Biện pháp cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 3-4 tuổi vùng dân tộc

pptx29 trang | Chia sẻ: Thảo Hoa | Ngày: 29/01/2026 | Lượt xem: 11 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang mẫu tài liệu Biện pháp cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 3-4 tuổi vùng dân tộc, để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PGD&ĐT HUYỆN SƠN ĐỘNG TRƯỜNG MẦM NON HỮU SẢN BÁO CÁO BIỆN PHÁP DỰ THI GIÁO VIÊN MẦM NON DẠY GIỎI CẤP TỈNH CHU KỲ 2020-2024 Đề tài “Biện pháp cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 3-4 tuổi vùng dân tộc”. Họ và tên: Đoàn Thị Thủy Chức vụ: Giáo viên Đơn vị: Trường Mầm non Hữu Sản PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ Tiếng Việt là ngôn ngữ thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Từ khi trẻ mới bắt đầu học nói thì việc cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ cần được quan tâm, đặc biệt là trẻ vùng dân tộc ngay từ những năm đầu học ở trường mầm non, giáo viên cần cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ. Những năm gần đây người dân Hữu Sản đã hiểu tầm quan trọng cần cho con đi học sớm, tuy nhiên do môi trường ngôn ngữ nói của vùng núi có tỉ lệ người dân tộc thiểu số chiếm 100%. Vì vậy trẻ cũng bị hạn chế rất nhiều trong cách phát âm, cách diễn đạt lời nói, do vốn Tiếng Việt của trẻ còn ít, nên trẻ thường không biểu đạt được ý muốn của mình bằng Tiếng Việt trong những năm đầu đi học mẫu giáo. - 100% là trẻ dân tộc Dao và tày, đa số trẻ chưa học qua nhà trẻ, vốn tiếng việt của trẻ ít. Là một giáo viên người kinh nhưng trực tiếp dạy trẻ dân tộc thiểu số, tôi hiểu việc bất đồng ngôn ngữ sẽ rất khó cho việc dạy học, giao tiếp giữa cô và trò, tôi luôn suy nghĩ để tìm ra các biện pháp để giúp trẻ hiểu và nói được Tiếng Việt một cách trôi chảy, chính xác. Vì vậy tôi đã lựa chọn “Biện pháp cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 3-4 tuổi trường mầm non Hữu sản" PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng 1.1. Ưu điểm - Về phía trẻ: - Về phía giáo viên: + Được Ban giám hiệu nhà trường + Về phía phụ huynh: Đa số trẻ ngoan, đi tạo điều kiện nâng cao lực chuyên - Tuy là vùng sâu, vùng học chuyên cần, trẻ xa xong phụ huynh môn. đều đạt yêu cầu về cũng đã quan tâm và + Phụ huynh hỗ trợ tạo điều kiện thể chất, nhận thức trú trọng và phối hợp cung cấp tiếng dân tộc của trẻ. với giáo viên rèn luyện, đó là một thuận lợi + Dễ dàng và thuận lợi hơn trong cung cấp vốn từ tiếng để tôi cung cấp vốn việc cung cấp vốn Tiếng Việt cho việt cho trẻ Tiếng Việt cho trẻ. trẻ. 1.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 1.2.1. Hạn chế đối với giáo viên: + Quá trình truyền thụ kiến thức bằng tiếng việt cho trẻ gặp nhiều khó khăn đẫn đến hiệu quả chưa cao. + Là do bản thân tôi là giáo viên người dân tộc kinh, nên khi trẻ đến lớp nói chuyện, trao đổi với nhau bằng tiếng dân tộc tày, dao, thì tôi còn chưa hiểu. 1.2.2. Hạn chế đối với trẻ em: - Khi đến lớp trẻ ít khi nói tiếng kinh, một số trẻ nói tiếng kinh chưa được sõi. - Nguyên nhân do trẻ khi ở nhà nói tiếng dân tộc tày và dân tộc dao của trẻ. 1.2.3. Hạn chế của phụ huynh . + Phụ huynh chưa hiểu rõ được tầm quan trọng trong việc cung cấp tiếng nói phổ thông cho con mình. + 100% phụ huynh là người dân tộc chủ yếu giao tiếp bằng tiếng dân tộc, nói tiếng kinh chưa sõi. Một số phụ huynh đi làm công ty xa để con ở nhà cho ông bà, nên sự quan đến trẻ chưa được thường xuyên. 