Biện pháp giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ mẫu giáo 3–4 tuổi C5 trường Mầm non Tăng Tiến

docx17 trang | Chia sẻ: Thảo Hoa | Ngày: 03/02/2026 | Lượt xem: 7 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Biện pháp giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ mẫu giáo 3–4 tuổi C5 trường Mầm non Tăng Tiến, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ Như chúng ta đã biết đối với con người sức khỏe là vốn quý nhất, có sức khỏe là có thể làm được tất cả mọi công việc. Nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để có một sức khỏe tốt, ngoài những yếu tố về dinh dưỡng, thể dục thể thao, tinh thần thoải mái, môi trường sống trong sạch thì việc vệ sinh hàng ngày đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Việc giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ giúp trẻ hình thành được thói quen từ nhỏ, vệ sinh cho trẻ là phòng tránh được bệnh tật, tăng cường sức khỏe, giúp trẻ hình thành những kỹ năng sống cơ bản đầu tiên, nhờ có sức khỏe mà giúp trẻ phát triển về đức, trí, thể, mĩ ., Với trẻ mẫu giáo 3- 4 tuổi khi trẻ bước vào ngưỡng cửa trường mầm non (3 tuổi) thì người lớn (bố, mẹ, ông, bà ), cô giáo mầm non bắt đầu giáo dục cho trẻ các thói quen vệ sinh và hành vi văn minh .Tuy nhiên, ở lứa tuổi này, khi thực hiện các thói quen vệ sinh và hành vi văn minh, trẻ còn rất lúng túng về mặt kỹ năng, đồng thời chưa có thái độ tự giác, tích cực trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường học tập, vui chơi và vệ sinh cho bản thân. Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi và xuất phát từ lý do trên với lòng yêu nghề, mến trẻ tâm huyết với sự nghiệp trồng người, tôi đã nghiên cứu và lựa chọn đề tài “Biện pháp giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi C5 trường Mầm non Tăng Tiến ” với mong muốn giúp hình thành nhân cách và phát triển toàn diện cho trẻ, giúp cho trẻ sau này sẽ trở thành những con người có ích cho xã hội, góp phần trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng tổ chức hoạt động giáo vệ sinh cho trẻ 3 – 4 tuổi lớp C5 trường Mầm non Tăng Tiến huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang 1.1. Ưu điểm Trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi là lớp trẻ rất cần có nhu cầu phát triển về tâm lý cũng như trí tuệ. Vì vậy giáo dục thói quen vệ sinh và hành vi văn minh cho trẻ là rấtcần thiết. Trong những năm qua, việc dạy cho trẻ có những thói quen vệ sinh và hành vi văn minh đó được các nhà trường chú trọng, quan tâm và xem đây là một tiêu chí cần đạt được của trường mầm non. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nên hiệu quả thực hiện chưa đạt kết quả khả quan. Năm học 2022- 2023,bản thân tôi được nhà trường giao nhiệm vụ giảng dạy lớp trẻ 3 - 4 C5 tuổi với tổng số cháu là 30 cháu. Trong thời gian nghiên cứu đề tài bản thân tôi gặp một số thuận lợi và khó khăn như sau 1. 