Đề tài Một số biện pháp sử dụng trò chơi trong kĩ năng nói Tiếng Anh THCS

doc25 trang | Chia sẻ: Thảo Hoa | Ngày: 02/02/2026 | Lượt xem: 7 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang mẫu tài liệu Đề tài Một số biện pháp sử dụng trò chơi trong kĩ năng nói Tiếng Anh THCS, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO VIỆT YÊN TRƯỜNG THCS VÂN HÀ -------------------------- SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI “MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TRÒ CHƠI TRONG RÈN KỸ NĂNG NÓI TIẾNG ANH THCS” Họ và tên: Dương Thị Việt Giang Đơn vị: Trường THCS Vân Hà Việt Yên, ngày 20 tháng 03 năm 2016 MỤC LỤC Trang PHẦN I: MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ... . .. 2 II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ... ... 3 III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU .. ... ... 3 IV. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU . .. .. 3 V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . . 3 VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI . . .. 3 PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI .. . 4 I. CƠ SỞ LÝ LUẬN . 4 II. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI . .... 5 CHƯƠNG II: CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH ... ... 6 CHƯƠNG III: HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI ... .. 16 PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ I. KẾT LUẬN . 18 II. ĐỀ NGHỊ .... 19 PHỤ LỤC I. BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT . .. . 20 II. TÀI LIỆU THAM KHẢO .. . ... . 20 1 PHẦN I: MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Như chúng ta đã biết việc dạy và học Tiếng Anh trong nhà trường phổ thông đã có những thay đổi lớn về nội dung cũng như phương pháp giảng dạy để phù hợp với mục tiêu và yêu cầu đặt ra cho bộ môn này trong chương trình cải cách. Quan điểm cơ bản nhất về phương pháp mới là làm sao phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh và tạo điều kiện tối ưu cho học sinh rèn luyện, phát triển và nâng cao khả năng, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ vào mục đích giao tiếp chứ không phải việc cung cấp kiến thức ngôn ngữ thuần tuý. Mỗi môn học có những phương pháp giảng dạy riêng và với môn Ngoại ngữ nói chung và với môn Tiếng Anh nói riêng thì phương pháp giảng dạy cần được quan tâm hàng đầu. Để có một tiết học hiệu quả nhất, tạo được cho học sinh sự hứng thú khi tiếp thu bài học thì giáo viên giảng dạy phải là người thực sự có những phương pháp độc đáo, hấp dẫn giúp các em hiểu và nắm được nội dung bài học tốt hơn. Qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy, tôi nhận thấy rằng ngoài kiến thức chuyên môn, phong cách của giáo viên dạy ngoại ngữ thì phương pháp giảng dạy cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc làm học sinh thích thú, tập trung cũng như yêu mến môn học. Hiện có rất nhiều phương pháp giảng dạy mới đã và đang được áp dụng, trong đó tôi thấy việc sử dụng các trò chơi giúp các em phát triển kỹ năng nói thực sự có hiệu quả, học sinh rất hứng thú, tích cực tham gia trò chơi qua đó các em bớt e ngại, rụt rè, cảm thấy hứng thú với môn học và tăng hiệu quả học tập. Các trò chơi sẽ giúp học sinh sử dụng ngôn ngữ một cách tự nhiên trong quá trình giao tiếp, làm thay đổi không khí tiết học và làm bài học bớt căng thẳng, học sinh hiểu bài hơn và tiếp thu kiến thức nhanh hơn nếu giáo viên biết kết hợp trò chơi phù hợp với nội dung bài học để phát triển kỹ năng nói cho học sinh. 2 Với những lí do trên, tôi xin trình bày một số trò chơi ngôn ngữ mà mình đã áp dụng trong quá trình giảng dạy tại các khối lớp, trường THCS Vân Hà để phát triển kỹ năng nói cho học sinh. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Từ thực tế giảng dạy bộ môn Tiếng Anh tại trường trung học cơ sở tôi đã nghiên cứu và áp dụng một số trò chơi ngôn ngữ vào bài học sao cho học sinh cảm thấy hứng thú và yêu thích bộ môn, tiếp thu bài học nhanh và có thể vận dụng từ vựng và ngữ pháp trong bài để phát triển kỹ năng nói, giao tiếp theo chủ đề mà học sinh đã được học theo từng đơn vị bài học và từng bước nâng cao chất lượng đại trà đối với bộ môn này. III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Nghiên cứu các hoạt động trò chơi ngôn ngữ và tổ chức các hoạt động đó một cách có hiệu quả. IV. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Học sinh trường THCS Vân Hà. V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU + Nghiên cứu, tham khảo các tài liệu có liên quan đến đề tài. + Tham khảo kinh nghiệm của các đồng nghiệp. + Thực hành giảng dạy trên lớp. + Đánh giá, so sánh kết quả và đúc rút kinh nghiệm sau mỗi tiết dạy. VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI - Tạo cho học sinh môi trường học tập Tiếng Anh sôi nổi, tự tin có hiệu quả - Thay đổi hình thức tổ chức các hoạt động trong giờ học ngoại ngữ (Tiếng Anh) thông qua các trò chơi ngôn ngữ. - Tạo cho học sinh kỹ năng nói trôi chảy, phản xạ tốt khi giao tiếp. - Đưa ra những phương pháp áp dụng trò chơi hợp lý hiệu quả, cải thiện kỹ năng nói (speaking skill), kỹ năng thực hành ngôn ngữ giao tiếp, đồng thời nâng cao chất lượng môn học. 3 PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI Xuất phát từ quan điểm: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học. Bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh” và quan điểm “lấy người học làm trung tâm”, phương pháp dạy và học đã có những thay đổi căn bản. Người dạy không phải là người truyền đạt kiến thức đơn thuần mà là người hướng dẫn, người hỗ trợ, người cố vấn, người kiểm tra... Người học không còn là người thụ động tiếp thu kiến thức mà là trung tâm của quá trình dạy học, chủ động sáng tạo trong quá trình học tập nhằm đạt được mục tiêu dạy học của mình. Dạy Ngoại ngữ nói chung, Tiếng Anh nói riêng, việc đổi mới phương pháp dạy học là rất rõ ràng và quan trọng đặc biệt là biết sử dụng ngôn ngữ vào giao tiếp.Việc học sinh trực tiếp tham gia vào quá trình học tập, cụ thể là sử dụng ngôn ngữ một cách tự nhiên và linh họat thông qua việc tham gia vào các trò chơi tạo được niềm vui hứng khởi trong học Tiếng Anh, giúp các em tiếp thu bài một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất. Học ngoại ngữ phải có tính hứng thú (enjoyable) các trò chơi ngôn ngữ giúp chúng ta thực hiện điều này. Chúng ta không nên nghĩ rằng các trò chơi ngôn ngữ là phí phạm thời gian học tập. Ngay cả tiếng mẹ đẻ cũng sẽ có những tiến bộ rất nhiều thông qua việc sử dụng các trò chơi. Các trò chơi giúp thay đổi không khí trong tiết học, làm cho bài học bớt căng thẳng và dễ hiểu hơn, giúp người học dễ nhớ và tiếp thu kiến thức một cách có hiệu quả. Đây là những trò chơi rất dễ áp dụng vì tính đơn giản nhưng lại rất hiệu quả và thực tế trong quá trình giảng dạy tôi đã áp dụng và thu được kết quả đáng khả quan. 4 II. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI Là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Tiếng Anh nhiều năm, tôi đã nhận thấy học sinh yếu kém ở môn học này còn nhiều - đặc biệt là kỹ năng nói, chỉ có một số học sinh biết vận dụng ngôn ngữ vào tình huống thực tiễn để giao tiếp, số còn lại các em rụt rè nhút nhát, ngại học tiếng, ngại nói, ngại thực hành tiếng với bạn bè, e sợ mắc lỗi sẽ xấu hổ với bạn bè thầy cô. Một số học sinh nhận thức môn học còn chậm, thụ động trong cách học, ít phát biểu, chưa tích cực trong việc tham gia xây dựng bài học. Kiến thức hiểu biết xã hội còn hạn chế, nên rất khó khăn trong việc thực hành ngôn ngữ, chưa biết vận dụng ngôn ngữ vào tình huống giao tiếp. Điều đó khiến tôi phải trăn trở, suy nghĩ nhiều và cố gắng tìm ra nguyên nhân, từ đó có hướng khắc phục tình, nâng số lượng học sinh khá giỏi lên và hạn chế lượng học sinh yếu kém ở bộ môn. Qua thực