1.2.4. Hạn chế đối với nhà trường. + Chưa có tài liệu liên quan đến các phong tục tập quán, ngôn ngữ của dân tộc dao và tày. + Do chưa có tài liệu chuẩn về các phong tục tập quán, ngôn ngữ của xã Hữu Sản. 1.2.5. Các hạn chế khác + Trẻ phải học qua các video hướng dẫn của các cô gửi qua nhóm zalo nhưng do nhiều trẻ hiếu động, nhận thức khác nhau nên đến khi được đi học trở lại thì vốn từ Tiếng Việt lại bị hạn chế so với học trên lớp. + Do ảnh hưởng của dịch covid 19, có thời gian học sinh mầm non phải nghỉ học ở nhà dài ngày. 2. Biện pháp: "Một số biện pháp cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ 3-4 tuổi vùng dân tộc" 2.1. Biện pháp 1: Tạo hứng thú cho trẻ đi học chuyên cần 2.1.1. Nội dung biện pháp - Huy động phụ huynh đưa trẻ đến lớp đạt chỉ tiêu nhà trường giao 31/31. - Duy trì tỉ lệ trẻ đi học chuyên cần đạt 100%. - Duy trì và ổn định tốt nền nếp học tập và các hoạt động của lớp học. 2.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp - Ngay từ đầu năm học, tôi đã tiến hành điều tra trẻ trong độ tuổi 3 tuổi tại thôn Sản do nhà trường phân công. Kết hợp với Ban quản lý thôn, các hội phụ nữ, y tế thôn bản để vận động tới phụ huynh có con trong độ tuổi 3 tuổi đi học đạt 100%. - Thông qua buổi họp phụ huynh, tôi kết hợp tuyên truyền về tầm quan trọng của việc cho trẻ đi học chuyên cần 100%. - Hàng ngày thông qua giờ đón và trả trẻ tôi chia sẻ với phụ huynh về một số trường hợp trẻ chưa được đi học qua nhà trẻ thì hay quấy khóc và mức độ nhận thức và thực hiện các hoạt động chậm hơn không theo được các bạn trong lớp. Bên cạnh đấy thì cũng có một số trẻ đã học qua lớp nhà trẻ thì mạnh dạn, hoạt động nhanh nhạy và giao tiếp với cô bằng tiếng việt tự tin hơn. - Khi trẻ khóc tôi luôn tạo sự gần gũi và hỏi trẻ như: Vì sao con khóc? Hay sao con không thích đi học?. Nhưng có những trẻ không trả lời được tiếng Kinh mà trả lời bằng tiếng dân tộc thì tôi lại phải nhờ giáo viên cùng lớp biết nói tiếng dân tộc dịch nói giúp tôi. Đến cuối buổi học thời điểm bố mẹ các cháu sắp đến đón cháu về tôi lấy những món đồ chơi mới ra : Vd: Bịch bóng bay, búp bê, đồ chơi, nói với trẻ có thích chơi với những đồ chơi này thì sáng mai các lại đi học để cùng chơi với cô và các bạn nhé. Những việc làm đó tôi luôn thực hiện thường xuyên, và làm thêm đồ dùng đồ chơi lạ mắt để thu hút sự sáng tạo và thích được đến lớp của trẻ. 2.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp: Với biện pháp như vậy kết quả thật đáng ghi nhận là trẻ sau bốn tuần đến lớp đã không khóc nữa, qua trò chuyện với phụ huynh tôi được biết trẻ về nhà không còn sợ phải đến lớp như trước nữa mà cháu thích thú khi bố, mẹ chuẩn bị chở đi học, không còn đòi quà bánh trước khi vào lớp, đến lớp cháu biết chào cô đi cất đồ dùng cá nhân đúng chỗ và vào chơi cùng các bạn một cách hòa đồng 6.1. Biện pháp 5: Điều tra ban đầu 3.1.1. Nội dung biện pháp Thông qua trò chuyện trong quá trình giao tiếp một học kỳ 1 với trẻ phần nào tôi nắm được một số âm, dấu mà trẻ thường nói ngọng, nói chưa rõ và từ đó rút ra kết luận trẻ nói ngọng tương đối nhiều, vốn từ của trẻ bị hạn chế nhất là các chữ cái d, r, l, n, s, x các "dấu ngã" và "dấu sắc", so với cách phát âm của học sinh mẫu giáo. 3.