Biện pháp rèn tính tự lập cho trẻ mẫu giáo lớp 4-5 tuổi A4 Trường mầm non Hồng Thái
Bạn đang xem trước 20 trang mẫu tài liệu Biện pháp rèn tính tự lập cho trẻ mẫu giáo lớp 4-5 tuổi A4 Trường mầm non Hồng Thái, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. LÝ DO VIẾT SÁNG KIẾN
Những năm gần đây giáo dục mầm non được xã hội đặc biệt quan tâm. Sự
nghiệp giáo dục mầm non là sự nghiệp chung của toàn xã hội. Đặc biệt là trường
mầm non có một vị trí quan trọng, là cơ sở ban đầu để hình thành nhân cách con
người mới Xã hội chủ nghĩa. Phát triển một cách toàn diện có đủ năng lực để đáp
ứng với sự đổi mới của nhân loại.
Giáo dục tính tự lập cho trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non là một trong những
mặt quan trọng của việc giáo dục con người mới phát triển toàn diện, có ảnh hưởng
sâu sắc đến sự hình thành nhân cách trẻ. Tự lập giúp cho con người nói chung, trẻ
em nói riêng nhận ra được khả năng của mình và ý nghĩa của cuộc sống phương
pháp giáo dục là: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng
tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực
hành, lòng say mê học tập và ý trí vươn lên”. Hay nói cách khác, giáo dục phải
phát huy tính tự lập cho người học, điều đó nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới và
phát triển của xã hội. Để trẻ nhanh chóng thích nghi với sự phát triển của xã hội,
hòa nhập với cuộc sống mới thì việc hình thành tính tự lập cho trẻ ở những năm
đầu tiên của cuộc đời trẻ là rất cần thiết, đặc biệt là ở giai đoạn trẻ tuổi mẫu giáo.
Đối với trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi thì đây chính là giai đoạn hình thành và phát
triển tính tự lập của trẻ, các mặt phát triển của trẻ hoà quyện vào nhau, ảnh hưởng
lẫn nhau, không tách biệt rõ nét. Trẻ rất nhạy cảm với tác động bên ngoài, đồng
thời đây cũng là lúc trẻ phát triển rất nhanh về mọi mặt. Vậy hoạt động lao động
sư phạm của cô giáo mầm non đòi hỏi phải rất linh hoạt, nhạy bén, kịp thời, phải
có sự sáng tạo để phát hiện và đáp ứng những nhu cầu phát triển của trẻ.
Nghiên cứu đặc điểm phát triển tính tự lập của trẻ, từ đó tìm ra một số biện
pháp rèn tính tự lập cho trẻ mấu giáo 4- 5 tuổi, giúp trẻ có sự mạnh dạn tự tin hơn
trong cuộc sống, hình thành nhân cách sau này.
Thông qua đó nâng cao tính tự lập của trẻ trong trường mầm non. Giúp giáo
viên xác định được những đặc điểm sinh lý và tâm lý của trẻ trong lứa tuổi mẫu
giáo, để từ đó có những phương pháp giúp trẻ tham gia vào các hoạt động một cách
phù hợp, tích cực hơn. Đồng thời có nhận thức sâu sắc và đúng đắn về tầm quan
trọng của việc phát triển tính tự lập cho trẻ lứa tuổi 4-5 tuổi ở Trường mầm non.
Hoạt động sư phạm của giáo viên có mục đích, có định hướng để giáo dục
và phát triển tính tự lập của trẻ cũng như giúp trẻ phát triển toàn diện về các mặt:
“đức, trí, thể, mỹ”. Chính vì vậy, hoạt động sư phạm của giáo viên cần hết sức
linh hoạt, nhạy bén, kịp thời, phải có sự sáng tạo để phát hiện và đáp ứng nhu cầu
của trẻ và để đạt được mục tiêu giáo dục.
Là một cô giáo mầm non, tôi luôn có những suy nghĩ trăn trở làm sao để
dạy các con tự lập, tự tin sáng tạo trong cuộc sống. Vì thế tôi đã dạy các con thông
qua các môn học khác nhau và dạy các con ở mọi lúc mọi nơi qua các hoạt động
hàng ngày, từ đó trẻ khám phá hiểu biết về mọi sự vật hiện tượng, về thế giới xung 2
quanh trẻ, phát triển tư duy. Tôi thấy trẻ rất thích được giao tiếp, thích được trò
chuyện và thích được thể hiện bản thân, thích được làm những việc mình thích và
giúp đỡ mọi người xung quanh, vì thế lên tôi phải tìm nhiều biện pháp tác động
để kích thích tính tự lập của trẻ phát triển. Việc hình thành và phát triển tính tự
lập không thể tách rời giữa các môn học cũng như các hoạt động của trẻ. Tôi thấy
mình cần phải đi sâu tìm hiểu kỹ vấn đề này để từ đó rút ra nhiệm vụ giáo dục cho
phù hợp với yêu cầu phát triển của lứa tuổi. Chính vì vậy, tôi đã chọn và nghiên
cứu đề tài “Biện pháp rèn tính tự lập cho trẻ mẫu giáo lớp 4 - 5 tuổi A4 Trường
mầm non Hồng Thái”
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
1. Đối với trẻ
Giúp cho trẻ phát triển toàn diện, hài hòa về nhân cách. Ngoài ra biện pháp
còn giúp cho trẻ hiểu và biến những kiến thức về kỹ năng sống mà trẻ tiếp nhận
được thành những hành động cụ thể như ứng phó với nhiều tình huống, cách giao
tiếp, ứng xử với mọi người và đặc biệt là cách giải quết mâu thuẫn trong các mối
quan hệ và thể hiện bản thân một cách tích cực.
2. Đối với giáo viên
Giúp giáo viên hiểu rõ tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng sống cho trẻ,
để từ đó bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nhận thức đúng bản
chất của việc dạy kỹ năng sống cho trẻ, tôn trọng tính tự do, tự nguyện và nhu cầu
tâm sinh lý của trẻ.
Chủ động sáng tạo, linh hoạt, nhanh nhạy giúp trẻ lĩnh hội kỹ năng hàng
ngày có hiệu quả vào trong mọi hoạt động của mình. Từ đó có những biện pháp
phù hợp nhằm giúp trẻ thể hiện và phát triển hết khả năng hiểu biết của trẻ, có
định hướng phù hợp trong việc chăm sóc giáo dục trẻ.
3. Đối với phụ huynh
Giúp cho phụ huynh hiểu được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc rèn kỹ
năng sống cho trẻ
Giúp phụ huynh có thêm những kiến thức mới trong việc dạy trẻ kỹ năng
trong gia đình
Góp phần cùng nhà trường thực hiện tốt phong trào "Xây dựng trường học
thân thiện và học sinh tích cực".
