giúp trẻ
được giao tiếp nhiều hơn.
- Cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường để giáo viên nắm vững đặc
điểm tâm sinh lý của trẻ để từ đó có kế hoạch phát triển vốn từ.
- Tổ chức nhiều trò chơi sử dụng ngôn ngữ
- Cô giáo tạo điều kiện cho trẻ nghe nhiều và nói chuyện nhiều với trẻ, luôn tìm cách
thúc đẩy trẻ sử dụng ngôn ngữ một cách chủ động.
- Tích cực cho trẻ tiếp cận và làm quen với thiên nhiên và phát triển khả năng quan
sát của trẻ, giúp trẻ củng cố và tư duy hóa các biểu tượng ngôn từ.
- Vận động phụ huynh đóng góp các loại hoa, cây cảnh, vật nuôi để xây dựng góc
thiên nhiên phong phú, thông qua các tiết học, cô kết hợp với nội dung phát triển ngôn
ngữ cho trẻ phù hợp.
Tóm lại: Trong tất cả các hoạt động hàng ngày của trẻ ở trường cô phải tích cực trò
chuyện với trẻ, hỏi trẻ để trẻ trả lời, nếu trẻ không trả lời được cô phải biết sử dụng từ
trong tình huống giao tiếp.
7.3: Dự kiến lợi ích có thể thu được trong đơn vị cơ sở.
Đề cho vốn từ của trẻ 24- 36 tháng tuổi được phát triển hơn nữa, theo tôi cần phải
được sự quan tâm đầu tư của các cô giáo trên lớp học và sự quan tâm của ngành giáo
dục đào tạo, nhất là giáo dục mầm non, trong việc phổ biến đến tập thể các giáo viên
những bài thơ, câu truyện,bài hát, trò chơi có những từ giầu hình ảnh, giầu âm thanh ..
Ban giám hiệu nhà trường cần giúp đỡ tạo điều kiện bổ sung những câu truyện,
bài thơ, bài hát, câu đố, mới của sở, bộ ban hành. Phụ huynh và nhà trường làm ” Xã hội
hóa giáo dục” để giúp con em mình có nhiều điều kiện để học tập, trải nghiệm nhiều
hơn. Trên đây là một số kinh nghiệm mà tôi đã áp dụng trong việc phát triển vốn từ của
trẻ lứa tuổi nhà trẻ trong 4 tháng đầu năm học 2021 - 2022. Tôi mong biện pháp của tôi có thể được các đồng nghiệp trong nhà trường áp dụng trong quá trình chăm sóc
giáo dục trẻ trong lớp học của các đồng nghiệp. Nếu biện pháp của mình được áp dụng
tôi tin ngôn ngữ của trẻ sẽ phong phú, trẻ sẽ tự tin hơn trong quá trình giao tiếp.
Biện pháp của cá nhân tôi rất mong nhận được sự góp ý của ban giám hiệu và của đồng
nghiệp để tôi ngày càng có kinh nghiệm dạy dỗ các cháu tốt hơn.
XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG TÁC GIẢ
Hoàng Thị Bẩy
File đính kèm:
kinh_nghiem_phat_trien_von_tu_cho_tre_2436_thang.docx