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Các câu hỏi gợi ý, trò chuyện với trẻ để tìm hiểu một nội dung chủ đề nào đó là những lúc tận dụng cơ hội tốt nhất, hiệu quả nhất cho việc cung cấp vốn từ Tiếng Việt, luyện phát âm chuẩn, nói đúng chính tả vì nội dung hầu hết trẻ đã nắm được thông qua hoạt động học, cách này không kéo dài sẽ lãng phí thời gian, tăng cường cho luyện tập một cách thoải mái tự nhiên không bị gò ép. Để làm tăng vốn từ cho trẻ, kĩ năng nói chuẩn và để phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ đạt kết quả cao, giáo viên cần thường xuyên trò chuyện gây hứng thú trong học tập, vui chơi cho các cháu. Từ đó giúp trẻ nắm vững nội dung ngữ âm, nghĩa của từ gắn với lời nói. Tôi so sánh để phân biệt những trường hợp dễ lẫn lộn từ hay câu của các cháu. Ví dụ: Lung linh - nung ninh; Nhún nhẩy - dún dẩy hoặc Trời - giời, Do môi trường ngôn ngữ nói của địa phương trẻ còn bị ngọng dấu thanh, cháu không phân biệt được thế nào là đúng, thế nào là sai vì đặc điểm của trẻ là hay bắt chước và bắt chước rất nhanh do nói nhiều nên đã trở thành thói quen. Ví dụ: Đọc thơ: “Em vẽ” cháu đọc thành “Em vẽ; Em ngã” - “Em ngá” Mặt khác tôi luôn năng động, sáng tạo trong giảng dạy. Lập danh sách những từ trẻ hay nói sai hoặc nói chưa đúng để luyện tập phù hợp với trẻ ở địa phương mình. Cho trẻ đặt câu với những từ dễ mắc lỗi hoặc có thể đưa ra những đoạn thơ, câu đố, cuộc trò chuyện ngắn về gia đình trẻ trong đó có nhiều từ trẻ hay nói sai để trẻ tự mình sửa lỗi, tìm hiểu nguyên nhân nói sai của trẻ và sửa lại cho đúng. Thực tế cho thấy rằng bất đồng ngôn ngữ là rất khó khăn trong giao tiếp, vì vậy tôi tiến hành cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ thông qua mọi lúc mọi nơi. Như chúng ta đã biết khả năng tiếp thu của trẻ dân tộc thiểu số rất chậm, mau quên nhưng khi đã nhớ được thì lại nhớ rất lâu nên tôi tiến hành cho trẻ tiếp xúc với vốn từ Tiếng Việt bằng phương châm "mưa dầm thấm lâu" cho nên việc cung cấp ngôn ngữ Tiếng Việt ở mọi lúc mọi nơi vô cùng hiệu quả. Giờ chơi tự do tôi hay dẫn trẻ đến các góc trò chuyện và phát âm các từ có trong tranh, từ ở mỗi góc tôi dạy trẻ phát âm nhiều lần như vậy trẻ lớp tôi phát âm chuẩn hơn và mạnh dạn hơn trong giao tiếp với cô, với bạn, trẻ biết chỉ cho trẻ chưa biết, hoặc trẻ chủ động mạnh dạn đến hỏi cô, trẻ lớp tôi không còn rụt rè như trước nữa. Ngoài ra trong giờ hoạt động ngoài trời tôi cho trẻ ôn kiến thức đã học qua trò chuyện, đọc thơ, kể chuyện, chơi các trò chơi dân gian, cho trẻ đọc đồng giao, ca dao trong hoạt động này giúp trẻ phát âm thành thạo hơn, lưu loát hơn. Giờ chơi tự do tôi hay dẫn trẻ đến các góc trò chuyện và phát âm các từ có trong tranh, từ ở mỗi góc tôi dạy trẻ phát âm nhiều lần như vậy trẻ lớp tôi phát âm chuẩn hơn và mạnh dạn hơn trong giao tiếp với cô, với bạn, trẻ biết chỉ cho trẻ chưa biết, hoặc trẻ chủ động mạnh dạn đến hỏi cô, trẻ lớp tôi không còn rụt rè như trước nữa. Ngoài ra trong giờ hoạt động ngoài trời tôi cho trẻ ôn kiến thức đã học qua trò chuyện, đọc thơ, kể chuyện, chơi các trò chơi dân gian, cho trẻ đọc đồng giao, ca dao trong hoạt động này giúp trẻ phát âm thành thạo hơn, lưu loát hơn. Giờ vui chơi tôi cho trẻ đóng các vai khác nhau, trẻ được giao lưu trao đổi mua bán và thể hiện hết vai chơi của mình, bên cạnh đó tôi luôn theo sát trẻ để kịp thời sửa sai uốn nắn mỗi khi trẻ hỏi hoặc trả lời không trọng tâm hay trẻ dùng tiếng mẹ đẻ. Chính nhờ vậy mà lớp tôi đa số trẻ biết dùng từ diễn đạt thành câu có ý nghĩa trong giao tiếp với bạn và với cô. 2.