1. Ưu điểm Về phía nhà trường: Trường Mầm non Tăng Tiến đã được công nhận là trường chuẩn quốc gia, có phòng lớp rộng rãi khang trang, được trang bị tương đối đầy đủ trang thiết bị và đồ dùng dạy học. Môi trường trong và ngoài lớp học thân thiện, đảm bảo an toàn cho trẻ hoạt động. Được sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường luôn chỉ đạo sát sao với công tác chuyên môn. Luôn có sự đầu tư và bồi dưỡng cho chuyên môn. Nhà trường đã xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục cụ thể trong năm học 2022- 2023. Nhà trường thường xuyên phát động phong trào vệ sinh chung, vệ sinh cá nhân; kiểm tra, đôn đốc, đánh giá thường xuyên và có sự tuyên dương những tập thể, các nhân có hành vi văn minh trong sinh hoạt. Về giáo viên: Giáo viên đều là những giáo viên trẻ, nhiệt tình, tâm huyết với nghề. Với tình yêu nghề mến trẻ, hăng say trong công việc các cô luôn nghiên cứu tìm tòi phương pháp giáo dục để trẻ lĩnh hội được kiến thức một cách tốt nhất, hiệu quả nhất. Giáo viên đều đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn. Về trẻ: 100% các cháu đi học cả ngày, ăn tại trường nên tạo điều kiện thuận lợi cho việc giáo dục những kỹ năng vệ sinh và hành vi văn minh Trẻ được học theo đúng độ tuổi, bước đầu biết phối hợp cùng cô trong các hoạt động. Trẻ ngoan, có nề nếp tốt, khả năng tiếp thu nhanh. Về phụ huynh: Đa số bậc phụ huynh rất quan tâm đến việc học của các con, nhiệt tình ủng hộ các hoạt động học của nhà trường - lớp. 1.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 1.2.1. Giáo viên Giáo viên phải phụ trách các cháu từ sáng sớm cho đến chiều tối nên thời gian khá vất vả, bận rộn. Hình thức lên lớp và phong cách giáo viên còn chưa linh hoạt sáng tạo, chưa thực sự đi sâu tìm hiểu về tâm tư, nguyện vọng của trẻ để tìm cách tháo gỡ. Còn lúng túng trong cách tổ chức và thiết kế các trò chơi cho trẻ được thực hành trải nghiệm. Nguyên nhân: Do giáo viên trẻ vốn kinh nghiệm chưa nhiều, cách tổ chức còn dập khuôn, máy móc. 1.2.2. Trẻ em Đối với trẻ mầm non ở lứa tuổi này trẻ còn yếu, chậm và chưa ý thức được hết hành vi của mình, vì vậy việc giáo dục ý thức vệ sinh cá nhân cho trẻ hoàn toàn phụ thuộc vào cô giáo. Các cháu là con em nông dân nên thời gian và vốn hiểu biết về chăm sóc cho trẻ và giáo dục cho trẻ vệ sinh và hành vi văn minh là rất hạn chế. Trẻ còn nhút nhát, chưa mạnh dạn tham gia vào các hoạt động, thường chơi theo ý thích cá nhân. Nguyên nhân: Nhận thức của trẻ còn chênh lệch nhau. Cùng một độ tuổi nhưng tính tích cực, cách tiếp nhận và mức độ hoạt động của mỗi trẻ khác nhau khiến giáo viên gặp khó khăn trong quá trình định hướng và tổ chức cho trẻ. Dưới đây là bảng đánh giá trẻ trước khi áp dụng biện pháp. 1.2.3. Phụ huynh Công tác phối kết hợp giữa tôi và phụ huynh trong lớp để tổ chức hoạt động trải nghiệm cho trẻ còn gặp một số khó khăn. Nguyên nhân: Do cha mẹ trẻ bận đi làm. Một số phụ còn xem nhẹ vấn đề vệ sinh và giáo dục vệ sinh cho các cháu nên tình trạng nhiều cháu đến lớp chân tay còn bẩn, không đánh răng, không rửa mặt ... 