Nâng cao hiệu quả của việc giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo ở trường
Mầm non Hồng Thái, tạo điều kiện cho trẻ được rèn luyện tính tự lập thông qua
các hoạt động học tập và các hoạt động sinh hoạt tự phục vụ bản thân phù hợp với
khả năng của trẻ để trẻ nhanh chóng thích nghi với sự phát triển của xã hội, hòa
nhập với cuộc sống mới giúp trẻ phát triển một cách toàn diện.
Rút ra những bài học kinh nghiệm, những biện pháp chăm sóc giáo dục trẻ
Tự học tập, rèn luyện năng lực chuyên môn của bản thân 3
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu: “Biện pháp rèn tính tự lập cho trẻ mẫu giáo lớp
4 - 5 tuổi A4 Trường mầm non Hồng Thái”
2. Phạm vi
Nghiên cứu nhóm kỹ năng phát triển tình cảm- kỹ năng xã hội: Lễ giáo, vận
động, tự phục vụ, hợp tác chia sẻ...
Trẻ mẫu giáo lớp 4-5 tuổi A4 Trường mầm non Hồng Thái - Thị xã Việt
Yên - Bắc Giang
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Tìm ra những phương pháp rèn tính tự lập cho trẻ.
Sử dụng lời nói ngắn gọn, từ ngữ ngắn gọn, dễ hiểu và các kỹ năng sống cơ
bản đơn giản. Giúp cho trẻ phát triển thể lực, nhận thức, tình cảm thông qua các
hoạt động hàng ngày.
Rèn cho trẻ một số kỹ năng mà trẻ chưa biết. Góp phần giáo dục trẻ toàn
diện theo các mặt: Đức - trí - thể - mỹ và lao động
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phương pháp nghiên cứu
2. Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
3. Phương pháp đàm thoại
4. Phương pháp quan sát
5. Phương pháp thực hành luyện tập
6. Phương pháp sử dụng tình huống
7. Phương pháp nêu gương khích lệ
VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA SÁNG KIẾN
Điểm mới của đề tài này là đã sử dụng một số biện pháp mới, có tính khả
thi cao, phù hợp với tình hình thực tế của trường mầm non Hồng Thái, tác động
và có hiệu quả rất lớn về chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ.
Qua sáng kiến giúp giáo viên nâng cao năng lực sư phạm, nắm chắc chuyên
môn, có sự hiểu biết về việc đổi mới phương pháp, hình thức học tập cho trẻ 4-5
tuổi. Từ đó tạo ra được môi trường hoạt động tốt, tạo cơ hội để trẻ phát huy khả
năng của mình, giáo viên tạo điều kiện cho trẻ được hoạt động dưới nhiều hình
thức thì việc phát triển tính tự lập cho trẻ sẽ đạt kết quả cao.
Giúp trẻ 4-5 tuổi mạnh dạn tự tin trước mọi người, làm cho trẻ thấy mình
đã lớn và làm được những việc có ích cho bản thân, mọi người.
PHẦN II: NỘI DUNG 4
I.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.
1. Cơ sở lý luận:
Tuổi mầm non là lứa tuổi cần sự quan tâm đặc biệt của cha mẹ và cô giáo.
ở giai đoạn này, những mối quan hệ, có những sự vật, hiện tượng xảy ra xung
quanh trẻ đều có tác động rất lớn đến bản thân trẻ. Vì vậy cha mẹ và cô giáo đều
mong muốn dạy trẻ những điều hay, lẽ phải, những thói quen tốt và những hành
vi có đạo đức để hình thành nhân cách cho trẻ sau này
Tự lập là một đức tính tốt nhưng nó không tự nhiên mà có, để hình thành là
cả một quá trình rèn luyện giáo dục và phải bắt đầu ngay từ khi trẻ còn nhỏ. Trẻ
từ khi lọt lòng đến 6 tuổi là giai đoạn phát triển quan trọng giai đoạn vàng trong
cuộc đời mỗi con người. Đây là giai đoạn của sự tăng trưởng rất nhanh về thể chất
và phát triển các mặt của trí tuệ, tình cảm và ý thức xã hội, giai đoạn tạo tiền đề
quan trọng của sự hình thành nhân cách con người. Nhà giáo dục vĩ đại A.X
Mascrencô đã khẳng định: “Những cơ sở căn bản của nhân cách con người đã
được hình thành từ trước tuổi lên 6. Những điều dạy trẻ trong thời kì này chiếm
tới 90% tiến trình giáo dục trẻ, về sau việc giáo dục con người vẫn tiếp tục
nhưng lúc đó là lúc bắt đầu nếm quả, còn những nụ và hoa thì đã được vun
trồng từ 6 năm đầu tiên”. Từ cơ sở này cho thấy, nếu không làm tốt việc chăm
sóc giáo dục trẻ trong những năm đầu thì việc giáo dục sau này sẽ vô cùng khó khăn.
Để hình thành và phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ, tạo tiền đề cho các
bậc học tiếp theo thì việc giáo dục tính tự lập cho trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non là
việc làm hết sức quan trọng và cấp thiết không thể thiếu được trong chương trình
chăm sóc, giáo dục trẻ.
2. Cơ sở thực tiễn.
* Thuận lợi:
Trường mầm non Hồng Thái nằm trên địa bàn Thị Xã Việt Yên có khung
cảnh sư phạm đẹp.
Trường đạt trường chuẩn Quốc gia, đạt kiểm định chất lượng mức độ 2
Môi trường lớp học thường xuyên được cải tạo và làm mới theo tiêu chí xây
dựng trường mầm non xanh, sạch, đẹp, an toàn, thân thiện. Đồ dùng, đồ chơi
phong phú về chủng loại, hấp dẫn thu hút trẻ đến trường.
Năm học 2023- 2024 tôi được phân công phụ trách lớp 4-5 tuổi A4 bản thân
có trình độ đại học.
* Khó khăn:
Kỹ năng hoạt động của trẻ còn hạn chế
Một số trẻ được bố mẹ quá nuông chiều, một số trẻ lại quá hiếu động nhưng
không biết tự phục vụ bản thân, không biết giữ gìn vệ sinh cơ thể mà thường phụ
thuộc vào bố mẹ và cô giáo. 5
Phần lớn giáo viên đã thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng tự lập cho trẻ
nhưng phần lớn chỉ dừng lại ở mức độ thi thoảng, giáo viên chưa thường xuyên
đánh giá sau mỗi việc làm của trẻ.
Vì vậy để hình thành và phát triển tính tự lập cho trẻ nói chung và trẻ mẫu
giáo 4-5 tuổi nói riêng giáo viên mầm non phối kết hợp với cha mẹ trẻ có những
biện pháp giáo dục phù hợp nhằm phát huy khả năng tự lập, làm cơ sở cho sự hình
thành nhân cách cho trẻ sau này.