tế tôi nhận thấy có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả đó: Trước hết, tỉnh ta chưa có nhiều điểm du lịch hấp dẫn để thu hút khách nước ngoài. Vì vậy các em học sinh không có nhiều cơ hội giao tiếp với người bản ngữ cũng như người nước ngoài nói Tiếng Anh. Cho nên trong thực tế học sinh chỉ nói Tiếng Anh trong giờ học ở trường, còn ra ngoài xã hội dường như các em không có cơ hội để phát huy khả năng của mình và một trong những nguyên nhân nữa khiến số lượng học sinh yếu kém nhiều là do hoàn cảnh gia đình khó khăn hoặc gia đình chưa quan tâm đến việc học tập của các em, điều kiện học tập của các em còn hạn chế, các em không có băng hình, máy móc hỗ trợ cho các em các kỹ năng nghe, nói, thực hành nhiều. Trường học còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất như máy cát sét, tranh ảnh, phòng thực hành tiếng Nhưng nguyên nhân được các em nhắc đến nhiều nhất khi được hỏi ý kiến là do các em cảm thấy không hứng thú với môn học, rằng môn học này khó, các em không có môi trường để giao tiếp hàng ngày nên các em chóng quên, từ đó dẫn đến tiếp thu chậm, lực học của các em không đồng đều. Chính từ thực tế này, nhằm cổ vũ, động viên, kích thích sự ham học của học sinh, tôi cho rằng mỗi giáo viên cần nghiên cứu, áp dụng các trò chơi sao cho phù hợp với nội dung bài dạy, góp phần hướng học sinh vào nội dung bài học và ham muốn được học Tiếng Anh. 5 Muốn thực hiện tốt được điều đó mỗi giáo viên cần hiểu rõ vai trò của trò chơi ngôn ngữ đó là: + Tạo môi trường học tập vui vẻ, tăng hưng phấn và lòng yêu thích học tập bộ môn. + Là phương pháp giảng dạy tích cực lấy người học làm trung tâm. + Tăng động cơ học tập (sự cạnh tranh giữa những người chơi và đội chơi là nhân tố làm tăng mạnh mẽ động cơ học tập, khích lệ học sinh tham gia trò chơi) + Hỗ trợ trong việc rèn luyện kỹ năng nghe, nói của học sinh. + Trò chơi cung cấp sự phản hồi ngay tức thì và thông qua đó kiểm tra kiến thức của học sinh một cách không chính thức. Vì vậy việc thiết lập, tạo những tình huống giao tiếp thông qua trò chơi để phát triển kỹ năng nói cho học sinh là cả một nghệ thuật của người giáo viên. Mỗi thầy giáo, cô giáo cần nghiên cứu, vận dụng các trò chơi vào trong mỗi bài dạy một cách có hiệu quả để nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ phát triển kỹ năng nói, kỹ năng giao tiếp cho học sinh. CHƯƠNG II: CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH Xuất phát từ tình hình thực tế như đã trình bày ở mục lý do đề xuất sáng kiến kinh nghiệm bản thân tôi trong quá trình giảng dạy đã cố gắng tạo ra môi trường nói Tiếng Anh ngay trên lớp học: sử dụng Tiếng Anh trong giao tiếp trên lớp học đến mức độ tối đa có thể: giữa học sinh và giáo viên, giữa học sinh với nhau, nhằm tạo điều kiện cho các em làm quen việc sử dụng Tiếng Anh vào giao tiếp thật và tôi thường xuyên nghiên cứu, vận dụng các trò chơi một cách có hiệu quả để nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ phát triển kỹ năng nói cho học sinh qua từng đơn vị bài học nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh. Xin được trình bày những trò chơi ngôn ngữ mà tôi đã vận dụng trong vài năm học gần đây tại trường THCS Vân Hà. 6 1. Hình thức trò chơi - sử dụng “ Guessing game” - Giáo viên (GV) yêu cầu học sinh (HS) chọn một từ hoặc một câu rồi viết lên tờ giấy không để bạn khác biết rồi gấp lại. GV làm tương tự và yêu cầu HS đoán bằng cách cách sử dụng câu hỏi Yes/ No questions. Từng học sinh sẽ đoán. HS đoán sai cô trả lời bằng "No", HS đoán đúng cô trả lời bằng "Yes" và cô sẽ mở tờ giấy ra để cho học sinh xem câu hoặc từ cô viết. Học sinh đoán đúng sẽ đứng vào vị trí của cô để cho các học sinh khác đoán từ hoặc câu của mình. ( GV có thể hướng dẫn một học sinh làm mẫu thay mình. ) Ví dụ 1: Unit 2: Clothing: Speak (SGK Tiếng Anh 9; trang 14,15) Giáo viên hỏi HS câu hỏi: “What is your favourite type of