1.2.4. Trường mầm non Do kinh phí của trường hạn hẹp nên việc đầu tư thêm một số trang thiết bị, đồ dùng phục vụ cho trẻ thực hành vệ sinh cho trẻ còn chưa phong phú. Nguyên nhân: CSVC phục vụ cho việc học tập – ăn - ngủ còn hạn chế như: Trang thiết bị, đồ chơi phục vụ cho trẻ, diện tích phòng học, phòng chơi... nên phần nào ảnh hưởng đến môi trường sinh hoạt của các cháu. 2. Biện pháp 2.1. Biện pháp 1: Giáo dục cho trẻ những thói quen về vệ sinh cá nhân thông qua hoạt động có chủ đích 2.2.1. Nội dung biện pháp Giáo viên lồng ghép việc giáo dục những thói quen vệ sinh đó cho trẻ qua bài dạy, qua các câu chuyện kể, qua tranh ảnh minh họa, Giúp trẻ nắm bắt những điều cơ bản về những việc mình phải làm trong trường mầm non để giữ gìn vệ sinh và hình thành hành vi văn minh cho mình. 2.2.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Tôi lồng công tác giáo dục vệ sinh vào các hoạt động có chủ đích trong từng môn học tùy theo từng chủ đề, chú trọng vào các chủ đề bản thân, gia đình Ví dụ: Chủ đề “Bản thân” qua hoạt động có chủ đích: Khám phá khoa học “Tìm hiểu về cơ thể của bé” tôi cho trẻ khám phá và tìm hiểu từng bộ phận trên cơ thể qua đó giáo dục trẻ biết chăm sóc và giữ gìn vệ sinh từng bộ phận trên cơ thể để luôn được khoẻ mạnh ví dụ như + Đôi mắt giúp chúng ta những gì? + Nếu mắt bị bệnh, đau không nhìn thấy thì điều gì sẽ xảy ra? + Muốn cho đôi mắt sáng trong veo, không bị đau, các con phải làm gì? Từ đó không những giúp trẻ tiếp thu bài nhanh mà còn hiểu được và biết cách bảo vệ mắt: Không dụi tay bẩn lên mắt, rửa mặt thường xuyên bằng nước sạch, đi ra đường phải có kính bảo vệ mắt Hình ảnh cô cho trẻ tìm hiểu từng bộ phận trên cơ thể và giáo dục cách chăm soc giữ gìn vệ sinh VD2: Tôi lồng giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ thông qua tiết làm quen văn học tôi kể cho trẻ nghe câu chuyện: “ Gấu con bị sâu răng bị sâu răng”. Bạn Gấu sinh nhật trong bữa tiệc bạn ăn rất nhiều bánh kẹo, đến giờ đi ngủ bạn lại bị đau răng . Sáng hôm sau mẹ bạn đưa đi khám bác sĩ và gấu được bác sĩ dặn dò nên ăn ít keo và phải đánh răng trước khi đi ngủ. Hiểu ra mọi chuyện cô ân cần khuyên nhủ bạn và nhắc cả lớp: “Các con phải đánh răng sau khi ăn xong và trước khi đi ngủ, kẻo lũ sâu đục khoét lấy thức ăn dư bám vào răng, kẽ răng vừa đau nhức lâu ngày sẽ bị sâu răng”..Từ đó tôi giáo dục trẻ biết vệ sinh răng miệng trước khi đi ngủ và sau khi thức dậy và để bảo vệ răng miệng chúng ta không nên ăn nhiều kẹo bánh nhất là vào buổi tối. Hình ảnh cô giáo lồng ghép giáo dục trẻ vệ sinh trong tiết làm quen văn học 2.2.3. Kết quả áp dụng biện pháp Giúp trẻ mạnh dạn tự tin tích cực tham gia các hoạt động vệ sinh từ đó hình thành thói quen vệ sinh và những mối quan hệ tốt đẹp luôn tự tin vào bản thân. Giáo viên luôn yêu thương trẻ mạnh dạn tổ chức và xây dựng được nhiều hoạt động vệ sinh đa dang phong phú. 2.2. Biện pháp 2: Giáo dục vệ sinh thông qua các hoạt động trong ngày 2.2.1. Nội dung biện pháp Giáo viên thường xuyên giáo dục trẻ vệ sinh ở mọi lúc mọi nơi trong giờ học, giờ chơi, các hoạt động vui chơi hay các hoạt động khác.sao cho gây được hứng thú, tích cực ở trẻ. 2.2.