Phụ huynh nhận thức về sự cần thiết của việc giáo dục tính tự lập cho trẻ
còn hạn chế
Phụ huynh chưa đánh giá hết được khả năng của trẻ, họ cho rằng trẻ còn
nhỏ, người lớn cần giúp đỡ trẻ trong mọi công việc.
Do kinh tế gia đình phát triển, điều kiện vật chất đầy đủ mỗi gia đình chỉ có
từ 1 đến 2 con dẫn tới việc phụ huynh nuông chiều con, dẫn đến việc hình thành
thói quen luôn thụ động trong mọi công việc, ỉ lại, dựa dẫm vào người lớn.
II. THỰC TRẠNG CỦA SÁNG KIẾN.
1. Hiện trạng của vấn đề
Là giáo viên phụ trách lớp 4-5 tuổi. Đầu năm khi được phân công chủ nhiệm
lớp với tổng số trẻ ra lớp được 29 cháu. Trong đó có 29 cháu đã học qua nhóm
lớp 3- 4 tuổi đạt 100%. Đa số các cháu đã quen với trường lớp, và môi trường học
tập, ăn ngủ ở lớp. Để nắm được cụ thể khả năng ban đầu của từng trẻ, vào đầu
năm học tôi đã tiến hành khảo sát đánh giá đúng khả năng của trẻ để có phương
hướng phấn đấu đạt được kết quả cao trong giảng dạy, ngay từ đầu năm học tôi
đã tiến hành khảo sát đánh giá xếp loại về tính tự lập của trẻ:
Số trẻ thực hiện được yêu cầu được xếp loại chung như sau:
Đạt Chưa đạt
Tổng
Nội dung giáo dục
TT số trẻ
tính tự lập Số trẻ Tỉ lệ % Số trẻ Tỉ lệ %
1 - Kỹ năng tự phục vụ
29 11 38% 18 62%
bản thân.
- Kỹ năng giữ gìn vệ
2 29 12 41,3% 17 58,7%
sinh.
- Kỹ năng hỗ trợ người
3 29 10 34,4% 19 55,6%
khác.
Sự phát triển của công nghệ thông tin và nền công nghiệp hóa đã có tác động
phần nào đến môi trường sống nói chung và sự phát triển tính tự lập nói riêng. 6
Ví dụ: trẻ xem ti vi, máy tính, điện thoại nhiều không quan tâm đến việc tự
phục vụ bản thân, bố mẹ đi làm ca kíp chưa quan tâm đến con...
Đội ngũ giáo viên trẻ, đôi khi còn hạn chế trong giao tiếp và kinh
nghiệm rèn tính tự lập cho trẻ.
Trẻ còn nhỏ nên chưa nhận thức được việc tự lập trong sinh hoạt hàng ngày
nhận thức và tiếp thu của trẻ không đều nhau.
Một số trẻ còn nhút nhát rụt rè, chưa linh hoạt chưa biết diễn đạt ý muốn
của mình.
Một số trẻ thì được tự lập làm những công việc của mình nhưng chưa có
người lớn dẫn dắt nên chưa có nề nếp
Phụ huynh có nhận thức về tầm quan trọng của việc giáo dục tính tự lập với
trẻ nhưng nhận thức chưa đầy đủ và có phương pháp nhưng chưa phù hợp
Do phường Hồng Thái là một phường gần khu công nghiệp nên phụ huynh
là công nhân mải làm ăn ít quan tâm nên chưa tạo được sự tích cực từ hai phía.
Do 1 số gia đình sinh ít con nên chiều chuộng con thích gì được đấy không
để con tự làm nên không hình thành tính tự lập.
2. Những hạn chế cần giải quyết
Để đánh giá thực trạng về biện pháp rèn tính tự lập cho trẻ mẫu giáo lớp 4
- 5 tuổi cách khách quan, ngoài việc kết quả thể hiện trên phiếu và việc rèn trẻ ở
các tiết học tôi còn kết hợp cùng giáo viên trong lớp trò chuyện cùng trẻ, giúp trẻ
có kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng về sinh cá nhân và giúp đỡ người khác khi tham
gia hoạt động, rèn kỹ năng sống hàng giải quyết các tình huống xảy ra trong các
hoạt động, cách giải quyết vấn đề hiệu quả cho trẻ.
Nhằm khắc phục hiện trạng của vấn đề giáo viên cần chủ động trong việc
sáng tạo dạy và học. Cần thay đổi môi trường học, làm mới không gian lớp học,
sử dụng đồ dùng tối thiểu đồ dùng tự làm, tận dụng đồ dùng trực quan sẵn có trong
môi trường phục vụ tiết dạy. Giáo viên cần lựa chọn đề tài sao cho phù hợp với
môi trường hoạt động, đảm bảo chính xác về kỹ năng theo từng nội dung cho trẻ.
Giáo viên cần chú trọng xây dựng chương trình cụ thể, nhằm nâng cao chất
lượng việc rèn kỹ năng sống cho trẻ, bên cạnh đó cần chú ý đến cá nhân trẻ, tạo
cho trẻ các tình huống kỹ năng sống tự lập, từ đó giúp trẻ tiến bộ về mọi mặt.
III. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Giải pháp 1: Xây dựng kế hoạch giáo dục rèn tính tự lập cho trẻ.
Để có kết quả rèn luyện tính tự lập tốt, đầu năm học, tôi đã lên kế hoạch
giáo dục các kỹ năng tự lập cho trẻ. Các kỹ năng này sẽ được thực hiện và rèn
mọi lúc mọi nơi trong suốt cả năm học.
Hoạt động Một số kỹ năng tự lập 7
HĐ đón, trả - Tự cất, lấy ba lô. Cất, lấy dép khi đến lớp và khi ra về.
trẻ, thể dục - Tự lấy dụng cụ thể dục và về hàng tập thể dục khi có hiệu lệnh,
sáng cất dụng cụ khi tập xong.
HĐ học - Chủ động thực hiện bài của mình dưới sự hướng dẫn gợi ý của cô
- Tự kê bàn, tự kê ghế.
- Tự lấy sắp xếp đồ dùng học tập.
- Tự thu bài theo tổ trưng bày hoặc nộp cho cô và cất đồ dùng, bàn
ghế khi học xong. (Có sự phân công trực nhật)
HĐ góc - Trẻ biết chọn góc và nhập vai chơi.
- Tự xoay góc theo hướng dẫn của cô.
- Tự lấy đồ dùng, đồ chơi theo nhu cầu sở thích.
- Sau hoạt động tự cất đồ dùng, đồ chơi đúng nơi quy định.