clothing ?” HS viết loại quần áo mà mình yêu thích vào giấy và gấp lại, không để các bạn khác nhìn thấy. GV cũng viết tên quần áo mình ưa thích vào giấy và yêu cầu HS sử dụng câu hỏi Yes/ No question :” Is ( faded jeans) your favourite type of clothing ? ” .. để đoán. HS đoán sai, cô trả lời “No”. HS đoán đúng cô trả lời "Yes" và mở tờ giấy ra để cho học sinh xem loại quần áo ưa thích của mình. Học sinh đoán đúng sẽ cầm tờ giấy ghi tên quần áo ưa thích của mình đứng vào vị trí của cô để cho các học sinh khác đoán. Trò chơi cứ thế tiếp diễn trong khoảng thời gian GV thiết kế hoạt động. * Trò chơi này có thể áp dụng cho hoạt động trong các bài dạy về thức ăn /đồ uống/ môn thể thao /môn học trong SGK Tiếng Anh 6, 7. (thay thế loại quần áo ưa thích bằng một môn thể thao (thức ăn /đồ uống/ môn học ) ưa thích.) Ví dụ 2: Unit 1: My friends: Speak (SGK Tiếng Anh 8; trang 11,12) Dùng tranh để miêu tả người: 7 Gọi 1 HS đứng trước bảng, chọn 1 trong 6 tranh đã chuẩn bị sẵn và không để các bạn dưới lớp biết mình chọn bức tranh nào. HS được gọi sẽ miêu tả nhân vật trong tranh cho cả lớp cùng nghe: Ex: This person is short and fat. He has a bald head. Các HS khác sẽ đặt câu hỏi đoán: Ex: Is that Mr Lai ? Nếu đúng là người trong tranh mình chọn thì HS đó sẽ đưa quay bức tranh đó lại cho cả lớp xem, sau đó HS đoán đúng sẽ lên thay thế. HS này sẽ chọn tranh khác và miêu tả cho cả lớp đoán. Nếu HS đoán không đúng 2 lần thì HS đang sử dụng tranh là người thắng cuộc. Trò chơi tiếp tục với các tranh khác. Cuối trò chơi, GV tuyên dương khen ngợi các bạn thắng cuộc. Ví dụ 3: Unit 7: My neighborhood: Speak (SGK Tiếng Anh 8 trang 67) Giáo viên cho định nghĩa và yêu cầu học sinh tìm ra các từ hoặc GV đưa ra từ và HS đưa ra định nghĩa. 1. A place where you can buy everything. (Supermarket/ Maket) 2. A.........................................vegetable and fruit. (Grocery) 3. A...................................come and eat. (Restaurant) 4. A .................................. .come to see the movies. (Movie theater) 5. A person who comes to the store and buys something. (Customer) 2. Hình thức trò chơi - sử dụng “ Onion rings ” - Gọi khoảng 10 học sinh lên bảng và tạo thành 2 vòng tròn ( vòng tròn trong và vòng tròn ngoài) - Học sinh ở vòng tròn trong quay lại đối mặt( face to face) với học sinh ở vòng tròn ngoài để tạo thành cặp. - Giáo viên đưa ra nhiệm vụ và yêu cầu học sinh luyện tập ( hỏi và trả lời/ kể lại...rồi chuyển vai/ nhiệm vụ cho nhau) * Đối với trò chơi này học sinh sẽ cảm thấy tự tin khi được thực hành nói với nhiều bạn của mình, được sử dụng nhiều ngữ liệu để giao tiếp. Trò chơi này có 8 thể được sử dụng trong phần Warm up/ While speaking / Post.... Trò chơi này có thể thực hiện được với nhiều nhóm như thế nếu có khoảng không gian rộng. Ví dụ: Unit 3: A trip to the countryside: Write (SGK Tiếng Anh 9 trang 27) GV có thể sử dụng trò chơi này trong phần “Warm up” trước khi vào bài: - GV hỏi “ Have you ever gone on a picnic ?” để vào bài và yêu cầu HS đứng thành hai vòng tròn (vòng trong và vòng ngoài) đối mặt vào nhau. Hỏi và trả lời thông tin về nhau sử dụng các câu hỏi : - Where did you go ? - How did you get there ? - Who did you go with? - What did you buy ? - How did you feel ? ..... - GV giới hạn thời gian. - GV di chuyển quanh vòng tròn để kiểm soát và giúp đỡ HS - Cho học sinh thay đổi vị trí (Học sinh vòng tròn trong (hoặc ngoài) bước một bước sang trái /phải) để có bạn khác thực hành.(new partner to practice). - GV phải đảm bảo rằng HS có bạn mới để thực hành. * GV có thể yêu cầu HS dùng thì quá khứ đơn để hỏi và trả lời về "Last summer vacation" HS sử dụng các câu hỏi (Where did you go ?/ Who did you go with? / What did you buy ?