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Tôi thường xuyên giáo dục trẻ vệ sinh ở mọi lúc mọi nơi trong giờ học, giờ chơi, các hoạt động vui chơi hay các hoạt động khác. Cụ thể: “ Mỗi buổi sáng, trong giờ đón trẻ tôi trò chuyện với trẻ về công việc khi trẻ thức dậy làm những việc gì phục vụ cho bản thân, trẻ tự làm vệ sinh( đánh răng, rửa mặt..) hay phải có sự giúp đỡ của mẹ. + Các con chải răng như thế nào? Mẹ cho con dùng loại kem có cay không? + Sau khi chải răng xong con thấy miệng thế nào? + Các con có thích chải răng không? Vì sao? + Ở nhà các con có khăn mặt riêng để rửa mặt không? + Con tự rửa mặt hay mẹ lau mặt cho con? + Khi lau mặt xong con thấy thế nào? Có thoải mái, sảng khoái không? Ngoài ra tôi còn cho trẻ nêu lên cảm nhận của mình về việc chải răng, rửa mặt Có thích hay không? Từ đó tôi trò chuyện được với trẻ về tầm quan trọng của việc đánh răng, rửa mặt, vệ sinh cá nhân . -Hay trước giờ ăn, tôi thường xuyên nhắc nhở và cho trẻ rửa tay có sự giám sát của cô. Sau khi trẻ ăn xong uống nước, vệ sinh cá nhân mới vào ngủ. Sau khi ngủ dậy tôi chải đầu , buộc tóc cho trẻ được gọn gàng thoải mái và thường xuyên cắt móng tay cho những trẻ có móng tay dài . Hình ảnh cô chải đầu và cắt móng tay cho trẻ -Hay trước giờ ăn, tôi thường xuyên nhắc nhở và cho trẻ rửa tay có sự giám sát của cô. Sau khi trẻ ăn xong uống nước, vệ sinh cá nhân mới vào ngủ. Hình ảnh cô cho trẻ rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh Trong giờ ăn hàng ngày tôi hướng dẫn để trẻ hình thành một thói quen không làm vãi rơi cơm Hình ảnh giờ ăn của trẻ 2.2.3. Kết quả áp dụng biện pháp Ý thức đối với công tác vệ sinh của trẻ sẽ được tăng lên rất nhiều, hành vi văn minh của trẻ cũng dần được hình thành. Trẻ có được thói quen cho mình để giữ gìn vệ sinh chung và vệ sinh cá nhân. Trẻ hiểu rõ được ích lợi của việc vệ sinh cá nhân. Trẻ tích cực, hứng thú tham gia vào các hoạt động giáo dục. Thông qua các hoạt động trong ngày giúp cho trẻ hình thành thói quen vệ sinh. Nhờ được tham gia và nhắc nhở thường xuyên và nhẹ nhàng như vậy trẻ lớp tôi đã có ý thức tự phục vụ rất tốt và tự giác. 2.3. Biện pháp 3: Giáo viên không ngừng học tập để bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng thực hành thao tác chăm sóc vệ sinh cá nhân cho trẻ 2.3.1. Nội dung biện pháp Giáo viên không ngừng học tập để bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng thực hành thao tác chăm sóc vệ sinh cá nhân cho trẻ. Giáo viên thường xuyên đi chuyên đề về chăm sóc vệ sinh và học hỏi đồng nghiệp về các kĩ năng giúp trẻ giữ gìn vệ sinh cá nhân. 2.3.