HĐ ngoài - Tự lựa chọn nhóm chơi, tự lấy đồ dùng và cất dọn đồ dùng sau
trời khi chơi xong.
- Phân công lao động nhặt rác, lá cây trên sân.
HĐ ăn, ngủ, - Biết rửa tay trước khi ăn, súc miệng nước muối và lau miệng sau
vệ sinh khi ăn xong.
- Tự kê bàn ăn, lấy ghế, cất bàn, ghế sau khi ăn xong.
- Phân công trực nhật lấy đĩa, khăn lau tay, lau bàn ăn, trước và sau
khi ăn xong, lấy thìa, bê cơm cho các bạn.
- Tự cất thìa, bát, sau khi ăn xong.
- Tự lấy giường, gối, chăn, chuẩn bị giờ ngủ. Sau khi ngủ dậy, tự
cất chăn, gối, giường của mình.
- Có
ý thức rửa tay khi tay bẩn. Biết bỏ rác vào thùng đúng nơi quy định.
HĐ chiều
- Phân công lao động vệ sinh lớp cùng cô 1 lần trong 1 tuần.
- Tự lấy đồ dùng đồ chơi phục vụ cho hoạt động.
- Tự cất đồ dùng đồ chơi khi hoạt động xong.
- Biết vệ sinh rửa tay lau mặt trước khi về.
- Biết nhận xét, biết nêu gương, biết bình cờ.
- Tự cất ghế của mình trước khi về. 8
Đây là những kỹ năng, những việc làm thiết thực, phù hợp với lứa tuổi của
trẻ giúp hình thành tính tự lập cho trẻ ngay từ khi còn bé.
2. Giải pháp 2: Tạo môi trường gần gũi, an toàn để trẻ phát huy tính tự
lập của bản thân trẻ.
Một trong những bí quyết dạy trẻ tính tự lập, chính là tạo môi trường gần
gũi, an toàn, giúp trẻ phát huy tính tự lập của bản thân. Bởi bất cứ đứa trẻ nào
cũng có năng lực tự lập, chỉ cần cô giáo, người lớn chúng ta biết khuyến khích và
cho trẻ có cơ hội được thực hiện những điều con có thể làm. Việc tạo môi trường
gần gũi, an toàn cho trẻ, chính là một trong những điều kiện giúp trẻ phát huy tính
tự lập của mình.
Vào đầu năm học, tôi tiến hành thiết kế các khu vực của lớp học ngăn nắp,
trật tự, phù hợp, thuận tiện, để phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày của trẻ, phù hợp
với khả năng của trẻ theo độ tuổi, phù hợp với chủ đề trong năm.
Tôi đã tận dụng các đồ dùng đơn giản, dễ kiếm, lành tính, hạn chế tối đa sự
nguy hiểm cho trẻ khi va chạm, để tạo ra nhiều đồ dùng, đồ chơi hấp dẫn. Cụ thể:
Đồ dùng, dụng cụ để trẻ tự phục vụ cá nhân (Ca, bàn chải, khăn mặt, chậu, xô
có hình dạng gần gũi với sở thích của trẻ, như hình mặt cười, hình quả táo, quả
cam ). Dán các ký hiệu cá nhân cho từng trẻ, đảm bảo ký hiệu đó phải được trẻ
yêu thích, dễ nhớ, gần gũi với trẻ, để trẻ dễ nhận ra, đồng thời thu hút sự chú ý,
kích thích trẻ thích thú tham gia vào thực hiện lao động tự phục vụ trong sinh hoạt
hàng ngày.
Lựa chọn đồ dùng, đồ chơi dễ làm, dễ thực hiện, để khuyến khích trẻ tự làm
trong các hoạt động. Mặt khác, để giúp trẻ dễ dàng tự thực hiện được mong muốn,
nhu cầu tự hoạt động của mình. Chẳng hạn, muốn trẻ lao động tự phục vụ, như tự
cất, lấy đồ dùng đúng nơi quy định, tự đi giày dép, tự mặc quần áo thì tủ đựng
đồ dùng cá nhân, giá treo mũ, giá để giày dép phải có chiều cao phù hợp với trẻ,
tủ được kê ở vị trí bằng phẳng, trắc chắn, an toàn cho trẻ để trẻ tự cất, tự lấy
Xây dựng môi trường tinh thần cho trẻ, để mang lại xúc cảm, tình cảm và
sự tự tin, cảm giác an toàn, thôi thúc trẻ tự hoạt động. Cho trẻ cảm thấy được gần
gũi như nhà của mình. Cụ thể:
+ Quan tâm đến biểu hiện của trẻ, để kịp thời phát hiện những biểu hiện
vui, buồn, những biểu hiện khác lạ, kịp thời động viên, khích lệ trẻ trong khi trẻ
hoạt động.
+ Cho trẻ tự chọn hoạt động, tự chọn trò chơi để chơi. Cô làm cùng trẻ, chơi
cùng trẻ, nghĩ cách nghĩ của trẻ, chơi kiểu chơi của trẻ tạo cho trẻ cảm giác cô
thực sự là một “người bạn nhỏ” của chúng.
+ Khuyến khích trẻ nói lên những cảm xúc, suy nghĩ của mình trong các
hoạt động. Chẳng hạn “Con tự làm việc giúp cô, con thấy thế nào?”, “Con được
tự chơi theo ý mình con thấy thế nào?”, “Con có khó khăn gì khi tự làm
không?” Qua đó, giáo viên nắm được nhu cầu, nguyện vọng, khả năng của trẻ,
để có tác động phù hợp. 9
+ Cùng trẻ lưu lại những kết quả trong các hoạt động, thông qua sản phẩm,
những hình ảnh đáng yêu của cô và trẻ trong các hoạt động. Cuối ngày, cô cùng
trẻ xem lại, trẻ tự xem và nói lên cảm xúc, nhận xét của mình về các sản phẩm
của mình. Cô khen ngợi để tạo động cơ, thúc đẩy nhu cầu hoạt động của trẻ.
+ Cuối chủ đề, kết hợp với các lớp, với phụ huynh, tổ chức sự kiện của lớp
để trưng bày, chia sẻ sản phẩm của mình.
- Môi trường vui chơi ngoài trời, cũng được tôi lựa chọn để giúp trẻ có được
sự tự lập cao:
+ Ví dụ: Khi trẻ đang chơi mà không may bị ngã nhẹ, cô giáo không nên
chạy lại đỡ trẻ ngay, cô nên khuyến khích trẻ, trẻ có thể tự đứng dậy không cần
đợi cô hay cha mẹ tới đỡ, hoặc các bạn khác thấy bạn mình ngã, có thể chạy lại
đỡ bạn lên, đỡ bạn lại chỗ cô.