/ How did you feel ?.....) để hỏi và trả lời. ( GV có thể đưa ra nhiệm vụ khác như hỏi về thời tiết các mùa trong năm/ làm gì vào các mùa.../ thích cái gì và tại sao....) 3. Hình thức trò chơi - sử dụng “ Chain game ” Giáo viên có thể chia lớp ra thành các nhóm nhỏ . Một nhóm từ 4-6 em hoặc từ 6-8 em. Học sinh ngồi quay mặt lại với nhau. Em đầu tiên trong cả nhóm lặp lại câu đầu tiên của giáo viên. Học sinh thứ hai lặp lại câu của học sinh thứ nhất và thêm vào một ý khác và cứ tiếp tục như vậy cho đến khi trở lại với học sinh thứ nhất trong nhóm. Các em có thể hoàn thành được nội dung của 9 bài học. Giáo viên chỉ sử dụng hoạt động này khi nội dung bài học ngắn và dễ. Với những bài dài giáo viên nên cho từ gợi ý để học sinh nói dễ dàng hơn. Trò chơi “Chain game” để kiểm tra sự ghi nhớ, cách phát âm/ trọng âm ngữ điệu câu của HS. Với trò chơi này GV có thể cho học sinh chơi theo nhóm (Nhóm nào đặt được nhiều câu chính xác hơn sẽ chiến thắng) hoặc chơi theo cá nhân ( Bạn nào không nhớ được câu của bạn nói trước hoặc không nói nối tiếp được câu sẽ thua và ra khỏi cuộc chơi.Trò chơi tiếp tục cho tới khi còn một bạn cuối cùng. Bạn đó sẽ là người chiến thắng) Ví dụ 1: Unit 7: Saving energy: Speak (SGK Tiếng Anh 9) GV yêu cầu HS làm việc theo nhóm 4 HS và chỉ rõ thứ tự: thứ nhất,thứ hai, thứ ba, thứ tư cho các em biết số thứ tự của mình. GV đưa ra câu hỏi: "What should you do to save energy ? " và yêu cầu HS trả lời, bắt đầu từ HS thứ nhất: - Student 1: I should turn down the gas fire. - Student 2: I should turn down the gas fire and turn off the faucet after use. - Student 3:I should turn down the gas fire, turn off the faucet after use and take a shower instead of a bath. - Student 4 : I should turn down the gas fire, turn off the faucet after use, take a shower instead of a bath and go to school by bike. - Student 1: Bạn nào không nhớ được câu của bạn nói trước hoặc không nói nối tiếp được câu sẽ thua và ra khỏi cuộc chơi. Trò chơi tiếp tục cho tới khi còn một bạn cuối cùng. Bạn đó sẽ là người chiến thắng. Ví dụ 2: Unit 10: Staying healthy or Unit 11: What do you eat? (SGK Tiếng Anh 6) GV cho HS chơi trò chơi " Chain game" để kiểm tra sự ghi nhớ và cách phát âm của HS về các danh từ chỉ đồ ăn, thức uống. GV làm mẫu câu đầu tiên : - Teacher: I go to the market, I buy some apples. 10 - Student 1: I go to the market, I buy some apples and bananas. - Student 2: I go to the market, I buy some apples, bananas and fish. - Student 3: I go to the market, I buy some apples, bananas, fish and chicken. ............... Ví dụ 3 : Với trò chơi này GV có thể áp dụng để luyện cách phát âm của động từ ở thì quá khứ. Trò chơi luyện với thì quá khứ này GV có thể áp dụng được trong nhiều bài học trong SGK Tiếng Anh 7,8,9 Ex: Teacher asks students : "What did you do yesterday? " and says first : "Yesterday, I played badminton." - Student 1: Yesterday, I played badminton and cleaned my house. - Student 2: Yesterday, I played badminton, cleaned my house and did my homework. - Student 3: Yesterday, I played badminton, cleaned my house, did my homework and watched TV. .............. 4. Hình thức trò chơi - sử dụng “ Memory game ” * Trò chơi “Memory game” giúp phát triển kỹ năng nói, kiểm tra sự ghi nhớ của HS (về từ, hình ảnh, hoạt động, vị trí của đồ vật...) và giới từ chỉ vị trí. Ví dụ: Unit 3: At home: Speak (SGK Tiếng Anh 8) - GV cho HS quan sát thật kỹ bức tranh đã chuẩn bị sẵn (trang 28) trong 2 phút để nhớ tên đồ vật và vị trí của chúng. 11 - GV cất bức tranh đi và yêu cầu HS trả lời các câu hỏi : Teacher : Where is the calendar ? Student : The calendar is on the wall, under the clock, above the refrigerator. Teacher : Where are the flowers ? Student : They are on the table. ......................... Sau khi tham gia trò chơi xong giáo viên có thể cho HS dùng tranh ở trang 28 để miêu tả lại toàn bộ bức tranh. 