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Bản thân tôi luôn xác định muốn rèn luyện cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi có thói quen trong việc giữ gìn vệ sinh cá nhân thì việc cần làm đầu tiên là tổ chức bồi dưỡng kiến thức và các bước thực hiện thao tác vệ sinh cá nhân trẻ của mình thật thuần thục. Thấy rõ mục đích yêu cầu và tầm quan trọng của công việc đang làm, nắm vững nội dung giáo dục chăm sóc vệ sinh cho trẻ và nguyên tắc hướng dẫn thực hành các thao tác như: Rửa tay, rửa mặt, chăm sóc răng miệng cho trẻ. Tôi đã tự tìm tòi các tài liệu có liên quan đến chuyên đề vệ sinh để nghiên cứu, sau đó cùng trao đổi với ban giám hiệu và các bạn đồng nghiệp để thực hiện. Công việc này trường tôi thường tiến hành vào đầu tháng 8 khi không bận bịu lắm về công tác chuyên môn. Tôi học lí thuyết và xem lại cách thực hành sau khi đón trẻ tựu trường. Hướng dẫn cách dạy trẻ rửa tay bằng xà phòng, cách rửa mặt đúng theo qui trình, bảo vệ da, môi trường an toàn. Bên cạnh đó tôi đã có những tiết mẫu, có những nội dung dạy trẻ thực hành rửa tay bằng xà phòng, rửa mặt thông qua lô tô vệ sinh và qua thực hành thực tế dưới hình thức hoạt động vui chơi, hoạt động lao động tự phục vụ, giúp cho trẻ ghi nhớ nhanh qua các bài thơ, bài hát Hình ảnh cô giáo dạy trẻ vệ sinh Tạo nề nếp thói quen cho trẻ bằng cách theo dõi, sửa sai thực hiện thường xuyên cho trẻ hàng ngày. Mặt khác tôi sưu tầm thơ, truyện, làm sách tranh có nội dung giáo dục vệ sinh ở góc thư viện đọc cho trẻ nghe, cho trẻ xem để trẻ biết các thao tác khi rửa tay, rửa mặt Nhà trường cấp phát đầy đủ đồ dùng, dụng cụ cá nhân cho trẻ, yêu cầu đồ dùng của trẻ đều phải có kí hiệu riêng và trẻ nhận biết và lấy đúng đồ dùng cá nhân của mình. Vào đầu năm học việc nhận biết kí hiệu cá nhân đối với các cháu 3 – 4 tuổi cả là một vấn đề hết sức khó khăn vì trẻ còn nhỏ, mới đến trường lớp. Cho nên tôi phải thường xuyên quan sát, hướng dẫn trẻ nhận biết và làm quen kí hiệu của mình bằng cách: Tôi phân loại kí hiệu theo tổ, tổ con vật, tổ các loại quả, tổ thì đồ vật. Đồ dùng của trẻ để đúng nơi qui định theo tổ vừa giúp cô dễ nhớ kí hiệu vừa giúp trẻ có thói quen ngay từ đầu. Kí hiệu của trẻ cùng một chủng loại dễ nhận biết từ sổ bé ngoan đến sổ sức khỏe, vở tạo hình, vở toán đến đồ dùng vệ sinh. Các kí hiệu dễ nhận biết, đơn giản. VD: Quả cam, quả chuối, con chim, con mèo, xe đạp, xe ô tô, xe máy Tôi tập cho trẻ nhận biết kí hiệu với nhiều hình thức khác nhau: Khi phát vở cho trẻ tôi hỏi về kí hiệu của vở mình, đồ dùng có kí hiệu gì? Nếu trẻ nhầm tôi nhắc lại cho trẻ nhớ. Qua quá trình tập cho trẻ nhiều lần, lặp đi lặp lại thường xuyên, khi uống nước, khi lấy ly đánh răng, lấy khăn lau mặt Trẻ nhớ kí hiệu của mình và cô cũng nhứ kí hiệu của trẻ. Khi trẻ lấy đúng đồ dùng thì trẻ mới thực hiện đúng vệ sinh, nếu trẻ không nhận biết được đồ dùng các nhân thì nguy cơ lây lan các bệnh về mắt, rang miệng rất nguy hiểm. Hình ảnh cô giáo hướng dẫn trẻ nhận biết