+ Bên cạnh đó, gia đình cũng phải xây dựng cho trẻ những ý thức tự lập
ngay từ sớm như: Trẻ tự chuẩn bị đồ để đi học trẻ tự đi lấy sữa, trẻ tự mặc quần
áo, mũ, khẩu trang
Cần kiên nhẫn với trẻ, đừng bao giờ có ý nghĩ thấy trẻ làm chậm rồi mình
làm giúp cho nhanh, đó là ý nghĩ và hành động sai lầm. Hãy xây dựng môi trường
thân thiện cho trẻ. Để trẻ vui vẻ chủ động thực hiện.
3. Giải pháp 3: Rèn tính tự lập cho trẻ thông qua các hoạt động.
* Hoạt động 1: Đón trẻ.
Việc giáo dục cho trẻ tính tự lập khi vào lớp là một điều hết sức cần thiết
và quan trọng. Ngay từ đầu năm học, tôi quan sát trẻ từ khi bắt đầu đến cửa lớp,
ở buổi học đầu tiên, tôi sẽ hướng dẫn trẻ cách chào cô, để dép, tự cất, lấy ba lô và
tự xếp ghế vào tổ ngồi. Những bạn đã biết tự làm, cô khen ngợi, nêu gương, để
các bạn khác học tập.
Ví dụ: Trẻ đến cửa lớp, đi đến khu vực để dép, trẻ sẽ để theo tổ, xếp dép
ngay ngắn.
Trẻ chào cô, chào mẹ, chào bạn, sau trẻ sẽ vào lớp và đi đến tủ cá nhân cất
balô và đồ dùng cá nhân vào tủ có kí hiệu riêng của mình. Vào lớp, trẻ tự lấy ghế
về tổ ngồi. Cô và trẻ cùng trò chuyện về những việc trẻ đã làm giúp đỡ ông bà, bố
mẹ khi ở nhà 10
Trẻ tự cất đồ dùng cá nhân khi đến lớp
* Hoạt động 2: Hoạt động có chủ đích.
Cô luôn khuyến khích trẻ tự tin, mạnh dạn, biết hoạt động độc lập và hoàn
thành công việc của mình. Cô giáo là người dẫn dắt trẻ hoạt động, từ đó trẻ nắm
được vai trò nhiệm vụ của mình. Phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, trẻ sẽ chủ
động trong mọi hoạt động, không ỷ lại người khác. Biết tự mình hoàn thành một
bức tranh theo ý tưởng của mình, một bài tập, một vai chơi. Mạnh dạn đưa ý kiến
của mình về sự vật hiện tượng vv
+ Ví dụ 1: Trong hoạt động phát triển thể chất: Như bài tập liên hoàn, trẻ
biết lấy đồ dùng cùng nhau sắp xếp thành một hoạt động liên hoàn để thực hiện.
+ Ví dụ 2: Trong hoạt động KPKH - XH: Chủ đề bản thân: Trò chuyện về
các bộ phận trên cơ thể, cô giáo dục trẻ phải biết giữ gìn vệ sinh cá nhân, biết rửa
tay, lau mặt, thay quần áo vv...
+ Trong giờ tạo hình: Cô luôn hỏi ý định của trẻ: Con sẽ vẽ gì? Vẽ như thế
nào? Và cho trẻ tự hoàn thành ý tưởng của mình.
+ Trong tiết kĩ năng, có rất nhiều đề tài để rèn luyện kĩ năng tự lập cho trẻ,
ở mỗi chủ đề, đều có một nội dung khác nhau: Như kỹ năng nhặt rau, kỹ năng gấp
quần áo, kỹ năng cài cởi cúc áo...
Cô hướng dẫn cho trẻ cách tự lấy và cất đồ dùng học tập đúng nơi quy định,
hình thành thói quen tự phục vụ trong các hoạt động có chủ đích.
Để giáo dục tính tự lập cho trẻ trong các hoạt động có chủ đích, thì vào đầu
năm học, ở tuần ổn định, tôi dạy trẻ nhận biết về ký hiệu riêng của mình, trên các
đồ dùng học tập như: Sách, màu sáp, bút chì, rổ, kéo Những đồ dùng học tập
của trẻ sẽ được sắp xếp theo từng tổ, để trên kệ gọn gàng. Tôi giới thiệu cho trẻ
biết kệ nào để sách, kệ nào để màu và các dụng cụ học tập khác Trẻ sẽ được
dạy vị trí để từng loại đồ dùng khác nhau, cách sắp xếp theo tổ. 11
Vì là trẻ 4-5 tuổi, nên khi được phân công trực nhật, chia sách vở, đồ dùng
cho bạn, trẻ thực hiện rất tốt, biết nhớ lịch trực nhật của các bàn, biết cất đồ dùng
học tập đúng nơi quy định, trẻ rất hứng thú trong công việc được giao.
Trẻ tự phát đồ dùng học tập cho bạn
+ Ví dụ 3: Trong giờ toán: Nhờ sự dẫn dắt của cô, trẻ có thể nói lên ý kiến
của mình, nhận định của mình về nội dung, mục đích yêu cầu. Hay trẻ tự đi lấy
đồ dùng toán, kê bàn, phát sách vở, bút màu... phục vụ cho hoạt động của trẻ trong
giờ học, dưới sự hướng dẫn của cô.
+ Ví dụ 4: Trong hoạt động âm nhạc, chọn nhạc cụ, biết thay trang phục
biểu diễn, biết hát và vận động đúng nhạc.
+ Ví dụ 5: Trong giờ kể chuyện, đọc thơ. Trẻ biết cùng cô sắp xếp đồ dùng,
chuẩn bị tranh, sân khấu và nhập vai các nhân vật. Trẻ biết đọc thơ diễn cảm và
thể hiện tình cảm của mình qua các bài thơ.
* Hoạt động 3: Hoạt động vui chơi.
Chơi là để phát triển các mặt thể chất tinh thần, để phát triển nhân cách một cách
toàn diện, chơi cũng là cách để trẻ rèn luyện và phát huy tính tự lập cho trẻ. Trong
hoạt động vui chơi, trẻ hoàn thành vai chơi, sản phẩm chơi. Trẻ có thể làm chủ trò
chơi, dẫn dắt quá trình chơi, định hướng mục đích chơi và chơi có kết quả. Thông
qua hoạt động vui chơi, trẻ hình thành tính tự lập một cách rõ ràng.
Hoạt động góc ở chủ điểm “Gia đình”. Trẻ chơi trò chơi đóng vai “Gia đình
của bé”. Trẻ biết tự phân vai chơi cho nhau: Một trẻ đóng vai mẹ, một trẻ đóng
vai bố và một trẻ đóng vai con. Giáo dục trẻ phối hợp cùng nhau chơi đoàn kết.