5. Hình thức trò chơi - sử dụng “ Ask and answer” (Hỏi - Đáp) Đây cũng là hình thức luyện cho học sinh có khả năng nói, giao tiếp đối đáp những điều thực tế trong cuộc sống. Ví dụ 1: Unit 9: A first – aid course : Write (SGK Tiếng Anh 8) Khi dạy GV có thể trò chuyện, trao đổi với học sinh về chủ đề viết một lá thư cảm ơn: Ex: Teacher : Have you ever written a thank – you note? Student : Yes, I have / No, I haven’t Teacher : When you write a thank-you note, what should be mentioned in the letter? 12 Student : Date, time, to whom, what my friends gave me, on what vacation, what it was like, how I felt. - GV có thể lần lượt hỏi các em HS khác để luyện khả năng nói của các em. Ví dụ 2: Unit 3: A trip to the countryside: Write (SGK Tiếng Anh 9). Để giới thiệu chủ đề của bài học, giáo viên có thể sử dụng trò chơi “Ask and answer” để trò chuyện với học sinh giúp các em phát triển kỹ năng nói và sử dụng vốn từ, tạo không khí sôi nổi tự tin khi bước vào bài học. Ex: GV hỏi HS một số câu hỏi về chủ đề đi thăm quan, dã ngoại. 1. Have you ever gone on a picnic? 2. Where did you go? 3. How did you get there? 4. What did you do? 5. When did you come back home? 6. Did you enjoy it ? - HS trả lời các câu hỏi theo thực tế của mình, GV có thể đưa ra những lời khen, động viên, lời đồng tình để khuyến khích Hs tự tin tiếp tục trả lời tiếp. 6. Hình thức trò chơi - sử dụng “ Discussion" GV cho HS thảo luận theo cặp đôi, theo nhóm về chủ đề GV đưa ra. Sau đó gọi một số cặp đôi/ nhóm lên trình bày nội dung đã chuẩn bị trước lớp. Cặp đôi/ nhóm nào trình bày hay, đúng trọng âm ngữ điệu, tự tin trong giao tiếp thì chiến thắng. Hình thức trò chơi này giúp các em tự tin khi giao tiếp. 7. Hình thức trò chơi - sử dụng “ Interview or questionaire " * Phỏng vấn là một thủ thuật phổ biến cho luyện tập giao tiếp. Giáo viên cho học sinh làm việc theo cặp, phỏng vấn và ghi lại câu trả lời. - HS làm việc theo cặp để phỏng vấn / hỏi đáp về chủ đề GV đưa ra. HS có thể điền vào bảng hoặc viết lại câu trả lời một cách ngắn gọn.( Tập trung vào kỹ 13 năng nói chứ không phải viết). Sau khi phỏng vấn/hỏi đáp thông tin về bạn xong GV có thể cho HS báo cáo lại. Ví dụ: Unit 12: A vacation abroad: Language focus (SGK Tiếng Anh 8) Để luyện kỹ năng nói về thì quá khứ tiếp diễn dùng để diễn tả hành động đang diễn ra tại thời điểm xác định trong quá khứ, GV yêu cầu HS A phỏng vấn HS B và điền vào bảng: A: What was you doing at 7 o'clock last night ? B: I was having dinner. A: What was you doing at 8 o'clock last night ? B: I was doing my homework. A: What was you doing at 10 o'clock last night ? B: I was watching TV. TIME THINGS TO DO At 7 o'clock last night (have dinner) At 8 o'clock last night (do homework) At 10 o'clock last night (watch TV) Sau khi HS A phỏng vấn thông tin về bạn và điền vào bảng xong, HS A báo cáo lại như sau : At 7 o'clock last night B was having dinner, at 8 o'clock B was doing her/ his homework and at 10 o'clock, B was watching TV. Chú ý : Với loại hình trò chơi này. Chúng ta có thể sử dụng để hỏi về các hoạt động thường ngày, sau đó yêu cầu HS báo cáo lại với ngôi He/She, thay đổi những thông tin cần thiết cho phù hợp như tính từ sở hữu.... Có thể yêu cầu HS tường thuật lại sử dụng lời nói gián tiếp (đối với HS lớp 8; 9) 8. Hình thức trò chơi - sử dụng “ Who are you ?" - GV gọi 10 HS đứng thành một hàng. - GV đưa câu hỏi (Câu hỏi lựa chọn). Hs chọn câu trả lời và đứng về phía bên phải hoặc bên trái tuỳ thuộc vào câu trả lời của HS. - GV yêu cầu học sinh giải thích tại sao chọn thế . 14 Ví dụ : GV gọi 10 HS lên bảng đứng thành một hàng rồi hỏi: " Do you like football or tennis? ". If you like football, stand on the right and If you like tennis, stand on the left. Hoặc GV có thể hỏi :" Do you learn all new words or learn important words?" If you learn all new words, stand on the right and If you learn important words, stand on the left. HS sẽ đứng về phía trái hoặc phải tuỳ theo câu trả lời của mình. Sau đó GV sẽ hỏi : " Why do you choose ...?" HS sẽ trả lời lý do của mình (reasons for her/his choice). 