và làm quen kí hiệu của mình 2.3.3. Kết quả áp dụng biện pháp Giáo viên tạo cho trẻ niềm hứng thú tham gia hoạt động vệ sinh. Trẻ ý thức và biết được tầm quan trọng của việc rửa tay với xà phòng. Trẻ hình thành thói quen rửa tay và giữ vệ sinh cá nhân sạch sẽ. Giáo viên nhận có thêm kiến thức về tổ chức hoạt động giáo dục vệ sinh cho trẻ. 2.4. Biện pháp 4: Tuyên truyền và phối hợp với phụ huynh 2.4.1. Nội dung của biện pháp Tôi dùng nhiều hình thức tuyên truyền tới phụ huynh những nội dung về tổ chức hoạt động giáo dục vệ sinh cho trẻ, phối hợp với phụ huynh, đồng hành cùng các con, giúp các con phát triển một cách toàn diện.. 2.4.2.Cách thức thực hiện biện pháp - Tuyên truyền trong buổi họp phụ huynh: Như mọi người thường nói: " Nhà trường là ngôi nhà thứ hai, còn gia đình là môi trường đầu tiên của trẻ". Như vậy, gia đình là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình hình thành các thói quen và hành vi của trẻ. Chính vì thế giáo viên, nhà trường phải tạo được cầu nối giữa gia đình - trẻ - nhà trường để cùng nhau giáo dục, rèn luyện và chăm sóc các cháu. Để giúp phụ huynh có nhận thức đóng đắn cũng như có những hiểu biết cơ bản về công tác vệ sinh, thói quen vệ sinh và hành vi văn minh của trẻ, ngay từ buổi họp phụ huynh đầu năm tôi đã mạnh dạn trình bày quan điểm của mình về thực trạng vệ sinh của trẻ. Đưa ra trao đổi một số nội quy, quy định đối với trẻ khi đến lớp. Ví dụ: Trước khi đến lớp, phụ huynh phải rửa tay chân cho trẻ, cho trẻ ăn mặc sạch sẽ, chải và buộc tóc gọn gàng; trời nắng nóng thì cho trẻ mặc đồ thoáng mát; trời lạnh, rét thì cho trẻ mặc ấm kín cổ, đi tất; cho trẻ đeo khẩu trang khi ra đường để phòng chống covid, che bụi và gió những tác nhân có thể gây bệnh về đường hô hấp của trẻ. Mặt khác, để cho trẻ vừa sạch sẽ khi đến lớp, vừa tránh được những bệnh về đường hô hấp, đường ruột, tôi càng thường xuyên nhắc phụ huynh cắt móng tay, móng chân, cắt tóc và tắm rửa, thay áo quần cho trẻ. Có trường hợp do phụ huynh bận công việc, quên chăm sóc trẻ những vấn đề trên, tôi càng nhiệt tình, vỗ về làm giúp các cháu. Riêng ở nhà, tôi cũng khuyên và vận động các bậc phụ huynh cần quy định cho trẻ biết vệ sinh tay bằng nước sạch trước và sau ăn cơm, sau khi đi vệ sinh, thường xuyên nhắc nhỡ trẻ đánh răng trước khi đi ngủ và mỗi sáng thức dậy, hướng dẫn cho trẻ biết gấp chăn, gối, sắp xếp đồ chơi gọn gàng, không để đồ chơi lung túng, không vứt rác bừa bãi. Phụ huynh phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra trẻ thực hiện những công việc đó. Từ đó tạo thành thói quen cho trẻ và các cháu sẽ hình thành cho mình được nếp sống văn minh. -Trao đổi thông tin 2 chiều với phụ huynh: Hàng ngày tôi luôn sẵn sàng tiếp nhận thông tin từ phụ huynh về những lưu ý đối với trẻ sau đó phản hồi tình hình của trẻ trên lớp cho phụ huynh cùng nắm bắt được . Để từ đó tôi có thể nắm bắt được từng đặc điểm riêng của trẻ và có thể quan tâm chăm soc các cháu