Khi chơi xong, trẻ biết sắp xếp đồ dùng, đồ chơi đúng nơi quy định.
Trước giờ chơi, tôi thường dẫn trẻ đi tham quan một vòng ở các góc, giới
thiệu về các loại đồ chơi, cách sắp xếp bài trí đồ dùng trên kệ Giáo dục trẻ tính
ngăn nắp, gọn gàng. Những ngày đầu, tôi chịu khó hướng dẫn trẻ cách kê dọn bàn
ghế, lấy đồ chơi xuống và chơi. Khi chơi xong, tôi cho trẻ thu dọn gọn gàng từng
góc, sản phẩm của góc thì sẽ được trưng bày trước lớp. 12
Hoạt động vui chơi là hoạt động sẽ cơ bản hình thành được cho trẻ những kỹ năng
tương tác, hỗ trợ người khác thông qua các trò chơi
Trẻ tự sắp xếp đồ chơi và vui chơi ở các góc
Trong hoạt động ngoài trời: Trẻ giúp cô bày đồ dùng ở các nhóm chơi, lau
lá cây ngoài sảnh, sân trường.
* Hoạt động 4: Hoạt động lao động.
Cô xây dựng hệ thống công việc phù hợp với khả năng của trẻ, thường
xuyên phân công và theo dõi trẻ trực nhật, nói rõ vai trò, công việc những trẻ trực
nhật. Người thực hiện nhiệm vụ trực nhật phải chu đáo và có trách nhiệm với việc
được phân công. Tổ chức trực nhật trong giờ học như: sẽ lấy đồ dùng phát cho
các bạn, thu dọn và cất đồ dùng đồ chơi. Rèn cho trẻ thói quen nền nếp, sự cố
gắng, sáng tạo và đề cao tinh thần trách nhiệm của mình với tập thể. Cô thường
xuyên cùng trẻ vệ sinh trong và ngoài lớp học, lau dọn đồ dùng đồ chơi, nhổ cỏ,
nhặt rác quanh lớp học. Khi được giúp cô, trẻ thấy mình được làm việc có ích, từ
đó hình thành cho trẻ một thói quen, nề nếp giữ vệ sinh chung.
* Hoạt động 5: Hoạt động ăn- ngủ- vệ sinh của trẻ.
Cô thường xuyên nhắc nhở và tạo thói quen cho trẻ tự phục vụ bản thân, từ
việc vệ sinh cá nhân trước và sau khi ăn, chuẩn bị chỗ ngủ cho mình khi trên lớp
cũng như ở nhà.
+ Ví dụ: Trước giờ ăn nhắc trẻ rửa tay sạch sẽ. Các bạn trực nhật kê bàn,
sắp đĩa khăn ăn, trẻ tự bưng bát cơm. Ăn xong trẻ cất ghế, cất bát, lau miệng, uống
nước xúc miệng, lau bàn giúp cô... 13
Trẻ tự lao động phục vụ trước giờ ăn trưa tại lớp
+ Giờ ngủ trẻ tự khênh giường, lấy gối, lấy chăn chẩn bị cho giờ ngủ.
+ Trong giờ hoạt động chiều, cô cho trẻ ôn lại kỹ năng rửa tay, lau mặt.
Từ các hoạt động, cô giáo dục trẻ có nề nếp thói quen tốt, biết lấy giữ gìn
vệ sinh cá nhân sạch sẽ và biết cất đồ dùng đúng nơi quy định, giữ gìn đồ dùng
đồ chơi. Sắp xếp đồ dùng đồ chơi đúng nơi quy định, ngăn nắp, gọn gàng.
Biết làm những việc tự phục vụ mình. Rèn cho trẻ một thói quen tốt, tự
lập, không ỷ lại người khác.
Trẻ tự cất giường sau giờ ngủ trưa
4. Giải pháp 4: Giáo viên luôn là tấm gương cho trẻ và rèn tính tự lập ở
mọi lúc mọi nơi. 14
* Làm gương cho trẻ:
Hàng ngày trẻ đến lớp, phần lớn thời gian trong ngày trẻ được sinh hoạt và
học tập cùng cô. Vì vậy, vai trò của cô giáo rất quan trọng trong việc hình thành
những thói quen, nề nếp cho trẻ. Cô là tấm gương cho trẻ noi theo.
Ví dụ: Khi đến lớp cô giáo và các bạn vui vẻ chào nhau, cất gọn gàng giày
dép, túi sách. Khi trẻ đến lớp, thấy cô xếp gọn gàng, trẻ sẽ xếp gọn gàng theo. Sau
mỗi tiết dạy, đồ dùng của cô cất gọn gàng, đúng nơi quy định.
Cô làm gương chào hỏi lễ phép cùng trẻ 15
Trẻ chăm sóc cây xanh trong giờ hoạt động lao động
Từ đó hình thành cho trẻ thói quen, nề nếp giữ vệ sinh chung, không cần
nhắc nhở.
Khi làm, không quên tặng trẻ những câu khen ngợi động viên “Con đã lớn
thật rồi”, “Con rất giỏi” Tạo cho trẻ cảm giác mình đã lớn và đã làm được những
việc có ích.
Cô cùng trẻ vệ sinh lau dọn, sắp xếp đồ dùng, đồ chơi ở các góc chơi.
Cô cùng trẻ nhặt rác, lá cây, nhặt cỏ trên sân trường.
Gia đình làm gương cho trẻ: Gia đình cũng cần làm gương cho trẻ, mọi thứ
ở nhà cũng cần ngăn lắp gọn gàng. Ví dụ: Bố mẹ thay quần áo xong để ngăn lắp
gọn gàng, để trẻ noi theo. Noi gương bạn bè: Ví dụ: “Bạn Tùng hôm nay đã làm
được một việc rất tốt, đó là khi thấy bạn Hạ Băng bị đau tay, bạn ấy đã giúp bạn 16
kê giường cho bạn, lấy đệm gối cho bạn nằm, động viên bạn cố lên, cô rất vui vì
bạn Tùng đã làm được những việc đáng khen như vậy, cô mong rằng các con sẽ
giống như bạn ấy, khi đó không chỉ có cô mà bố mẹ và tất cả mọi người đều khen
ngợi các con đấy”. Cô thấy việc tốt của trẻ nên tuyên dương trước lớp, để cả lớp
làm gương và học tập theo.
* Cô luôn kiên nhẫn, cho trẻ thời gian để hoàn thành nhiệm vụ:
Trước kia là một giáo viên trẻ, mới vào nghề, tôi chưa hiểu rõ tâm sinh lý
của trẻ, tôi thường hay mất kiên nhẫn, hay nóng nảy mắng trẻ, khi thấy trẻ chưa
làm đúng yêu cầu như: Sao con chậm chạp vậy? hay: Cô nói mãi mà con vẫn
không hiểu ư? Khi bị tôi mắng như vậy trẻ rất buồn ngày hôm đó trẻ không hứng
thú tham gia vào vào bất cứ hoạt động gì của lớp, trẻ tự ti, mặc cảm với các bạn,
từ đó tôi hiểu ra rằng, với trẻ nhỏ không nên nóng vội, khi hướng dẫn trẻ làm việc
gì tôi hướng dẫn tỉ mỉ, cẩn thận, thấy trẻ làm được thao tác này rồi tôi mới chuyển
sang hướng dẫn thao tác khác. Tôi luôn tự nhắc với lòng mình hãy kiên trì, hãy
trao cho trẻ cơ hội để trẻ có được thành công, tôi luôn động viên, cổ vũ giúp trẻ
tự tin vào việc mình đang làm.
Các bạn ạ! tùy vào năng lực của từng trẻ, nhanh hay chậm không quan
trọng, mà quan trọng là trẻ học được những gì. Nên mọi hoạt động cần cho trẻ
làm thường xuyên, liên tục, từ đó trở thành kĩ năng của trẻ, đem đến cho trẻ sự tự
lập, tự tin và luôn nghĩ rằng trẻ cũng giỏi như các bạn.
Ví dụ: Trong tiết “tô màu trang phục của bé” lúc đầu trẻ tô chưa đẹp, tôi chấp
nhận trẻ tô nghuệc ngoạc, chờm ra ngoài, tôi bình tĩnh quan sát, để biết trẻ yếu ở
điểm nào rồi uốn nắn, chỉnh sửa cho trẻ, từ đó trẻ tự tin tiến bộ từng ngày.
* Rèn tính tự lập ở mọi lúc mọi nơi:
Muốn hình thành một hành động cho trẻ thì dễ, nhưng việc hình thành thói
quen cho trẻ thì rất khó, người ta nói: Muốn có thói quen thì phải gieo hành động,
chính thói quen sẽ gieo lên tính cách con người. Đó là điều mà mỗi giáo viên và
cha mẹ cần thuộc. Và muốn thói quen hình thành ở trẻ, thì cha mẹ và cô giáo cần:
Rèn luyện cho trẻ nhiều lần, có những biện pháp khen thưởng, khích lệ, động
viên, không ép buộc trẻ.
Ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi việc làm của trẻ, cô kịp thời khen ngợi trẻ.
Ví dụ: Khi các bạn ăn cơm xong, bạn Khang, bạn Tài giúp cô khênh rổ bát
ra cầu thang. Cô thấy vậy liền khen ngợi động viên trẻ trước cả lớp. Như vậy trẻ
thấy mình đã làm được việc có ích, tạo cho trẻ hứng thú trong các việc giúp đỡ
cô, giúp đỡ bạn, giúp đỡ những người xung quanh.
Hàng ngày, thời gian ở với cô rất nhiều, nên cô cần tạo cho trẻ một môi
trường thân thiện, cô vừa là cô, vừa là bạn. Thông qua các hoạt động hàng ngày,
trong tiết học, khi đi dạo ngoài trời, ở mọi lúc, mọi nơi cô luôn luôn động viên
khuyến khích trẻ tích cực tự phục vụ bản thân. Biết giúp đỡ người khác. 17
Giáo viên luôn tạo không khí vui vẻ, thân thiện gần gũi, tạo cảm giác an toàn
cho trẻ. Luôn quan tâm yêu thương trẻ như con của mình nhất là những trẻ nhút
nhát. Dành nhiều thời gian trò chuyện với trẻ để trẻ mạnh dạn tự tin tham gia vào
các hoạt động tập thể.
Không yêu cầu trẻ phục tùng theo ý người lớn ngay lập tức, vì sự phục tùng
một cách thái quá không tạo cho trẻ tính tự lập. Trẻ mất đi sự tự giác của mình.
5. Giải pháp 5: Phối kết hợp với gia đình trong việc rèn tính tự lập.
Gia đình và nhà trường là nhân tố quan trọng trong việc hình thành nhân
cách, tính tự lập cho trẻ. Vì vậy việc giáo dục trẻ phải kết hợp giữa nhà trường và
gia đình và phụ huynh là trợ thủ đắc lực trong việc chăm sóc giáo dục các cháu.
Thông qua buổi họp cô đưa ra các nội dung giáo dục trẻ của năm học.
Tuyên truyền với phụ huynh về sự phát triển tâm sinh lý lứa tuổi của trẻ, nội
quy nề nếp lớp học. Trao đổi thực tế nhận thức và khả năng của từng cháu cho
phụ huynh thấy khả năng của con mình, từ đó tìm ra giải pháp tốt nhất để rèn cho
trẻ có thói quen, nề nếp tốt.
Ví dụ: Trong các giờ đón, trả trẻ, họp phụ huynh cô trao đổi và nắm bắt tình
hình của các cháu ở nhà và từ đó cô có biện pháp với từng trẻ của lớp.
Cô trao đổi với phụ huynh về thời gian của trẻ ở nhà, phụ huynh luôn khuyến
khích trẻ tự phục vụ, không làm hộ trẻ để trẻ không ỷ lại.
Phụ huynh khuyến khích trẻ biết giúp đỡ bố mẹ những công việc vừa sức
của mình như trông em, nhặt rau, quét nhà
Cô thường xuyên trao đổi với phụ huynh để nắm bắt tình hình của trẻ động
viên khuyến khích trẻ kịp thời. 18
Giáo viên trao đổi với phụ huynh
Ví dụ: Khi gấp quần áo mẹ sẽ nhờ bé giúp, bé không biết thì mẹ sẽ làm
mẫu để bé làm theo. Thường xuyên nhờ trẻ làm các việc nhẹ nhàng, từ đó kĩ năng
của trẻ được nâng cao, trẻ sẽ không còn yếu hơn các bạn nữa. Chú ý dạy trẻ càng
sớm càng tốt, không nên sợ trẻ bị đau hay trẻ làm sẽ hư cái này, cái kia.
Một số trẻ được nuông chiều như: Bắt bố mẹ bế từ trên giường xuống khi
ngủ dậy, không bế thì khóc, không lấy đồ dùng và chải răng cho trẻ, thì trẻ sẽ lăn
ra ăn vạ, ăn cơm phải bà đút mới chịu ăn Những thói quen xấu này sẽ ảnh hưởng
xấu đến con bạn, hãy có biện pháp kịp thời. Và trao đổi với cô để cô có biện pháp
tích cực như: Trong giờ nêu gương cô nêu tên những bạn chăm ngoan biết giúp
đỡ bố mẹ biết tự lập để các bạn noi theo.