9. Hình thức trò chơi - sử dụng “ Retelling" Giáo viên sử dụng hoạt động này để giúp học sinh kể lại câu chuyện hay bài hội thoại, bài khoá mà các em đã được học dựa vào tranh hoặc từ gợi ý. Ví dụ : Trong Unit 8: Celebrations (SGK Tiếng Anh Lớp 9) - Look at the pictures and cues to introduce the celebration - Tet in Viet Nam. important celebrations // enjoy special food late January or early February wear new clothes clean and decorate * Suggested answer: Tet is the most important celebration in Vietnam. It is in late January or 15 early February. On this occasion, people clean and decorate their homes, they wear new clothes and enjoy special food such as sticky rice cakes. 10. Hình thức trò chơi - sử dụng “ If I " Chia lớp ra thành 2 đội bằng nhau, thành viên mỗi đội sẽ lấy ra một tờ giấy nhỏ để viết lên ước mơ của mình sử dụng câu điều kiện loại 1. Đội 1 sẽ ghi phần “If I ”, đội 2 sẽ ghi phần kết thúc. Hoặc nếu số lượng nam nữ khá tương đối thì chia ra đội nam và đội nữ. Thường thì các bạn nữ lãng mạn hơn nên sẽ cho ghi phần “If I ” còn phần còn lại sẽ được các bạn nam lạnh lùng kết thúc. Đội 1 sẽ là đội của những người viết toàn những câu Tiếng Anh được bắt đầu bằng chữ “If I ” có ý nghĩa đồng thời đội 2 sẽ là đội của những người viết toàn những câu Tiếng Anh được bắt đầu bằng chữ “I will ”. Sau khi viết xong, các tờ giấy sẽ được bỏ vào 2 chiếc hộp / chiếc mũ, một chiếc đựng phần “If I ” và một đựng phần “I will ”. Mỗi đội cử ra 5 đại diện lần lượt từng đội cử đại diện của mình lên bốc 2 tờ ở 2 hộp/ mũ rồi đọc ghép lại to cho mọi người nghe. Nếu hay và có ý nghĩa, đúng trọng âm ngữ điệu thì sẽ ghi điểm. Đội nào ghi được nhiều điểm hơn là đội chiến thắng. Lưu ý: Sử dụng câu điều kiện loại I. CHƯƠNG III: HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI Qua quá trình thực tế giảng dạy ở các khối lớp, khi áp dụng đưa các trò chơi vào các tiết học tôi thấy có hiệu quả rõ rệt đặc biệt là trong kỹ năng nói của học sinh. Trò chơi có sức lôi cuốn, hấp dẫn học sinh học tập nhiều hơn, gây nên sự hứng thú học tập ở mỗi học sinh, học sinh tập trung vào bài học hơn. Giúp cho việc truyền đạt kiến thức của giáo viên có hiệu quả nhiều so với trước. Việc 16 tiếp thu bài của học sinh có tiến bộ rõ rệt. Đầu năm có rất nhiều em còn sợ học bộ môn, không thích học vì cho rằng nó khó hiểu, khó tiếp thu, đến nay chất lượng học đã tăng khá đồng đều. Đại bộ phận đa số các em đã thích học môn Tiếng Anh, ở các tiết học có phần sôi nổi hơn, lượng học sinh tham gia phát biểu xây dựng bài khá nhiều, góp phần làm cho giờ học sinh động. Chất lượng học tập của học sinh dần được nâng cao. Kết quả cuối học kỳ tốt hơn so với đầu năm: Trong học kì I của năm học 2016- 2017 tôi đã nghiên cứu, áp dụng các biện pháp trên và thu được kết quả của khối lớp 9 như sau : Đầu học kì I Học sinh hứng thú học và biết vận Kết quả kiểm tra STT Lớp Sĩ dụng kiến thức để tái tạo ngôn ngữ đầu học kì số Số lượng % Điểm >5 % 1 9A 34 14 41.2 17 50 2 9B 33 12 36.4 15 45.5 Chú ý: Đầu học kỳ I - Lớp 9B không áp dụng phương pháp này. (kết quả không cao) - Lớp 9A áp dụng phương pháp này. (kết quả cao hơn 9B) - Trình độ học sinh 2 lớp 9A, 9B là tương đương nhau. Cuối học kì I - Lớp 9A, 9B áp dụng phương pháp này. - Lớp 9A vẫn áp dụng phương pháp này từ đầu học kỳ I. Học sinh hứng thú học và biết vận Kết quả kiểm tra STT Lớp Sĩ số dụng kiến thức để tái tạo ngôn ngữ cuối học kì. Số lượng % Điểm > 5 % 1 9A 34 20 58.8 25 73.5 2 9B 33 17 51.5 22 66.6 17 Tôi đã vận dụng những biện pháp này trong học kì I năm học 2016-2017 kết quả của học sinh tương đối khả quan. Kết quả thu được cho thấy chất lượng học tập của học sinh tăng lên rõ rệt. Tỷ lệ học sinh hứng thú học và biết vận dụng kiến thức để tái tạo ngôn ngữ sau mỗi bài học và kết quả kiểm tra của lớp 9B cuối học kì có tăng hơn đầu học kỳ . Lớp 9A đầu kì có áp dụng phương pháp