một cách tốt nhất. - Tuyên truyền trên nhóm zalo của lớp: Tuyên truyền PHHS cho trẻ giữ gìn vệ sinh cá nhân; Tuyên truyền cho PHHS các biện pháp phòng chống dịch tay chân miệng theo khuyến cáo của Bộ y tế cho trẻ, các biện pháp phòng chống bệnh chân tay miệng cho trẻ, Hình ảnh cô giáo trao đổi với phụ huynh trong giờ đón trẻ 2.4.3. Kết quả áp dụng biện pháp Đa số phụ huynh đã nhận thức được tầm quan trọng của việc giúp trẻ hoạt động giáo dục vệ sinh và đã đồng hành giúp con trong mọi hoạt động. Phụ huynh luôn tin tưởng và ủng hộ cô giáo và nhà trường. mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường ngày càng khăng khít, phụ huynh cũng rất ủng hộ các phong trào của nhà và phối hợp tốt với giáo viên trong mọi hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ. Giáo viên có thêm kiến thức về tổ chức các hoạt động giáo dục vệ sinh cho trẻ 3 – 4 tuổi 2.5. Biện pháp 5: Phối hợp với nhân viên y tế trường học 2.4.1. Nội dung của biện pháp Giáo viên phối hợp với nhân viên y tế phổ biến các kỹ năng tự vệ sinh cá nhân cho trẻ. Tuyên truyền về công tác vệ sinh và các dịch bệnh có thể xảy ra nếu trẻ không thực hiện tốt công tác vệ sinh để trẻ phần nào hiểu được tầm quan trọng của nó và tập cho mình những thói quen tốt, những hành vi đẹp trong công tác vệ sinh cũng như trong mọi sinh hoạt thường ngày 2.4.2.Cách thức thực hiện biện pháp Với sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là của Bộ GD&ĐT, các trường mầm non đã được biên chế thêm một nhân viên y tế để theo dõi, chăm sóc sức khoẻ cho trẻ. Nắm bắt được điều kiện thuận lợi trong việc giáo dục vệ sinh và thói quen hành vi văn minh cho trẻ, tôi đã phối hợp với nhân viên y tế phổ biến các kỹ năng tự vệ sinh cá nhân cho trẻ. Tuyên truyền về công tác vệ sinh và các dịch bệnh có thể xảy ra nếu trẻ không thực hiện tốt công tác vệ sinh. Hàng ngày, hàng tuần, nhân viên y tế đều kiểm tra các công trình vệ sinh, các lớp học, khu nhà bếp nhằm đảm bảo trẻ có được một môi trường học tập đảm bảo vệ sinh. Nếu phát hiện lớp học nào, trẻ nào không thực hiện đúng quy định vệ sinh chung thì sẽ bị nhắc nhở và đề nghị với giáo viên phụ trách lớp không phát phiếu bé ngoan vào cuối tuần cho các trẻ bị vi phạm. vNăm học 2022-2023 tôi tham mưu với Ban giám hiệu nhà trường, nhân viên y tế phát tờ rơi, các bức tranh minh họa sự nguy hiểm của các bệnh truyền nhiễm, Covid 19, các bệnh lây qua đường hô hấp, đặc biệt là bệnh chân - tay - miệng để trẻ thấy được sự nguy hiểm từ đó tham gia vào công tác giáo dục vệ sinh đạt hiệu quả cao. Đồng thời qua việc làm này trẻ càng hình thành cho mình bản năng chống lại các loại bệnh đó bằng hành vi, việc làm của chính bản thân trẻ. Hình ảnh cô giáo phối hợp với nhân viên y tế 2.4.3. Kết quả áp dụng biện pháp - Trẻ có đựơc những kiến thức cần thiết trong lĩnh vực phòng tránh một số nguy cơ gây mất an toàn khi tham gia vui chơi ngoài sân trường cũng như trong lớp học. Có ý thức tự bảo vệ bản thân. - Biết giữ gìn vệ sinh thân thể, có thể làm một số việc tự phục vụ bản thân như rửa tay sạch sẽ trước khi ăn cơm và sau khi đi vệ sinh, khi đi vào toilet thì mang dép, không chạy nhảy xô đẩy -Trẻ biết xử lý một số tình hướng đơn giản như gọi sự giúp đỡ khi bị ốm, hay thấy bạn bị thương tích hay đánh nhau thì báo cho giáo viên biết. - Trẻ biết một số đồ vật gây mất an toàn và không sử dụng vào mục đích xấu.. PHẦN C. MINH CHỨNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP Căn cứ vào thông tư 51/2020/TT- BGDĐT ngày 31/12/2020 của Bộ trưởng bộ giáo dục và Đào tạo sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Chương trình Giáo dục mầm non ban hành kèm theo Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2016/TT- BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non mẫu giáo bé (3- 4 tuổi) (Tái bản lần thứ mười hai có chỉnh lí theo thông tư số 51/2020/TT-BGDĐ ngày 31/12/2020 sửa đổi, bổ sung một số nội dung của chương trình Giáo dục mầm non); Kế hoạch số 93/KH-UBND tỉnh Bắc Giang ngày 22/04/2020 về phát triển Giáo dục mầm non giai đoạn 2020 – 2025 ; Quyết định số 1673/QĐ-UBND năm 2021 về kế hoạch thời gian năm học 2021-2022 đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên tỉnh Bắc Giang. Kế hoạch số 62 /KH-MNTT ngày 12/9/2022 về phát triển giáo dục và thực hiện nhiệm vụ năm học 2022- 2023 của trường mầm non Tăng Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Phiếu theo dõi đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi năm học 2022-2023 Qua một năm học áp dụng nội dung yêu cầu và các biện pháp rèn luyện thói quen vệ sinh cá nhân cho trẻ lớp 3-4 tuổi C5, nhìn chung các cháu đã hình thành những thói quen vệ sinh một cách khả quan. Đa số các cháu đã thực hiện được những kỹ năng như: Tự rửa mặt, rửa tay, chải đầu, thay quần áo, sử dụng thành thạo dụng cụ vệ sinh. Bảng theo dõi đánh giá kết quả của trẻ năm học 2022-2023 trước khi chưa áp dụng biện pháp và sau khi áp dụng biện pháp NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ Tổng số KẾT QUẢ trẻ Trước khi chưa áp Sau hi áp dụng biện dụng pháp Số trẻ Tỷ lệ (%) Số trẻ Tỷ lệ (%) Trẻ có thói quen rửa tay, rửa mặt 30 15 50% 30 100% hàng ngày Có thói quen đi vệ sinh đúng nơi quy 30 16 53% 29 97% định Trẻ có thói quen nề nếp rửa tay 30 15 50% 29 97% trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh Trẻ biết rửa tay, rửa mặt theo đúng 30 13 43% 27 90% quy định Biết giữ gìn vê sinh trường lớp 30 14 47% 28 93% PHẦN D. CAM KẾT Tôi cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền, không sử dụng biện pháp đã được đề xuất để xét duyệt thành tích khen thưởng cá nhân trước đó; các biện pháp đã triển khai thực hiện và minh chứng về kết quả, sự tiến bộ của trẻ em là trung thực. Tăng Tiến, ngày 10 tháng 10 năm 2023 GIÁO VIÊN (Ký và ghi rõ họ tên) Hoàng Thị Hằng

File đính kèm:

  • docxbien_phap_giao_duc_ve_sinh_ca_nhan_cho_tre_mau_giao_34_tuoi.docx
Giáo án liên quan