Gửi bài tập cho trẻ thông qua zalo nhóm lớp, từ đó rèn cho trẻ ý thức cố
gắng hoàn thành nhiệm vụ được giao.
IV. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CỦA SÁNG KIẾN.
Những giải pháp mà bản thân thực hiện điều dựa vào tình hình cơ sở vật
chất, khả năng tiếp thu của các cháu, sự đồng thuận phối hợp cùng phụ huynh.
Sáng kiến này có khả năng áp dụng cho những đơn vị giáo dục mầm non trên địa
bàn thị xã Việt Yên.
V. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN
Sau một thời gian áp dụng các biện pháp thử nghiệm tại lớp 4-5 tuổi A4,
tôi rất vui mừng vì đã đạt được kết quả sau:
* Đối với giáo viên: 19
Qua thời gian thực hiện đề tài bản thân tôi đã biết lập kế hoạch thực hiện
phù hợp với lớp mình, dựa trên mục tiêu của nhà trường. Rèn tính kiên trì.
* Đối với trẻ
Với kinh nghiệm của bản thân và những kiến thức được trang bị trong quá
trình công tác tôi đã áp dụng những biện pháp trên vào quá trình rèn tính tự lập
cho trẻ. Tuy chỉ là những biện pháp từ cá nhân tôi, dựa vào tình hình của trẻ lớp
tôi chủ nhiệm, tôi thấy các cháu lớp tôi có nhiều chuyển biến rõ rệt.
Trên 95% trẻ đã có thói quen lao động tự phục vụ, được rèn luyện kỹ năng
tự lập thông qua các hoạt động thường ngày của trẻ.
Trong các hoạt động trên lớp, trẻ được đóng vai trò là trung tâm, được hoạt
động một cách tích cực, phát huy hết khả năng tự lập của mình.
Trẻ đều được cô giáo và bố mẹ tạo mọi điều kiện khuyến khích và khơi gợi
tính tò mò, phát triển trí tưởng tượng, năng động mạnh dạn tự tin, tự lập, trẻ 4-5
tuổi được rèn luyện khả năng sẵn sàng học tập hiệu quả ngày càng cao.
Sau khi áp dụng các biện pháp tôi đã thu được kết quả như sau:
Trẻ nhanh nhẹn, năng động, tự tin tham gia vào các hoạt động tập thể, hồn
nhiên trong giao tiếp với mọi người xung quanh
Đạt Chưa đạt
Nội dung giáo dục tính Tổng số
Tỉ lệ Tỉ lệ
TT tự lập trẻ Số trẻ Số trẻ
% %
1 - Kỹ năng tự phục vụ
29 29 100% 0 0%
bản thân.
- Kỹ năng giữ gìn vệ
2 29 29 100% 0 0%
sinh.
- Kỹ năng hỗ trợ người
3 29 28 96% 1 4%
khác.
Trẻ có thói quen lao động tự phục vụ, hình thành kỹ năng tự lập. Biết giúp
đỡ những người xung quanh.
Trong các hoạt động ở trên lớp, trẻ được đóng vai trò là trung tâm, được
hoạt động một cách tích cực, phát huy hết khả năng tự lập của mình.
* Đối với phụ huynh:
Các bậc phụ huynh đã nắm được tầm quan trọng của việc giáo dục tính tự lập cho
trẻ. Phụ huynh thấy được con em mình ngày càng mạnh dạn, hoạt bát, nhanh nhẹn,
có tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau. 20
Tôi đã tạo được sự tin tưởng ở phụ huynh, đa số phụ huynh đều nhiệt tình, giúp
đỡ giáo viên trong công việc.
Như vậy sau khi sử dụng các biện pháp rèn tính tự lập cho trẻ mẫu giáo nói
chung và cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi A4 - Trường mầm non Hồng Thái nói riêng,
tôi thấy mức độ đạt được đã tăng lên rõ rệt. Điều đó khẳng định một điều rằng:
Các biện pháp được sử dụng là đúng đắn và đem lại hiệu quả tốt trong quá trình
giáo dục.
PHẦN III: KẾT LUẬN
I. KẾT LUẬN
Tự lập là một đức tính cần thiết đối với mỗi con người, vì vậy nó cần được
rèn luyện thường xuyên, liên tục, để trở thành thói quen không thể thiếu trong
cuộc sống. Nhất là đối với trẻ mầm non, chúng ta cần hình thành và tạo cho trẻ
thói quen tự lập ngay từ khi trẻ đến trường. Điều đó sẽ giúp trẻ có những phẩm
chất tốt đẹp, để trở thành một con người hoàn thiện cả về nhân cách, lẫn tri thức
trong tương lai.
II. KIẾN NGHỊ.
Để “Một số biện pháp rèn tính tự lập cho trẻ mầm non 4-5 tuổi A4 Trường
mầm non Hồng Thái” được nhân rộng và phát triển có hiệu quả tốt nhất. Tôi mạnh dạn
đề xuất một số kiến nghị như sau:
a. Đối với tổ chuyên môn.
Trong những buổi sinh hoạt tổ, cần tạo điều kiện cho các tổ viên trao đổi
nhiều hơn về nội dung: “Rèn tính tự lập cho trẻ”, để chúng tôi được chia sẻ và
cùng nhau tìm ra những biện pháp tốt nhất trong việc rèn tính tự lập cho trẻ.
b. Đối với nhà trường.
Tạo điều kiện cho giáo viên các tổ được cùng nhau trao đổi kinh nghiệm về
các biện pháp rèn tính tự lập cho trẻ.
c. Đối với Phòng Giáo dục và Đào Tạo
Thường xuyên tổ chức các lớp chuyên đề về kỹ năng rèn tính tự lập cho trẻ
để giáo viên trong Thị xã học tập và có cơ hội được giao lưu trao đổi học hỏi kinh
nghiệm với đồng nghiệp ở các trường, tổ chức nhiều lớp tập huấn triển khai sâu
rộng đến các trường mầm non trên địa bàn
Trên đây, là “Một số biện pháp rèn tính tự lập cho trẻ lớp 4-5 tuổi A4
trong Trường mầm non Hồng Thái” tuy nhiên còn nhiều thiếu sót, rất mong
nhận được những ý kiến đóng góp của các cấp lãnh đạo để đề tài của tôi được
hoàn thiện hơn cho những năm học tiếp theo.
Trên đây là sáng kiến của bản thân tôi viết, tôi không sao chép nội dung
hoặc vi phạm bản quyền của người khác
Tôi xin chân thành cảm ơn!
File đính kèm:
bien_phap_ren_tinh_tu_lap_cho_tre_mau_giao_lop_4_5_tuoi_a4_t.docx