này đến cuối kì theo đà vẫn tăng hơn đầu kì . Tôi sẽ tiếp tục vận dụng và tham khảo ý kiến đồng nghiệp để sáng kiến này càng hoàn thiện và hiệu quả hơn. PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ I. KẾT LUẬN Qua thời gian áp dụng đưa trò chơi vào các tiết học để phát triển kỹ năng nói của học sinh trong thời gian qua, tôi thấy biện pháp sử dụng trò chơi đóng vai trò hỗ trợ tích cực trong việc giảng dạy ngoại ngữ nói chung và Tiếng Anh nói riêng. Nó là một trong những biện pháp hữu hiệu, là động lực thúc đẩy học sinh tích cực tham gia học tập, nghiên cứu, động não bài học. Chúng tạo nên những tình huống, ngữ cảnh, giúp luyện tập kỹ năng nói của học sinh trở nên có ý nghĩa, gây hứng thú, giúp học sinh tiếp thu bài nhanh, góp phần nâng cao chất lượng học tập của học sinh và hiệu quả giảng dạy của người thầy. Như vậy, việc sử dụng trò chơi để phát triển kỹ năng nói không chỉ tạo không khí vui vẻ, phấn khởi học tập ở học sinh mà còn là một thủ thuật có khoa học, sáng tạo của người giáo viên. Biết lồng ghép sao cho phù hợp với đề nội dung bài dạy. Kích thích sự say mê học tập, nghiên cứu ở mỗi học sinh. Chúng ta cần nhìn nhận các trò chơi như một việc làm bổ ích cho các đối tượng học sinh. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có những mặt trái của nó như sự ồn ào làm ảnh hưởng tới các lớp học khác vì khi thực hiện trò chơi học sinh rất hiếu động không làm chủ được, có khi cười rất to, reo hò cổ vũ Vì vậy giáo viên phải thực sự là người chủ trò năng động, giải quyết mọi tình huống bất ngờ có thể xảy ra thì mới mong thực hiện trò chơi một cách hiệu quả được.Vì vậy việc thiết lập, tạo 18 những tình huống giao tiếp thông qua trò chơi để phát triển kỹ năng nói cho học sinh là cả một nghệ thuật của người giáo viên. Mỗi thầy giáo, cô giáo cần nghiên cứu, vận dụng các trò chơi vào trong mỗi bài dạy một cách có hiệu quả để nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ phát triển kỹ năng nói cho học sinh. Chúng ta cũng vì thế hệ trẻ tương lai, vì đất nước mai sau, cố gắng làm hết sức mình để đầu tư một vốn kiến thức ngoại ngữ nhất định nào đó cho mỗi học sinh. Giúp học sinh sau này sử dụng vốn ngoại ngữ cơ bản của mình, áp dụng làm nền tảng cho việc thực tập, đi sâu nghiên cứu các lĩnh vực chuyên ngành cũng như lĩnh hội nguồn tri thức dồi dào của nhân loại. Bởi vì ở thế kỷ XXI là thế kỷ của khoa học công nghệ mà vốn kiến thức Tiếng Anh đó là nền tảng cho việc giao lưu, học hỏi với các nước trên toàn thế giới. II. ĐỀ NGHỊ Đối với tổ chuyên môn : Tổ chức báo cáo chuyên đề liên quan đề tài tôi đã nghiên cứu để tiếp tục phát huy hướng giảng dạy tích cực, áp dụng trò chơi ngôn ngữ vào bài giảng. Trên cơ sở đó tôi sẽ có điều kiện phát huy đề tài nghiên cứu, hoàn thiện thêm đề tài, mở rộng phạm vi áp dụng. Đối với nhà trường: Không biên chế lớp quá 35 HS/ lớp vì không gian hẹp sẽ ảnh hưởng đến việc tổ chức các hoạt động trên lớp. Nên có phòng học Tiếng Anh riêng tách biệt để khi tổ chức các hoạt động không ảnh hưởng đến các lớp học khác. Đối với Phòng giáo dục và địa phương: Cần quan tâm hơn nữa đến môn Tiếng Anh cũng như phong trào học Tiếng Anh, tạo điều kiện hơn nữa để nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn như: xây dựng phòng chức năng, đầu tư phương tiện nghe nhìn như băng đĩa, đài, máy chiếu, tranh ảnh và các tài liệu tham khảo dành cho cả giáo viên và học sinh. Những vấn đề được trình bày trên đây chỉ là ý kiến nhỏ, chủ quan của riêng tôi trong việc sử dụng các trò chơi vào các tiết dạy để phát triển kỹ năng nói ở bộ môn Tiếng Anh THCS, sẽ có những hạn chế mà bản thân không nhìn thấy hết được. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của đồng nghiệp, của ban giám khảo để sáng kiến được hoàn chỉnh hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn. 19

File đính kèm:

  • docde_tai_mot_so_bien_phap_su_dung_tro_choi_trong_ki_nang_noi_t.doc