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp Sau khi tiến hành điều tra tôi đã thu lại được kết quả như sau: BẢNG ĐIỀU TRA BAN ĐẦU KẾT QUẢ NỘI DUNG Số trẻ Tỷ lệ % Trẻ phát âm sai dấu thanh 25/31 80,6% Trẻ đọc ngọng các từ, âm 27/31 87% Vốn từ Tiếng Việt của trẻ 5/31 16% 4.1. Biện pháp 3: Cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ thông qua hoạt động làm quen với văn học. 3.1.1. Nội dung biện pháp Để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt trong học tập cũng như trong cuộc sống. Tôi nghĩ trước hết cần dạy trẻ những kĩ năng chú ý nghe và phát âm thông qua hoạt động làm quen với văn học là vô cùng cần thiết. 4.1.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Muốn trẻ giao tiếp, tiếp thu được kiến thức cô giáo truyền thụ trước hết thì trẻ phải nghe hiểu được yêu cầu của cô giáo nên việc giúp trẻ học ngôn ngữ và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng việt trong học tập cũng như trong cuộc sống là vấn đề cần thiết. đối với trẻ 3 tuổi môn văn học là môi trường, mà trẻ có cơ hội cho trẻ tiếp xúc với nhiều nhân vật trong thơ, chuyện qua tên các nhân vật trẻ được gọi tên, được đọc, được thể hiện lời thoại và được phát triển ngôn ngữ, với đặc điểm tình hình trẻ lớp tôi phần đông là học sinh người dân tộc thiểu số nên mỗi lúc lên kế hoạch tôi đã chú ý tới việc lựa chọn những bài thơ, câu chuyện không quá dài, nội dung dễ hiểu,nhân vật gần gũi với trẻ vì vốn từ cũng như thời gian tập trung chú ý của các cháu không được như những trẻ người kinh, khi lên tiết tôi luôn tạo tình huống bất ngờ để thu hút trẻ trẻ tập trung chú ý, khơi gợi ở trẻ tính tò mò dể tạo tâm thế cho trẻ trước khi vào học trước lúc vào giờ học tôi trò chuyện dẫn dắt trẻ bằng những câu hỏi gần gũi, thân thiện vào bài một cách nhẹ nhàng không gây áp lực cho trẻ, trong quá trình đọc, kể tôi thường dừng lại trực tiếp ở những câu, từ khó để giải thích cho trẻ hiểu ngay trong quá trình tôi đọc một cách kịp thời, kết hợp tranh, ảnh, đồ dùng trực quan để giải thích là một cách làm tôi thấy rất hiệu quả, ngoài ra tôi không quên phối hợp các động tác minh họa đơn giản phù hợp, và tôi cho trẻ thực hiện động tác minh họa cùng với cô nhằm lôi cuốn, khích lệ trẻ chăm chú lắng nghe, để lĩnh hội từng câu, từng lời của cô mà không bị mệt mỏi, uể oải, có thể nói đó là chất xúc tác, tiếp sức cho các cháu một cách hiệu quả. Vd: Bắt chước giọng của các nhân vật trong câu truyện Ngoài việc cung cấp vốn từ Tiếng Việt cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học trong tiết dạy chính tôi còn tích hợp, lồng ghép trong các hoạt động giáo dục khác như: Hoạt động tạo hình, hoạt động khám phá khoa học, hoạt động giáo dục âm,

File đính kèm:

  • pptxbien_phap_cung_cap_von_tu_tieng_viet_cho_tre_3_4_tuoi_vung_d.pptx
Giáo án liên quan